Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về cấu trúc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ hai, 23 Tháng 10 2017 09:20
130 Lượt xem

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về cấu trúc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

(LLCT) - Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung lớn trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Qua thực tiễn, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng được phát triển, ngày càng hoàn thiện. Song do là một mô hình mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên nhận thức và vận hành vẫn còn những vấn đề chưa tỏ tường, trong đó có cấu trúc của chính nền kinh tế này. Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm tham góp để làm rõ hơn con đường và mô hình phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn.

Nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN được Đại hội XII khái quát nội hàm: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1).

Cấu trúc kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bao hàm 5 phương diện đó là: các thành phần kinh tế, sở hữu, các loại thị trường, cơ chế vận hành, phân phối.

1.Về các thành phần kinh tế

Về số lượng các thành phần kinh tế

Nhất quán khẳng định tính đa thành phần của nền kinh tế, nhưng việc xác định số lượng và thứ tự thành phần kinh tế có những thay đổi. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011) nêu 4 thành phần kinh tế (không có kinh tế tư bản nhà nước)([1]2), thể hiện sự vận động, phát triển nhận thức của Đảng ta trước biến chuyển của thực tiễn.

Đến Đại hội XII, Đảng ta không nêu cụ thể từng thành phần kinh tế, mà khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Đây là cách thể hiện phù hợp với sự vận động linh hoạt của nền kinh tế. Trong đó, Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, thể hiện nhận thức mới về vai trò của thành phần kinh tế tư nhân.

Về định hướng phát triển các thành phần kinh tế chủ yếu

Về kinh tế quốc doanh/ kinh tế nhà nước:

Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: kinh tế quốc doanh - hệ thống các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, giữ vai trò chủ đạo.

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Kinh tế nhà nước(3) giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

Đại hội X đã phân biệt rõ chế độ sở hữu, thành phần kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh; thừa nhận nền kinh tế hỗn hợp có nhiều loại hình sở hữu, hình thức sở hữu khác nhau; nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nghiệp cổ phần, coi chúng là hình thức doanh nghiệp phổ biến(4); thông qua các doanh nghiệp, các tổ chức đại diện cho chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế phát huy vai trò của mình trong nền kinh tế; nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nghiệp, doanh nhân; khẳng định lại vai trò chủ đạo, nền tảng trong chế độ kinh tế XHCN của kinh tế nhà nước, khẳng định các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Đại hội X đặt kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng trong môi trường KTTT đồng bộ, cạnh tranh lành mạnh và hội nhập. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp là: Nhà nước phải chủ động thay đổi những phương thức hành động không phù hợp với KTTT và cam kết quốc tế bằng các phương thức phù hợp và có hiệu quả hơn. Để làm được như vậy, Nhà nước phải có tiềm lực tài chính lớn, có nghĩa là vai trò của kinh tế nhà nước không giảm đi, ngược lại có thể tăng lên; doanh nghiệp nhà nước phải được cải tổ nhanh và chuyển sang các hình thức hoạt động hiệu quả để có thể tồn tại và đem lại cho nhà nước một công cụ định hướng, điều tiết tốt.

Đại hội XII tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Nội hàm khái niệm kinh tế nhà nước cũng được diễn đạt rõ hơn, kinh tế nhà nước gồm nguồn lực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Nguồn lực nhà nước bao gồm tài nguyên, đất đai, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia,... cùng với các công cụ, cơ chế, chính sách được Nhà nước sử dụng để định hướng, điều tiết nền kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận của kinh tế nhà nước.

Để thúc đẩy kinh tế phát triển, Đại hội XII chủ trương: Khuyến khích khởi nghiệp kinh doanh. Có chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH.

Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích. Tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; sớm xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Ủy ban Nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.

Về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Trước đổi mới (1986), kinh tế tư nhân gắn với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là đối tượng của “cải tạo xã hội chủ nghĩa”.

Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta thừa nhận kinh tế tư nhân là một thành phần trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và yêu cầu “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn với các bộ phận của thành phần kinh tế này”.

Đại hội X (2006) xác định “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”.

Đại hội XII (2016) nhấn mạnh “...Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế...”.

Quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của Đại hội XII là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của các kỳ đại hội trước, đồng thời có những nội dung mới. Cụ thể, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đồng thời, để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, Đại hội XII chủ trương: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế; trong đó chú trọng hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp; đồng thời khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Để hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, cần quan tâm tới những khía cạnh sau:

Về lý luận, cần làm rõ vị trí chiến lược của kinh tế tư nhân trong nền KTTT định hướng XHCN.

Do công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện còn những bất cập, hạn chế; mặt khác do sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động nên hiện vẫn còn không ít những biểu hiện băn khoăn, nghi ngại về tính nhất quán của đường lối, chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng.

Hệ thống luật pháp, chính sách chưa hoàn thiện và đồng bộ; thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho doanh nghiệp; mặt khác, các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh tế tư nhân còn thiếu và yếu…

Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân chưa tiếp cận đầy đủ và hiểu rõ về luật pháp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ pháp luật cần: thống nhất nhận thức phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, là bộ phận cơ bản của nền KTTT định hướng XHCN; tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, thật sự khuyến khích phát triển, nhất quán và rõ ràng, được bảo đảm bằng các đạo luật, chính sách cụ thể; phát huy vai trò của các hội, hiệp hội làm chỗ dựa vững chắc và là đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

2. Về sở hữu

Về quan hệ sở hữu

Tất yếu phải phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các đối tượng sở hữu, các loại hình doanh nghiệp ...và quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với xã hội. Đồng thời, tài nguyên, tài sản do Nhà nước đại diện chủ sở hữu phải được giao cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế sử dụng theo nguyên tắc hiệu quả, bình đẳng. Nghĩa là, Nhà nước chỉ là đại diện cho chủ thể sở hữu về mặt pháp lý về các tài sản công, còn quyền sử dụng (có thể hiểu là quyền chiếm hữu thực tế) được giao cho các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế.

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định nền kinh tế “với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối; Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể ngày càng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”(5).

Đại hội XII đề ra phương hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp(6): Thể chế hóa quyền tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt. Bảo đảm quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.

Về chế độ sở hữu

Chế độ sở hữu là vấn đề được đặc biệt quan tâm và nhận thức về chế độ sở hữu đã từng bước được hoàn thiện, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu vận hành đất nước.

Thứ nhất,sự thống trị của chế độ công hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng bản chất của nền KTTT định hướng XHCN.

Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” và nhấn mạnh đây là “yếu tố” quyết định quá trình tổ chức quản lý, sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội, liên quan đến định hướng phát triển, hiệu quả khai thác, sử dụng, quản lý các nguồn lực, tài sản của đất nước…

Đại hội X khẳng định: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”, tiếp đó Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng xác định: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên nền sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp...”(7).

Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, Đại hội XII khái quát về mặt lý luận: “Thể chế hóa quyền tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013”(8).

Thứ hai,  phát triển các hình thức sở hữu hỗn hợp

Cương lĩnh khẳng định: “Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”.

Thực tế nền kinh tế đã xuất hiện hình thức “sở hữu hỗn hợp” hay “hỗn hợp các hình thức sở hữu”, nói đúng hơn là “hỗn hợp các chủ thể sở hữu” trong các tổ chức, đơn vị kinh tế, nhất là công ty cổ phần (công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có vốn nhà nước, công ty cổ phần không có vốn nhà nước, công ty cổ phần có vốn nước ngoài...)

Về vấn đề này, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020nêu rõ, “Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu”(9).

Thứ ba, hoàn thiện thể chế về sở hữu

Kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu tất cả các chủ sở hữu và quyền sở hữu phải được thể chế hóa trên cơ sở “tôn trọng tự do kinh doanh”. Đó là cơ sở để các chủ thể yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh và hưởng lợi chính đáng, nền kinh tế sẽ được tăng cường vốn để phát triển và hạn chế tài sản “cất trữ”, hạn chế “vốn chết”, hoặc những giao dịch tài sản và kinh doanh bất hợp pháp. Thể chế hóa các quyền tài sản sẽ bảo đảm cho việc khai thác, sử dụng chúng hiệu quả.

Các khuynh hướng thể chế hóa đối với sở hữu ở Việt Nam hiện nay là:

- Tiếp tục khẳng định sự tồn tại khách quan và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu; bảo đảm tính công khai, minh bạch về sở hữu; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu; xác định rõ quyền của chủ sở hữu, chủ thể sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình(10).

- Phân định rõ sở hữu tài sản pháp nhân và thể nhân, quyền và trách nhiệm của pháp nhân và thể nhân trong việc thực hiện các quyền sở hữu tài sản.

- Xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu trong các tranh chấp kinh tế, thương mại... Tòa án phải là công cụ có hiệu lực bảo vệ quyền sở hữu khi bị xâm phạm, bên cạnh biện pháp tự bảo vệ của chủ sở hữu. Xây dựng hoàn thiện thể chế (pháp luật) về sở hữu là điều kiện cần, nhưng chưa đủ, điều kiện đủ là bảo đảm việc thực thi pháp luật có hiệu quả. Hành xử theo pháp luật không chỉ là trách nhiệm của các chủ thể kinh tế chịu sự điều chỉnh của pháp luật, mà còn là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.

Đại hội XII của Đảng đã xác định: Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân theo quy định của pháp luật. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt. Bảo đảm quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.

3. Về các loại thị trường

Phát triển đồng bộ các thị trường cơ bản, theo cơ chế cạnh tranh tự do, lành mạnh.

Để phù hợp với thể chế KTTT hiện đại, các loại thị trường: hàng hóa và dịch vụ, sức lao động, tài chính, bất động sản, khoa học và công nghệ... tất yếu phải được hình thành và phát triển.

Tính đồng bộ của thị trường trong nền KTTT bao gồm: đồng bộ về các loại thị trường - có thị trường bán buôn, thị trường bán lẻ, có thị trường thành thị, thị trường nông thôn, thị trường địa phương, thị trường toàn quốc và thị trường quốc tế. Đồng bộ về các điều kiện để xây dựng và phát triển hệ thống thị trường hoàn chỉnh - đó là: (1) xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý, kinh tế để thị trường hoạt động trong một hành lang rõ ràng, minh bạch; (2) đào tạo nguồn nhân lực để tổ chức, quản lý, vận hành thị trường, thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội; (3) hoàn thiện và nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước trong việc tổ chức, quản lý thị trường... Đồng bộ về trình độ phát triển, các thị trường có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thị trường thống nhất, hoàn chỉnh và tương thích về trình độ.

Sự đồng bộ các loại và trình độ phát triển thị trường phải trong trạng thái động. Tức là, không phải tất cả các loại thị trường đều cùng nhất loạt hình thành và phát triển với quy mô, trình độ và phạm vi như nhau. Có thể một loại thị trường nào đó hình thành và phát triển trước, tạo điều kiện cho các thị trường khác phát triển.

Nhà nước không thể “sáng tạo” ra thị trường, mà hệ thống thị trường hình thành và phát triển theo những quy luật của nó. Trước hết, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội và của sự vận động khách quan của cơ chế thị trường. Nhà nước với chức năng kinh tế của mình chỉ có thể tạo tiền đề, điều kiện để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển thị trường và cũng phải thích ứng với thị trường.

Xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố bộ phận của thị trường.

Thị trường nói chung đều phải có các yếu tố hàng hóa, các chủ thể tham gia thị trường (người mua, người bán), cung, cầu, giá cả, cạnh tranh, Nhà nước (môi trường pháp lý, mức độ can thiệp).

Để phát triển thị trường lao động thì phải coi sức lao động là hàng hóa và được tự do trao đổi trên thị trường, các vấn đề về giá cả sức lao động, quan hệ chủ - thợ, lao động làm thuê, vấn đề bóc lột hay không bóc lột, v.v.. cần được xác định rõ. Trong đó, giá cả sức lao động (tiền lương, tiền công) là do thị trường xác định.

Thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ..., là những thị trường cơ bản, nền tảng của nền KTTT. Sự khập khiễng về trình độ và quy mô phát triển, sự thiếu đồng bộ các yếu tố bộ phận của từng loại thị trường cơ bản sẽ tạo ra những cản trở lớn đối với sự phát triển kinh tế.

Để phát triển từng loại thị trường, cần có những giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện của một nền kinh tế có điểm xuất phát thấp và đang trong giai đoạn chuyển đổi. Trong đó, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập các điều kiện môi trường cho các loại thị trường nhanh chóng hình thành và phát triển.

4. Về cơ chế vận hành nền kinh tế

Nền KTTT định hướng XHCN - trên nguyên tắc, chịu sự chi phối và điều tiết của cả những yếu tố thị trường lẫn những tác động của Nhà nước. Tuy nhiên, ở những nấc thang, trình độ phát triển khác nhau mà tác động của hai nhóm nhân tố đó theo những cơ chế, mức độ, liều lượng khác nhau.

Thời kỳ đầu đổi mới - nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi thì cơ chế tác động thích hợp là “Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”- Theo đó, Nhà nước và thị trường cùng tác động vào nền kinh tế với tư cách là 2 chủ thể độc lập; mỗi chủ thể có 1 cơ chế vận hành riêng (cơ chế thị trường và chính sách của Nhà nước).

Khi nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, đã ổn định và có đà cho tăng trưởng ... thì tính thống nhất của nền kinh tế đã yêu cầu Nhà nước và thị trường tồn tại và hoạt động không với tư cách là hai chủ thể độc lập nữa mà chỉ với tư cách là hai bộ phận khác nhau của một nền kinh tế thống nhất, và theo đó chúng đều bị điều tiết, chi phối bởi 01 cơ chế chung, thống nhất - đó là: nền KTTT định hướng XHCN, và guồng máy vận hành tương thích với nó là thể chế KTTT định hướng XHCN. Tư tưởng về mô hình và cơ chế vận hành này đã được nêu ra ở Đại hội IX của Đảng, tiếp tục được quán triệt, cụ thể hóa trong các văn kiện Đại hội IX, X, XI và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).

Đại hội IX mới chỉ nhấn mạnh đổi mới mạnh mẽ công tác kế hoạch hóa, nâng cao tính định hướng và dự báo ... gắn quy hoạch, kế hoạch với thị trường ... Thì đến Đại hội XI đã khẳng định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt ... Nhà nước tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành của kinh tế thị trường”.

Đến Đại hội XII, nền KTTT định hướng XHCN đã được phác họa khá rõ nét, đó là: nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, có hệ thống đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường; các chủ thể thị trường được cạnh tranh tự do theo pháp luật; giá cả được hình thành trên cơ sở cung - cầu và quy luật giá trị; thị trường ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển và là một bộ phận hữu cơ của thị trường thế giới; Nhà nước đóng vai trò phục vụ, tạo khung pháp lý, hỗ trợ và quản lý phát triển nền kinh tế, tôn trọng các nguyên tắc và các quy luật của KTTT. Các nguồn lực của Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và theo cơ chế thị trường.

5. Về phân phối

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) cho rằng cần kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và của KTTT, có nhiều hình thức đan xen, trong đó nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động là chủ yếu, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế; Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung quan điểm quan hệ phân phối phải bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển: “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”(11). Đây là điểm mới và đột phá trong phát triển tư duy kinh tế đuợc thể hiện qua việc khẳng định vai trò của “vốn và các nguồn lực khác” cần được nhìn nhận đúng và được phân phối theo sự đóng góp của nó, cũng như thêm hình thức phân phối mới là hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Muốn vậy, Nhà nước phải có sự can thiệp, điều tiết để bảo đảm có lợi cho người nghèo, vì người nghèo và toàn xã hội, bảo đảm phân bổ các nguồn lực, phân phối lần đầu và phân phối lại theo hướng gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Các nguồn lực xã hội phải được phân bổ theo cơ chế thị trường và theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1), (6), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.102, 274, 20.

(2), (7) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.17, 14.

(3) Kinh tế nhà nước mà hệ thống doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt. Theo cách xác định hiện nay, kinh tế nhà nước gồm 2 bộ phận: 1/ Bộ phận phi doanh nghiệp; 2/ Bộ phận trong doanh nghiệp - gồm, các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước giữ vị trí chi phối.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.

(5), (9), (10), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72, 101, 110, 72.

 

PGS, TS Phạm Thị Túy

Trung tâm Khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác