Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đến “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ tư, 29 Tháng 8 2018 14:50
170 Lượt xem

Từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đến “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(LLCT) - Kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống lên một tầm cao mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa thi đua và yêu nước, yêu nước thông qua thi đua; thi đua là một biện pháp hiệu quả nhất để thể hiện lòng yêu nước thông qua những công việc cụ thể, thiết thực mà mỗi người làm hàng ngày; thi đua phải có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân; phải được thực hiện thường xuyên, liên tục; có mục đích, mục tiêu, kế hoạch cụ thể; thi đua phải có văn hóa… Thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người, toàn thể nhân dân Việt Nam đã tích cực hưởng ứng, phát huy mọi khả năng, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.

Chủ nghĩa yêu nước trong tiếngLatin patria, nghĩa là tình yêu, sự tận tâm với Tổ quốc, với quê hương.

Theo Bách khoa thư (tiếng Nga): Chủ nghĩa yêu nước là những nguyên tắc chính trị và đạo đức, sự cảm nhận xã hội, bao gồm tình yêu đối với Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng mình vì Tổ quốc, là lòng tự hào với di sản văn hóa tổ tiên, mong muốn gìn giữ những giá trị và loại hình văn hóa của đất nước (ý thức đối với đất nước, truyền thống,  ngôn ngữ), sự nỗ lực bảo vệ lợi ích Tổ quốc và nhân dân mình(1).

Đối với mỗi người, dù thuộc dân tộc nào, yêu nước là một tình cảm tự nhiên đối với quê hương xứ sở, với ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cùng với sự hình thành dân tộc và nhà nước dân tộc, thì yêu nước từ một tình cảm, một yếu tố tâm lý xã hội đã tiến dần lên thành một ý thức xã hội. Ý thức đó khi đã phát triển thành một hệ thống thì tình cảm yêu nướccó  trở thành chủ nghĩa yêu nước -có giá trị như một hệ tư tưởng. Hiểu một cách đơn giản, chủ nghĩa yêu nướclà một hệ thống quan điểm chỉ đạo tình cảm, thái độ, hành động, cách ứng xử,... của mỗi người dân đối với Tổ quốc (trong xây dựng và bảo vệ đất nước)(2).

Tóm lại, chủ nghĩa yêu nước là tổng hợp các trạng thái tâm lý, tình cảm, nhận thức về đất nước, về nơi mà con người chia sẻ ý thức về nòi giống và cộng đồng chung sống, về cương vực, lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, về văn hóa và ngôn ngữ, về quyền lợi và nghĩa vụ…; về nơi trao cho con người không chỉ những thứ cần thiết để nuôi sống mình mà còn hun đúc tâm hồn và nhân cách, để con người tồn tại và phát triển... là tình cảm biết ơn đất nước, sẵn sàng phụng sự, cống hiến, hy sinh và làm tất cả những gì có thể vì sự sống còn và phát triển của đất nước.

Nội hàm của chủ nghĩa yêu nước nói chung và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nói riêng, ở mức độ nhất định đều mang tính giai cấp và mang tính thời đại. Tuy vậy, chủ nghĩa yêu nước của mỗi dân tộc có mẫu số chung. Đó là những giá trị chung, thành quả chung, lợi ích chung của toàn dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước được bổ sung những nội dung mới. Đó là độc lập dân tộc gắn với CNXH, đề cao và phát huy chủ nghĩa yêu nước, đồng thời với xây dựng tinh thần quốc tế trong sáng.

Theo sự thừa nhận chung của các tầng lớp nhân dân, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có một số đặc trưng sau:

- Chủ nghĩa yêu nước luôn được xếp ở vị trí đầu tiên trong bảng các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc. Nó trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” là “động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc ta”(3).

- Chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam được sản sinh và nuôi dưỡng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hằng nghìn năm của dân tộc, không chỉ là tình cảm mà còn trở thành triết lý sống và thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động, xác định các giá trị.

- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh to lớn giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách lịch sử, trường tồn và phát triển, đồng hành cùng nhân loại.

 - Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành từ hàng nghìn năm, phát triển, bổ sung, sâu sắc thêm qua từng thời kỳ theo yêu cầu phát triển của dân tộc.

Đánh giá về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và vai trò của nó trong lịch sử, GS Trần Văn Giàu viết: Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam(4). Ông cho rằng, chủ nghĩa yêu nước như một cái “lý thường hằng”, là sản phẩm của lịch sử và nó có tác dụng hướng dẫn lịch sử. “Trông vào lịch sử cũng dài nhiều nghìn năm của dân tộc Việt Nam, từ Văn Lang, Âu Lạc cho đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người quan sát có thể thấy ngay rằng các tư tưởng chủ đạo, cái “lý thường hằng” nhất, quán triệt cổ kim, là chủ nghĩa yêu nước, chống xâm lăng, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc, là tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do”... Chủ nghĩa yêu nướclà sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại cho đến hiện đại”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống được phát triển lên một tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Nó thể hiện không chỉ ở tư tưởng, lời nói, bài viết mà quan trọng hơn là ở chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Yêu nước là xuất phát điểm, là động lực và cũng là mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Đến lượt mình, chính Người đã phát triển chủ nghĩa ấy lên một tầm cao mới, mở ra một thời đại mới - Thời đại của chủ nghĩa yêu nước truyền thống gắn liền với CNXH.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, lòng yêu nước của mỗi người cần được biểu hiện qua những hành động cụ thể, thiết thực hàng ngày. Mỗi người Việt Nam ở mỗi cương vị nghề nghiệp khác nhau hoàn thành tốt công việc được giao, thực hiện nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc, trung thành với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống gần gũi, gắn bó với những người xung quanh mình thì đó là yêu nước. Nhưng để lòng yêu nước trở thành thói quen, trở thành nếp sống, lối sống ở mỗi người và của cả cộng đồng, thì phong trào thi đua yêu nước là một biện pháp, một cách thức rất hiệu quả.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Thi đua là yêu nước, Yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Hồ Chí Minh đã thấy rõ mối quan hệ giữa thi đua và yêu nước, yêu nước thông qua thi đua. Thi đua là một cách thức, một biện pháp để thể hiện lòng yêu nước thông qua những công việc cụ thể, thiết thực mà mỗi người làm hàng ngày. Thi đua là một phương thức để trên cơ sở đó đánh giá được những thành tựu và hạn chế ở mỗi người, phát hiện và nhân rộng những tài năng, đồng thời tìm ra những giải pháp để giúp đỡ, khắc phục những hạn chế của mỗi người mắc phải trong quá trình công tác để ngày càng hoàn thiện bản thân hơn.

Với nhận thức như vậy, trong điều kiện đất nước đang rất khó khăn, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, nhằm kêu gọi, động viên toàn thể dân tộc phát huy mọi khả năng, cống hiến to lớn cho cách mạng, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc.

Trong nội dung thi đua, Người chỉ rõ:

Một là, thi đua là yêu nước.

Hai là, thi đua phải có sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân.

Ba là, phong trào thi đua phải được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Bốn là, thi đua phải có mục đích, mục tiêu, kế hoạch cụ thể.

Năm là, thi đua xây dựng con người mới, thi đua phát huy sáng kiến, phổ biến rộng rãi điển hình, sáng kiến kinh nghiệm tiên tiến.

Sáu là, thi đua phải có văn hóa

Theo Người, mục đích của thi đua là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Lực lượng của phong trào thi đua là toàn thể nhân dân: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai; giàu nghèo, lớn, nhỏ đều phải trở nên một người chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”(6). Người chỉ rõ: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người khẳng định: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”(7). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cách mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Người đã yêu cầu mở mục “gương người tốt việc tốt” trên các báo, xuất bản các tập sách về người tốt việc tốt, đồng thời yêu cầu các địa phương phải thường xuyên phát hiện gương người tốt, việc tốt để nhân rộng ra toàn xã hội. Người viết: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”.

Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.

Trong bài phát biểu với các chiến sĩ thi đua ngày 3-5-1952, Người chỉ rõ: Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công. Người cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. “Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng… Các anh hùng và chiến sĩ thi đua cần phải luôn luôn dìu dắt, giúp đỡ những người chung quanh mình cùng tiến bộ. Mọi người đều phải cố gắng tiến kịp các anh hùng, chiến sĩ; anh hùng, chiến sĩ thì cần tiến mãi không ngừng”.

Thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn. Thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ.

Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua ái quốc đã phát triển rộng khắp các vùng miền và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược các phong trào thi đua như: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đông đảo đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, các phong trào thi đua tiếp tục được duy trì và nở rộ trên khắp các lĩnh vực, các vùng, miền trong cả nước, như: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” ở miền Bắc, phong trào thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công ở miền Nam. Phong trào “Sóng Duyên hải” trong sản xuất công nghiệp; “Gió Đại phong” trong sản xuất nông nghiệp; “Cờ Ba nhất” trong quân đội; “Trống Bắc Lý” trong giáo dục; “Thanh niên Ba sẵn sàng”; “Phụ nữ Ba đảm đang”. Khẩu hiệu hành động: nhà nhà thi đua, người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược đã động viên, cổ vũ, huy động toàn bộ sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, khơi dậy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc đoàn kết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xây dựng CNXH.

Trong giai đoạn ngày nay, khi cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.

Kế thừa tinh thần Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 4-3-2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 258/QĐ-TTg về việc lấy ngày 11-6 hàng năm là “Ngày Truyền thống thi đua yêu nước”. Đây là dịp để nhân dân cả nước đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, gắn với việc triển khai sâu rộng và có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác tổ chức, vận động và hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2018

 (1) https://ru.wikipedia.org.

(2) Song Thành: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam - Nền tảng tinh thần, động lực phát triển của chúng ta, tuyengiao.vn, ngày 27-8-2015.

(3), (4), (5) Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tr.100-101, 100-101, 100-101.

(6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc  gia, Hà Nội, 1995, tr.444, 441.

 

TS Nguyễn Thị Thanh Dung

Viện Chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác