Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo góp phần kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam
Thứ ba, 27 Tháng 3 2018 17:56
256 Lượt xem

Thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo góp phần kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam

(LLCT) - Pháp luật KNTC là công cụ pháp lý quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của nhà nước, của xã hội và của người khác khi bị xâm phạm. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), các ngành, các cấp và nhân dân cần phát huy vai trò thực hiện pháp luật KNTC nhằm góp phần kiểm soát chặt chẽ quyền hành pháp, qua đó đẩy lùi các tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, thiếu trách nhiệm trong quá trình thực hiện quyền hành pháp của cơ quan công quyền.

1. Mối quan hệ giữa thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo với kiểm soát quyền hành pháp

Quyền hành pháp là một trong ba nhánh của quyền lực nhà nước với mục đích thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước theo pháp luật. Đây là quyền sử dụng quyền lực nhà nước để thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội theo khuôn khổ pháp luật đã quy định. Để thực thi quyền hạn của mình, cơ quan hành pháp ban hành các văn bản dưới luật, các quyết định hành chính và tiến hành thực hiện các hành vi hành chính. Điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Trên thực tế, nhiều nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước đều được thực hiện thông qua cơ quan hành pháp. Cơ quan này thực hiện chức năng triển khai chính sách và pháp luật trong thực tiễn, tổ chức và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội, do đó, cơ quan hành pháp là nơi giải quyết các công việc của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ này, cơ quan hành pháp được nhà nước tập trung lớn nguồn lực của nhà nước và xã hội với bộ máy đồ sộ và là nơi được nhận nhiều quyền hạn từ giai cấp cầm quyền. Chính vì lý do đó, những người sử dụng quyền hành pháp để thực thi công vụ thường dễ bị quyền lực “tha hóa” nếu không được kiểm soát hiệu quả, mà biểu hiện của nó là hiện tượng tiếm quyền, lạm quyền, lộng quyền. Đây là nguyên nhân căn bản của các nạn tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, hách dịch của cơ quan hành pháp mà các nhà nước luôn phải đối mặt. Cho nên, trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, quyền hành pháp phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Kiểm soát quyền hành pháp được thực hiện bằng nhiều chủ thể và phương thức khác nhau, trong đó có hoạt động KNTC của các cá nhân, tổ chức đối với các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính.

KNTC hay còn gọi tắt là khiếu tố là những thuật ngữ pháp lý vừa chỉ quyền, vừachỉ hành vi của cá nhân(1). Khiếu tố là quyền vì nó không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong Luật KNTC. Hơn nữa, nó còn yêu cầu được thực hiện bởi thủ tục và trình tự cụ thể - thủ tục hành chính. Ngoài ra, khiếu tố còn là quyền vì nó được pháp luật chỉ rõ nghĩa vụ của cơ quan nhà nước phải xem xét và giải quyết KNTC trong thời hạn mà pháp luật đã quy định, cũng như sửa chữa, thu hồi, khắc phục những quyết định quản lý không hợp lý, trái pháp luật. Bên cạnh đó, khiếu tố còn là hành vi vì khi có căn cứ cho rằng quyết định quản lý nhà nước hoặc hành vi quản lý của cơ quan nhà nước trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình, thì cá nhân đó có quyền đi khiếu nại đối với cơ quan, cá nhân ban hành quyết định, hành vi đó hoặc đi tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về quyết định hoặc hành vi sai trái gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân.

Quyền KNTC của công dân chiếm vị trí quan trọng trong các quyền của công dân vì đây là “quyền để bảo vệ quyền” khi các quyền khác bị xâm phạm thì công dân dùng quyền KNTC để bảo vệ. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm thì pháp luật KNTC phải là “vũ khí sắc bén” để công dân đấu tranh đòi công lý, khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm, pháp luật KNTC phải xuất phát từ con người vì con người.

Trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện những hành vi hành chính để thực hiện chức năng, nhiệm vụ không tránh khỏi việc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó quyền KNTC của công dân phải được nhà nước cụ thể hóa toàn diện,đồng bộ bằng hệ thống các quy phạm pháp luật KNTC trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để công dân thực hiện quyền KNTC của mình.

Trong quá trình kiểm soát quyền hành pháp, việc thực hiện quyền chủ thể theo pháp luật KNTC có ý nghĩa rất quan trọng, đó là:

Một là, KNTClà quyền của công dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân đượcHiến pháp và các văn bản pháp luật khác ghi nhận, trong khi đó mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Do vậy, KNTC chính là việc công dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia vào giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp. Ngược lại, hoạt động kiểm soát hành pháp cũng tạo ra môi trường tốt cho công dân thực hiện quyền hiến định của mình, từ đó bảo đảm tốt quyền lợi của công dân.

Hai là, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành pháp được tiến hành xuất phát từ nhu cầu quản lý xã hội, từ lợi ích của nhân dân, nhằm làm cho đời sống xã hội được ổn định, quyền lợi của công dân được bảo đảm. Tuy nhiên trong thực tiễn, do nguyên nhân khách quan và chủ quan, quyền lợi chính đáng của công dân, của nhà nước và của xã hội có thể bị cơ quan hành pháp xâm phạm, do vậy, để bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của công dân, của nhà nước và xã hội, cá nhân, tổ chức tất yếu phải thực hiện quyền KNTC. Thông qua hoạt động này, cơ quan hành pháp phải điều chỉnh hoạt động của mình để thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

Ba là, trong thực tế hoạt động KNTC càng diễn biến phức tạp, càng nhiều bao nhiêu, thì đòi hỏi hoạt động quản lý hành chính nhà nước cần được đổi mới linh hoạt bấy nhiêu để kịp thời kiểm soát, điều chỉnh vấn đề này, nhanh chóng giải quyết để không xảy ra tình trạng bất ổn định trong xã hội, để bảo đảm tốt quyền lợi của các chủ thể. Nói cách khác, KNTC có sự chi phối không nhỏ đến hoạt động quản lý nhà nước và ngược lại.

Bốn là, giải quyết KNTC là nhiệm vụ của những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, trong khi đó hoạt động kiểm soát quyền hành pháp cũng là mặt chủ yếu trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan hành pháp. Như vậy, nếu tiến hành giải quyết tốt KNTC thì sẽ phát huy vai trò thúc đẩy hoạt động kiểm soát quyền hành pháp phù hợp với nhu cầu của xã hội hơn, ngược lại, nếu công tác giải quyết KNTC không được quan tâm, giải quyết triệt để thì hậu quả kéo theo đó là hoạt động kiểm soát quyền hành pháp sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực tế, điều này dẫn đến sự xung đột về lợi ích, tham nhũng gia tăng, bất ổn về kinh tế - xã hội ngày một trầm trọng.

Năm là, hoạt động kiểm soát quyền hành pháp thực chất là hoạt động nhằm bảo đảm quyền hành pháp được thực hiện đúng đắn, đầy đủ, có hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn. Do vậy, việc giải quyết KNTC, một mặt, thể hiện được hoạt động kiểm tra, giám sát của công dân đối với cơ quan hành pháp trong việc làm đúng những quy định mà các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã đặt ra được các cơ quan hành pháp áp dụng vào hoạt động giải quyết KNTC; mặt khác, công tác giải quyết KNTC còn thể hiện được tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Khi giải quyết KNTC thì các cơ quan có thẩm quyền trong quản lý nhà nước đã trực tiếp tác động lên các hành vi bị KNTC, đồng thời cũng làm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể KNTC. Bên cạnh đó, công tác giải quyết KNTC cũng bảo đảm được sự tồn tại và ổn định của hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Bởi lẽ: nếu hoạt động chấp hành được sử dụng khi giải quyết KNTC không được tuân thủ một cách nghiêm minh thì sẽ vi phạm những quy định của văn bản pháp luật mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Điều này dẫn đến việc những người trực tiếp tiến hành công tác giải quyết KNTC sẽ bị xử lý theo pháp luật, nhằm trả lại công minh cho hoạt động hành pháp. Hơn nữa, nếu hoạt động điều hành không được tiến hành theo đúng thủ tục luật định thì khi giải quyết KNTC sẽ không bảo đảm được các quyền lợi của các chủ thể liên quan, một khi các quyền lợi đó, nhất là của người KNTC không được bảo đảm thì chính những người có thẩm quyền tiến hành công tác giải quyết KNTC cũng sẽ bị xử lý theo pháp luật vì đã không tiến hành đúng trình tự, thủ tục giải quyết mà pháp luật đã quy định.

2. Tình hình thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo góp phần kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam

Kể từ khi Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011có hiệu lực cho đến nay (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2012), KNTC và giải quyết KNTC đã từng bước được cải thiện, giải tỏa nhiều bức xúc của công dân, tổ chức, hạn chế dần sự tùy tiện trong thực hiện quyền hành pháp của cơ quan hành pháp, của cán bộ, công chức (Biểu đồ 1). Những tiêu cực từ sự “tha hóa” bởi quyền hành pháp như tham nhũng, lãng phí đã được phát hiện và xử lý. Chỉ tính riêng năm 2015, các cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết 32.817/40.511 vụ việc KNTC thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ trên 81%(2). Qua giải quyết KNTC đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 27,1 tỷ đồng, 44,7 ha đất; trả lại cho tập thể, công dân 108,1 tỷ đồng, 14,9 ha đất; bảo vệ quyền lợi cho 2.504 người; kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 444 (đã xử lý 278 người), chuyển cơ quan điều tra 10 vụ (Bảng 1).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình KNTC hiện nay diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng với nhiều vụ, việc diễn ra gay gắt, kéo dài, đông người đi khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Đã xuất hiện KNTC có tổ chức hoặc do nhiều người cùng liên kết, gây sức ép đối với các cơ quan nhà nước. Có trường hợp khiếu nại không đúng, tố cáo sai sự thật, cá biệt có trường hợp người khiếu nại, tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng, hành hung người thi hành công vụ.

Bên cạnh đó, một số nơi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn bị buông lỏng, không được quan tâm đúng mức. Dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo xử lý chậm trễ, không kịp thời, thiếu khách quan, dẫn đến việc thi hành pháp luật không nghiêm, làm giảm hiệu lực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, làm giảm niềm tin trong nhân dân. Số lượng vụ việc khiếu nại tồn động kéo dài, hồ sơ cần xử lý quá hạn luật định có xu hướng gia tăng. Nhiều ngành, nhiều cấp thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên của các cơ quan cấp trên nhắc nhở giải quyết hoặc xử lý các vụ việc, điều đó dẫn đến tỷ lệ giải quyết các vụ việc KNTC trong những năm gần đây có chiều hướng giảm (Biểu đồ 2). Dẫn đến việc người khiếu nại, tố cáo tiếp tục gửi đơn đến nhiều cấp, hoặc chuyển sang tố cáo chính quyền bao che vi phạm, làm cho tính chất vụ việc càng trở nên phức tạp.

Thêm vào đó, nhiều quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật của cơ quan nhà nước không được tôn trọng, không được thực hiện nghiêm chỉnh, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân không được đảm bảo, kỷ cương phép nước không nghiêm. Việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, kém hiệu lực, hiệu quả. Vẫn còn nhiều quyết định chậm thực hiện, giải quyết không dứt điểm dẫn đến khiếu nại kéo dài nhiều năm, nhiều cấp giải quyết nhưng vẫn chưa được giải quyết dứt điểm(3). Ngoài ra,sự tham gia của các luật sư, các hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở chưa nhiều và chưa phát huy hiệu quả. Cá biệt có những trường hợp đã có sự lợi dụng kích động, xúi giục, lôi kéo hoặc tư vấn, vận động không đúng chính sách pháp luật, làm cho công dân kỳ vọng vào kết quả giải quyết khiếu kiện, làm tình hình phức tạp hơn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của họ(4).

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho người KNTC

Để việc phối hợp bảo vệ người tố cáo được tốt cần có những quy định, hướng dẫn cụ thể,như trong trường hợp nào thì người giải quyết tố cáo sẽ chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an cấp nào; thời hạn bao lâu thì cơ quan, cá nhân được yêu cầu phải tiến hành thực hiện các biện pháp bảo vệ; và chế tài hoặc hình thức xử lý các trường hợp không chấp hành hoặc chấp hành không triệt để, không kịp thời dẫn đến hậu quả không bảo vệ được người tố cáo theo yêu cầu. Ngoài ra, việc bảo vệ người tố cáo cũng phải gắn với việc bảo vệ những người cung cấp thông tin, hỗ trợ người tố cáo, người nắm giữ các thông tin, tài liệu quan trọng làm chứng cứ cho nội dung tố cáo.

Luật Tố cáo cần quy định cụ thể cơ chế bảo vệ người tố cáo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay. Bảo vệ người tố cáo cần được thực hiện thông qua một cơ chế hoạt động cụ thể của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giúp cho người tố cáo không bị mua chuộc, khống chế, bị đe dọa, trả thù để họ có thái độ hợp tác tích cực, khai báo khách quan, trung thực và chính xác với cơ quan, người có thẩm quyền. Các hoạt động đó phải dựa trên cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc và khả thi. Mục đích của chế định là quy định rõ thủ tục tiến hành, quyền và trách nhiệm cụ thể, rõ ràng của các chủ thể tham gia trong thực hiện bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người tố cáo và các quyền, lợi ích vật chất, tinh thần khác cho người tố cáo. Chế định bảo vệ người tố cáo xác định rõ các nội dung sau:

Trước hết, khẳng định dứt khoát phải bảo vệ người tố cáo dù họ có yêu cầu hay không để đề phòng sự chủ quan, sơ suất hoặc đổ lỗi cho nhau của cả người tố cáo và cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo.

Trách nhiệm bảo vệ người tố cáo thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là những cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo, chính quyền và công an các cấp, có thể cả tổ chức công đoàn các cấp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cũng như trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ người tố cáo. Để bảo vệ người tố cáo, có trường hợp phải sử dụng lực lượng phối hợp của nhiều ngành, nhiều tổ chức, thậm chí cả những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn.

Đối tượng bảo vệ bao gồm: người tố cáo - kể cả những người cung cấp thông tin, tài liệu khác, góp phần giải quyết vụ việc tố cáo; người thân thích của những người này.

Phạm vi áp dụng biện pháp bảo vệ là khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người được bảo vệ có nguy cơ bị người vi phạm hoặc thân nhân của họ tấn công hoặc xâm hại và việc áp dụng các biện pháp bảo vệ được thực hiện trong suốt thời gian mà nguy cơ đó là thực tế. Nguy cơ tấn công, xâm hại được hiểu là có thể đã có sự tấn công hoặc xâm hại trên thực tế; hoặc tuy mới chỉ là sự đe dọa tấn công hoặc xâm hại, nhưng mức độ nguy hiểm là đáng kể, cần có biện pháp bảo vệ kịp thời để bảo đảm an toàn cho người được bảo vệ.

Phải quy định lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bảo vệ, làm cơ sở cho việc tổ chức công tác bảo vệ và quyết toán ngân sách.

Các biện pháp cụ thể để bảo vệ người tố cáo bao gồm: biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp kỹ thuật. Pháp luật cần quy định cụ thể một số biện pháp đặc biệt khẩn cấp tạm thời để áp dụng trong trường hợp cần thiết.

Trong trường hợp nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không bảo vệ được người đi tố cáo mà bản thân họ bị thiệt hại thì Nhà nước nên có chính sách đối với họ nhằm bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, phải có chế tài đối với hành vi trả thù, trù dập người tố cáo, trong đó cần lưu ý hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý hình sự đối với những người có hành vi này.

Song song với các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, cần tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn đấu tranh để bảo vệ quyền lao động của các đoàn viên; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, các tổ chức xã hội... Một xã hội dân chủ mạnh là nhân tố vô cùng cần thiết để bảo vệ người tố cáo.

Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật về công khai, minh bạch trong giải quyết KNTC

Công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết KNTC là công khai, minh bạch quy định liên quan tới thẩm quyền giải quyết khiếu nại; việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại bao gồm các khâu: xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người giải quyết khiếu nại. Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương; giám đốc sở và cấp tương đương; chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ).

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong giải quyết KNTC

Nghiên cứu mở rộng quyền khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức theo hướng người khiếu nại được quyền khiếu nại các văn bản dưới luật gây thiệt hại.

 Hiện nay, pháp luật chỉ quy định đối tượng khiếu nại yêu cầu bồi thường là quyết định hành chính cá biệt, còn vấn đề bồi thường khi công chức nhà nước hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật có sai trái gây thiệt hại cho cả xã hội còn bỏ ngỏ. (1)những sai trái này gây thiệt hại cho cả cộng đồng, không chỉ cho những cá nhân hay tổ chức cụ thể; (2)những thiệt hại do sai lầm về hoạch định chính sách, về xây dựng pháp luật gây ra thường quá lớn, nhiều khi không thể xác định được, nên việc bồi thường trên thực tế là không có tính khả thi. Trong trường hợp này trách nhiệm của các cơ quan, công chức làm sai chỉ dừng lại là họ sẽ bị thay thế bằng những công chức mới, bị cách chức.

Tăng cường năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ thanh tra trong xác định yêu cầu bồi thường thiệt hại khi giải quyết khiếu nại hành chính.

Đối với đội ngũ cán bộ thanh tra, do được pháp luật giao cho những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rất riêng nên phải có những tiêu chuẩn đặc thù phù hợp với công việc thanh tra giải quyết khiếu nại hành chính.

Hoàn thiện và thực hiện tốt pháp luật KNTC trong kiểm soát quyền hành pháp sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy lùi các tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, v.v.. đáp ứng yêu cầu phát huy dân chủ XHCN và xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2017

(1) Hoàng Văn Sao: “Cần làm rõ khái niệm khiếu nại, khiếu kiện để giải quyết các quyền ấy của cá nhân cho đúng”, Tạp chí Luật học, số 3/2005, tr.42-43.

(2) Giảm khoảng 4,8% so với năm 2014. Các địa phương có tỷ lệ giải quyết đạt cao: Ninh Thuận (94,1%), Hậu Giang (94,0%), Trà Vinh (93,9%), Thanh Hóa (93,5%), Bình Dương (92,9%), Kiên Giang (92,6%), Bình Định (92,4%)...

Các bộ, ngành có tỷ lệ giải quyết đạt cao: Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (100%). Một số bộ có tỷ lệ giải quyết thấp là: Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng..., nguyên nhân là do số lượng đơn thư thuộc thẩm quyền tăng cao so với năm 2014.

(3) Xem thêm: Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2013 của Chính phủ.

(4) Xem thêm: Phạm Hà, Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực hành chính: Còn nhiều vướng mắc, http://baohatinh.vn, ngày 30-5-2014.

 

TS Lê Văn Trung

Viện Nghiên cứu quyền con người,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác