Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Sự phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng quan hệ dân tộc ở Việt Nam
Thứ sáu, 22 Tháng 12 2017 11:33
225 Lượt xem

Sự phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng quan hệ dân tộc ở Việt Nam

(LLCT) - Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc luôn có vị trí chiến lược, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng. Xây dựng quan hệ dân tộc trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau”, hướng tới mục tiêu chung: xây dựng khối đoàn kết dân tộc, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

1. Vị trí của vấn đề dân tộc và chủ trương xây dựng quan hệ dân tộc của Đảng

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc luôn có vị trí chiến lược, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng. Xây dựng quan hệ dân tộc trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau”, hướng tới mục tiêu chung: xây dựng khối đoàn kết dân tộc, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta xác định chính sách dân tộc là một bộ phận trong chính sách xã hội. Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Cương lĩnh đều khẳng định, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách của cách mạng Việt Nam. Đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của chính sách đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nước ta trên cơ sở “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển,...”(1).

Với góc nhìn và tư duy mới, vấn đề dân tộc được đặt trong xây dựng quan hệ giữa các dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc, Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội; đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ”(2).

Chính sách dân tộc được gắn với đường lối chính trị, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, với các kế hoạch 5 năm cũng như kế hoạch hằng năm. Bởi lẽ, theo quan điểm của Đảng, “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”. Vì vậy, “Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ trân trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người. Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi”(3).

Luận điểm quan trọng này đã thể hiện rõ mục tiêu, bản chất ưu việt trong chính sách dân tộc của Đảng ta là không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của từng dân tộc; làm cho mỗi dân tộc được phát triển một cách toàn diện và bền vững; đồng thời củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

Để xây dựng quan hệ dân tộc theo những mục tiêu trên đòi hỏi phải thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội miền núi, vùng DTTS, vì vậy, Đảng ta chủ trương: “Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào, trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến”(4).

Cụ thể hóa đường lối Đại hội VI, sự nghiệp đổi mới toàn diện vùng miền núi và vùng các tộc người thiểu số được đánh dấu bằng Nghị quyết số 22- NQ/TW ngày 20-11-1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi”, trong đónhấn mạnh: “Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng”(5)

Tại Đại hội VII (6-1991), Đảng ta khẳng định: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”(6). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) nêu rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ; gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”(7).

Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều, còn chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các tộc người, giữa các vùng, miền, Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc. Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,...”(8).

Đại hội IX tiếp tục khẳng định nhất quán chính sách dân tộc, đồng thời chỉ ra phương hướng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào các tộc người thiểu số. Đảng ta chỉ rõ: “Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các tộc người thiểu số. Động viên và phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”(9).

Nhằm cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đại hội IX, Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (2003) đã ra nghị quyết chuyên đề về vấn đề dân tộc. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế, phân tích những nguyên nhân yếu kém, hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc, Đảng ta đề ra những quan điểm cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu và những giải pháp về công tác dân tộc trong tình hình mới nhằm xây dựng quan hệ dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.Trung ương Đảng cho rằng: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc; Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các tộc người thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số trong sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam; Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các tộc người, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước”(10).

Phát triển những quan điểm về vấn đề dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc của Đảng ta qua các đại hội và Đại hội XI (2011) tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11).

Tổng kết thực tiễn 25 năm đổi mới, từ thực tế vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở nước ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) chủ trương:“Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”(12).

Tại Đại hội XII, trên cơ sở đánh giá kết quả, hạn chế trong cơ chế, chính sách về dân tộc, Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung”(13).

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013 đều khẳng định quan hệ dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Trong 10 năm (từ 2003 đến 2013), Quốc hội đã ban hành 38 luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS. Chính phủ đã xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc với 160 văn bản quy phạm pháp luật gồm: 14 nghị định của Chính phủ, 40 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 27 văn bản phê duyệt đề án; các bộ, ngành ban hành 51 văn bản và 26 thông tư liên tịch(14) nhằm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội vùng đồng bào các tộc người thiểu số, xây dựng quan hệ dân tộc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”.

2. Vận dụng nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong xây dựng quan hệ dân tộc

Nguyên tắc “đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau”(15) trong quan hệ dân tộc của Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng và phát triển cho phù hợp với thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Thứ nhất,“bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ” là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quan hệ giữa các dân tộc, trong chính sách dân tộc của Đảng

Nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết và tôn trọng, giúp đỡ nhau”được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, biện chứng nhằm hướng tới mục tiêu cùng tiến bộ,trong đó “bình đẳng” luôn được đặt ở vị trí hàng đầu như là tiền đề của đoàn kết và tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các tộc người để đi tới mục tiêu chung của cách mạng.

Thực hiện nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ” là đấu tranh chống lại biểu hiện của tư tưởng hẹp hòi, tự ti dân tộc; các dân tộc dù dân số đông người hay ít người đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với đất nước; các tộc người đều tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau trên con đường phát triển, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch.

Tình đoàn kết giữa các tộc người phải được củng cố và phát triển trên cơ sở giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngoài ra, cần bảo đảm sự thống nhất và bình đẳng về các lợi ích thiết thực khác, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần giữa các tộc người ở nước ta.

Củng cố và tăng cường quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đồng bào các dân tộc khác nhau đều có quyền lợi và trách nhiệm như nhau trong làm chủ đất nước, quản lý xã hội, xây dựng thể chế chính trị... Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc hiện nay phải quan tâm nâng cao trình độ phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách và tiến tới khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc.

Tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển. Nguyên tắc này cần phải được thể chế hóa thành các chính sách phát triển vùng miền, phù hợp với lợi thế so sánh của từng vùng lãnh thổ, thông qua hoạt động điều tiết của Nhà nước trong việc đầu tư phát triển, phân bố các nguồn lợi, chế độ ưu tiên về giáo dục và đào tạo, y tế và các phúc lợi xã hội khác đối với đồng bào các tộc người thiểu số, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng đang còn nhiều khó khăn.

Thứ hai, cùng tiến bộ trong quá trình phát triển là đích đi tới, mục tiêu chung của từng cộng đồng tộc người nói riêng và của toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung

Trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động phức tạp như hiện nay, để thực hiện được mục tiêu cùng tiến bộ cần dựa trên sự phát triển bền vững. Đó là mục tiêu phát triển kinh tế phải gắn liền với mục tiêu phát triển con người, lấy con người làm thước đo cho sự phát triển và tiến bộ. Quan niệm cùng tiến bộ là một quan niệm toàn diện, vừa chú trọng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho người dân, đồng thời, phát triển, nâng cao trình độ văn hóa, xã hội, chính trị, tư tưởng, lối sống cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc trên đất nước.

Theo các lý thuyết phát triển hiện nay, phát triển phải được xem xét theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Đảng ta khẳng định phát triển bền vững là nguyên tắc cơ bản của đường lối phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc, Đảng ta đã triển khai nhiều chính sách phù hợp, khoa học cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng các DTTS. Có thể nói, trong hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, ngoài ba nguyên tắc cơ bản bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau, thì nguyên tắc cùng tiến bộ cũng có vai trò quan trọng. Bởi vì, cùng tiến bộ là sự phản ánh sinh động và đầy đủ nhất những kết quả phát triển của đất nước, của thời đại.Hiện nay, không ít vùng đồng bào DTTS ở Việt Nam vẫn còn đang nghèo đói, nhưng đời sống chung của các dân tộc đã có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng tiến bộ. Vì vậy, thực hiện nguyên tắc cùng tiến bộ là nguyên tắc có tính quy luật trong sự phát triển xã hội.

Thứ ba, phải tạo ra được những điều kiện cần thiết cho sự phát triển để cùng tiến bộ

Đây là cách tiếp cận mới thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức và tư duy của Đảng về vấn đề dân tộc và miền núi trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc hiện nay.

Trong thời gian qua, dù có nhiều khó khăn, các chính sách dân tộc của Đảng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho đồng bào các tộc người thiểu số. Tuy nhiên, các chính sách, chương trình, dự án đối với vùng các tộc người thiểu số thời gian qua đã tập trung nhiều vào tính xã hội, tính nhân văn. Điều này là rất cần thiết, nhưng trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh đề cao tính xã hội, tính nhân văn cần phải chú trọng hiệu quả kinh tế và bền vững trong đầu tư. Việc đầu tư cho vùng DTTS hiện nay cần phải quán triệt quan điểm “cho đồng bào cần câu để đồng bào tự câu cá”. Đây cũng chính là một cách nhìn nhận mới về nguyên tắc “đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ và cùng nhau phát triển” trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.

Thứ tư, đào tạo đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức là người DTTS là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

Đội ngũ cán bộ, trí thức là người DTTS đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá tri thức khoa học - công nghệ, phổ biến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới đồng bào DTTS, đồng thời tổ chức, thực hiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DTTS. Vì vậy, cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc. Đó là sự thể hiện quyền bình đẳng trên thực tế của các dân tộc.

Thứ năm, tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các DTTS, đồng thời, ngăn chặn và đẩy lùi mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để phát triển đạo trái phép trong vùng đồng bào các dân tộc, phá hoại khối đoàn kết dân tộc

Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu khách quan, không thể thiếu của đồng bào các dân tộc, vì vậy, cần có chính sách phù hợp giải quyết vấn đề này. Một mặt, cần tôn trọng nhu cầu tôn giáo của bà con các tộc người, mặt khác, đấu tranh với những hoạt động truyền đạo trái phép, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá vỡ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế, vùng các tộc người thiểu số miền núi, biên giới như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là địa bàn giao lưu trong phát triển kinh tế - xã hội, các lực lượng phản động thường lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để chia rẽ, chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân ta. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tăng cường tuyên truyền, vận động để đồng bảo nhận thức rõ âm mưu thâm độc của thế lực thù địch.

Chính sách dân tộc nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS, thực hiện đoàn kết dân tộc là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện quan điểm chính trị của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc. Đó là một hệ thống giải pháp lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị của cộng đồng nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các tộc người, phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi tộc người, làm cho các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển. Việc quan tâm đến sự phát triển của từng tộc người, nhóm người và con người cụ thể thể hiện bản chất nhân đạo, nhân văn hướng tới mục tiêu: Tất cả vì con nguời, cho con người trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển trong giải quyết mối quan hệ dân tộc của Đảng đã đoàn kết các dân tộc củng cố tính thống nhất của cộng đồng quốc gia Việt Nam, nhằm tạo nên sức mạnh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2017

(1), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.164, 164.

(2), (3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.97-98, 98, 97.

(5) Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định số 72/HĐBT, ngày 13-3-1990Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội, 1990.

(6)ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.16.

(7)ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.16.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.125-126.

(9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.127.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.30-35.

(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.51, 81.

(14) Ủy ban Dân tộc: “Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc”, năm 2013. Dẫn lại: Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.495,496.

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.155-156, 249-250.

 

PGS, TS Trương Minh Dục

Học viện Chính trị Khu vực III

Các bài viết khác