Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Cơ chế giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú đối với Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp
Thứ hai, 23 Tháng 10 2017 09:24
91 Lượt xem

Cơ chế giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú đối với Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp

(LLCT) - Trước yêu cầu nhiệm vụ đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới công tác xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ mới, công tác giám sát đã được Đảng đề cập, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 6, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX về vị trí, vai trò công tác giám sát và yêu cầu phải thực hiện tốt công tác giám sát trong Đảng và trong toàn hệ thống chính trị; đề cập đến nhiệm vụ giám sát của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. 

Quy định cách thức giám sát cho cấp ủy , cấp ủy viên…“Các đảng viên và chi bộ đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng  và toàn xã hội có trách nhiệm giám sát, kiểm tra cán bộ, công chức, phát hiện, tố cáo, lên án những kẻ tham nhũng”. “Các cấp ủy viên, nhất là cán bộ chủ chốt, có chương trình công tác ở cơ sở, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến và trả lời chất vấn của đảng viên và nhân dân, cấp ủy định kỳ làm việc với ban chấp hành các đoàn thể”(1). Quy định việc giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng, thẩm quyền của các cơ quan đó về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về thực hiện công tác, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan nhà nước.

Đến Đại hội X, Đảng chính thức quy định chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp tại Điều 30, Điều 32 Điều lệ Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội X đề cập rất nhiều đến giám sát trong Đảng, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên.

Việc nhất thể hóa bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp thực chất là việc hợp nhất vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của hai chức danh cho một người đảm nhiệm. Nghĩa là, phải thực hiện vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của Bí thư cấp ủy theo các quy định của Đảng và vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân trên theo quy định của Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và luật tổ chức Hội đồng nhân dân các cấp.

Cơ chế giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú đối với Bí thư cấp ủy đồng thời Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp (xã, phường, thị trấn) gồm:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành các văn bản quy định cơ chế giám sát của tổ chức đảng (Đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy, các ban đảng, chi bộ) đối với Bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dâncùng cấp.

Công tác giám sát của tổ chức đảng đối với Bí thư đảng ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân, phải được tiến hànhtrên cơ sở thực hiện các văn bản, các quy định của Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; các quy chế, nguyên tắc làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, quy chế làm việc trong Đảng; thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của người Bí thư cấp ủy. Thực hiện Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, quy định tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch ủy ban nhân dân; quy chế dân chủ ở cơ sở, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Giám sát của Đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy đối với Bí thư đảng ủy thông qua sinh hoạt thường kỳ của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy, qua hội ý thường trực đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy; thông qua sơ kết, tổng kết công tác đảng, công tác chính quyền, thông qua sinh hoạt chi bộ, phê bình, kiểm điểm đảng viên, phân loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên, thông qua kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người Bí thư đảng ủy, nhiệm vụ của Chủ tịch ủy ban nhân dân, qua tín nhiệm của quần chúng nhân dân... để giám sát Bí thư đảng ủy.

Giám sát của Ủy ban kiểm tra đảng ủy theo quy định của Điều lệ Đảng, theo hướng dẫn của Ủy ban kiểm tra Trung ương, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở. Nội dung giám sát là chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thông qua các quy chế, nguyên tắc làm việc, thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của người Bí thư cấp ủy và tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; việc giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và thực hiện nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú; thực hiện những điều cán bộ, đảng viên không được làm; thực hiện chế độ kê khai, công khai tài sản của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc chấp hành quy chế làm việc của cấp ủy và những nội dung khác do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quy định.

Công tác giámsát của Ủy ban kiểm tra đảng ủytiến hànhtheo 2 cách, đó là giám sát thường xuyên bằng hình thức giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp và giám sát theo chuyên đề. Riêng giám sát theo chuyên đề, hằng năm, qua nắm tình hình, ủy ban kiểm tra xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát cụ thể theo chuyên đề đối với từng tổ chức và đảng viên, thông báo cho đối tượng giám sát biết ngay từ đầu năm về nội dung, đối tượng, thời gian giám sát...; quyết định lập tổ giám sát, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong tổ giám sát thực hiện giám sát theo đúng quy trình, nguyên tắc giám sát.

Các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy phối hợp với ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hằng năm thuộc lĩnh vực phụ trách, sử dụng bộ máy của ban mình hoặc phối hợp với ủy ban kiểm tra cùng cấp để tiến hành công tác giám sát.

Công tác giám sát của chi bộ có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Nội dung giám sát của chi bộ giống như nội dung giám sát của đảng ủy cơ sở; song chi bộ cần tập trung giám sát đảng viên về thực hiện nghị quyết của chi bộ, về thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên, về giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; về thực hiện Quy định 76-QĐ/TW ngày 22-6-2000 của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân. Chi bộ giám sát thông qua sinh hoạt thường kỳ hàng tháng của chi bộ theo quy định của Điều lệ Đảng; giám sát qua phân tích chất lượng đảng viên; qua theo dõi kiểm tra, đôn đốc đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao, qua việc yêu cầu đảng viên báo cáo khi cần thiết và qua nhận xét, đánh giá của các tổ chức đoàn thể và nhân dân, giám sát qua sơ kết, tổng kết các mặt công tác của chi bộ, của các đoàn thể chính trị, xã hội.

Hiện nay, Đảng ta đang chủ trương thực hiện thí điểm Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân, ở những nơi thực hiện thí điểm” nhất thể hóa” hai chức danh này, quy chế làm việc của cấp ủy và quy chế làm việc của ủy ban nhân dân vẫn riêng rẽ, tách biệt nhau. Tức là cùng lúc, một người phải thực hiện hai quy chế làm việc khác nhau nên nhiều khi triển khai công việc còn lúng túng, né tránh hoặc lại lạm quyền, lộng quyền, lẫn lộn giữa hai vai. Cần thống nhất hai quy chế trên đối với những nơi hợp nhất hai chức danh Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp. Cấp ủy cấp trên phải là người lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và ban hành quy chế làm việc này. Trong đó phải nêu rõ những việc, nội dung mà Bí thư cấp ủy thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bắt buộc phải đưa ra bàn trong tập thể cấp ủy hoặc ban thường vụ, thường trực cấp ủy và quyết định theo đa số; những việc, nội dung mà Chủ tịch ủy ban nhân dân thực hiện theo cơ chế thủ trưởng, được quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Song, việc xây dựng cơ chế làm việc này không phải là phép cộng số học của hai quy chế làm việc cũ mà phải đảm bảo tính khoa học, sáng tạo để Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, tạo sự thống nhất, đoàn kết cao trong mọi hoạt động, bảo đảm mọi công việc, thông tin thông suốt, đồng bộ, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa chủ trương lãnh đạo và tổ chức thực hiện, tư tưởng trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm giữa Bí thư cấp ủy và Chủ tịch ủy ban nhân dân.

Giám sát đối với bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân còn thông qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân, các đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân theo chương trình kế hoạch hằng năm theo đúng luật tổ chức hội đồng nhân dân các cấp. Việc giám sát tập trung vào thực thi nhiệm vụ, thẩm quyền, nhiệm vụ của chủ tịch ủy ban nhân dân; những lĩnh vực, những vấn đề nổi cộm như quản lý, sử dụng đất đai, thực hiện các chương trình, dự án quốc gia hoặc của địa phương, đầu tư xây dựng cơ bản, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, quản lý và sử dụng ngân sách, tài sản công, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, tham ô, lãng phí...

Thứ hai, xây dựng và ban hành nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân

Từ năm 2007, Ban Bí thư đã ban hành Quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực tỉnh ủy, thành ủy (Quy định số 51-QĐ/TW, ngày 19-4-2007 và nay là Quy định số 42-QĐ/TW, ngày 3-10-2016). Căn cứ quy định của Ban Bí thư, ban thường vụ cấp ủy cấp trên đã ban hành quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực cấp ủy cấp dưới, trong các quy định này chưa đề cập đến ở những nơi nhất thể hóa hai chức danh mà vẫn quy định nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của từng chức danh. Do vậy, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo ban tổ chức của cấp ủy cấp mình chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan, giúp cấp ủy xây dựng và ban hành quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực cấp ủy cấp dưới, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp.

Ngoài các nội dung chung của tập thể thường trực cấp ủy, Quy định này cần nêu rõ: Nhiệm vụ và quyền hạn của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp. Quan hệ công tác của thường trực cấp ủy khi bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp, trong đó cần cụ thể quan hệ công tác với thường trực cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy; với cấp ủy cùng cấp, cấp trên; ủy ban nhân dân và các ban tham mưu, giúp việc cấp ủy và ủy ban nhân dân cấp trên; với cấp ủy trực thuộc và ủy ban nhân dân cấp dưới; với hội đồng nhân dân cấp trên và cùng cấp; với các ban tham mưu, giúp việc của cấp ủy cấp trên; với các cơ quan ủy ban nhân dân cấp trên.

Cùng với quy chế làm việc, việc xác định nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp là hết sức cần thiết, là cơ sở quan trọng để kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực.

Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến tổ chức bộ máy và cán bộ

Khó khăn đầu tiên khi thực hiện nhất thể hóa, đó là chỉ có một người đứng đầu. Điều đó có nghĩa là, ở những nơi thực hiện “nhất thể hóa”, kiện toàn, sắp xếp sẽ có người từ cấp trưởng xuống cấp phó. Về lý thuyết, không phải trường hợp nào cũng như vậy, song trong thực tế, khi thực hiện nhất thể hóa, vị trí của cấp trưởng cơ quan chuyên môn, ở đây là cơ quan chính quyền thường xuống làm cấp phó. Vấn đề đặt ra là, phải có chế độ, chính sách đối với các trường hợp này. Khi “nhất thể hóa” hai chức danh, mỗi cơ quan đều có một cấp phó thường trực. Khác với cấp phó thường, cấp phó thường trực phải thay mặt thủ trưởng giải quyết các công việc hằng ngày khi người đứng đầu vắng mặt, tức là trách nhiệm cao hơn so với cấp phó thường. Song, hiện nay chưa có quy định nào về chế độ, chính sách đối với đồng chí phó thường trực. Do vậy, cũng cần có chế độ, chính sách đối với phó thường trực và cấp trưởng xuống cấp phó ở những nơi “nhất thể hóa”, vì ở đây là do sắp xếp lại tổ chức. Do vậy, cần có cơ chế, chính sách đối với đội ngũ cán bộ này để họ an tâm công tác và dồn tâm huyết cùng cấp trưởng và tập thể cấp ủy, ủy ban nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình.

Mặt khác, khi “nhất thể hóa” chức danh sẽ có thay đổi, cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ - Công chức, Luật Viên chức, Luật Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cho thống nhất trong tổ chức bộ máy. Trước mắt, cần sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22-10-2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Nghị định số 29/2013/NĐ-CP, ngày 8-4-2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92 nêu trên, vì khi “nhất thể hóa” thì cơ cấu cán bộ sẽ có sự thay đổi và hiện nay số xã và tương đương đã thực hiện thí điểm “nhất thể hóa” tương đối nhiều.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định, quy chế về kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực

Ban hành các quy định, quy chế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, trước hết là quy định về những điều bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp không được làm.

Xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp giữa các tổ chức và cơ quan có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, chú trọng đến đối tượng kiểm tra, giám sát là bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp. Mặt khác, chủ động, tích cực kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên đối với bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới.

Tăng cường hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng và chỉ đạo, hướng dẫn ủy ban kiểm tra cấp dưới tiến hành kiểm tra, giám sát bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp,bởi đây là một trong những đối tượng kiểm tra, giám sát của Đảng, nhưng nhiều khi cấp ủy và ủy ban kiểm tra cùng cấp thường e ngại, né tránh. Do vậy, ủy ban kiểm tra cấp trên phải chủ động, tích cực kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ, chức trách, quyền hạn của đối tượng này để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn khi có biểu hiện lạm quyền, lộng quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo, quản lý và nếu có vi phạm phải kiên quyết xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khi vi phạm vượt quá thẩm quyền xử lý của ủy ban kiểm tra thì phải báo cáo cấp ủy cùng cấp và khi đó cấp ủy phải kịp thời xem xét để xử lý công minh, chính xác, kịp thời.

Mặt khác, ủy ban kiểm tra cấp trên phải tăng cường hướng dẫn cấp ủy, tổ chức và chỉ đạo, hướng dẫn ủy ban kiểm  tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nói chung và kiểm tra, giám sát đối tượng bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới nói riêng, nhất là đối với những vụ việc phức tạp có liên quan đến đối tượng này thì ủy ban kiểm tra cấp trên phải “tiếp sức” cho ủy ban kiểm tra cấp dưới trong quá trình kiểm tra. Đồng thời, ủy ban kiểm tra cấp dưới phải chủ động giám sát thường xuyên, nắm tình hình thực hiện chức trách, quyền hạn của để kịp thời nhắc nhở hoặc báo cáo để quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.

Thứ năm, xây dựng và ban hành cơ chế giám sát của nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị

Cơ chế giám sát của nhân dân trước hết, thông qua giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước.

Nhân dân vừa thực hiện quyền dân chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các cơ quan nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, phản biện xã hội, giám sát các hoạt động của Đảng, của Nhà nước, trong đó có giám sát hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở. Việc mở rộng và phát huy dân chủ phụ thuộc rất lớn vào các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy, có thể nói, họ có vai trò quyết định, cấp càng cao, chức càng lớn thì yêu cầu về sự gương mẫu càng cao.

Như vậy, phải đặc biệt nhấn mạnh việc thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là phát huy quyền và nghĩa vụ của đảng viên tham gia công việc của Đảng, thật thà tự phê bình và phê bình. Mọi đảng viên cũng như mọi tổ chức đảng, mọi cấp ủy từ dưới lên trên đều phải thấy rõ được quyền hạn và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện dân chủ trong Đảng. Các cấp ủy phải thực sự bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên trong mọi công việc của Đảng. Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình, phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật trong Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên có quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và của nhân dân. 

Để thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp, đòi hỏi phải tăng cường dân chủ trong Đảng, phải có cơ chế, quy định cụ thể việc thực hiện và phát huy dân chủ trong Đảng trên cơ sở cụ thể hóa và chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình và tổ chức thực hiện tốt quy chế chất vấn trong Đảng. Khắc phục tình trạng một số nơi sau khi thực hiện “nhất thể hóa” hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, dân chủ hình thức xảy ra. Đồng thời với việc tăng cường dân chủ trong Đảng phải mở rộng dân chủ trong xã hội, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và nhân dân, cơ quan ngôn luận, báo chí và dư luận xã hội trong thực hiện kiểm tra, giám sát đối với bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp. Trong môi trường làm việc bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp đều liên quan đến quần chúng nhân dân. Từ đó thấy rằng, muốn thường xuyên giám sát chặt chẽ được hoạt động của đối tượng này phải dựa vào nhân dân, lấy sự hài lòng của người dân làm một tiêu chí để đánh giá. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để góp phần thường xuyên xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh nói chung và người bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân nói riêng, “...có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những quyết định lớn, tham gia công việc của Đảng”và “Công khai các chế độ, chính sách để cán bộ, đảng viên và nhân dân giám sát, kiểm tra” và “Xây dựng thiết chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí”. Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cũng chỉ rõ “...phát huy vai trò trách nhiệm của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát”. Vì vậy, phải có biện pháp cụ thể, thiết thực mở rộng dân chủ để phát huy vai trò của hệ thống chính trị và nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát đối với bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch. Tổ chức thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nhất là tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nhất là ở khu dân cư.

Các cấp ủy cần phải tổ chức việc tiếp nhân dân thuận tiện bằng nhiều hình thức cả trực tiếp và gián tiếp như tổ chức tiếp xúc đối thoại trực tiếp với  nhân dân thông qua cụm dân cư, tổ dân phố, thông qua sinh hoạt với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội; thông qua tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của nhân dân (kể cả tổ chức đường dây nóng, hộp thư góp ý...) để nhân dân có điều kiện phản ánh tình hình hoạt động, sinh hoạt, thiếu sót, khuyết điểm; phải thực sự tiếp thu, sửa chữa các thiếu sót, khuyết điểm đã được quần chúng nhân dân đóng góp, đồng thời công khai kết quả việc tiếp thu, sửa chữa bằng hình thức thích hợp để quần chúng nhân dân giám sát. Có quy chế, quy định cụ thể để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp ở các cấp tham gia giám sát để góp phần cảnh báo khi có biểu hiện lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực thậm chí độc đoán, chuyên quyền trong lãnh đạo, thực thi quyền lực của Bí thư đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân.

Thứ sáu, thực hiện nghiêm túc việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, đó là “Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Đổi mới chức năng nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xác định rõ mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương. Nghiêm cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ... Cơ bản thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp. Sớm tổng kết mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện”(2).

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.145.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.204.

PGS, TS Trương Thị Thông

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác