Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Những yêu cầu của quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay
Thứ sáu, 23 Tháng 8 2019 15:23
155 Lượt xem

Những yêu cầu của quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo an sinh xã hội được thể hiện rõ qua việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm, góp phần giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, quản lý nhà nước về an sinh xã hội đứng trước nhiều thách thức. Bài viết này, lý giải các yêu cầu của hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với quản lý nhà nước về an sinh xã hội.

1. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội cần đáp ứng đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

Toàn cầu hóa, gia nhập WTO, CPTPP..., tham gia sâu vào tổ chức và hoạt động của khối ASEAN là quá trình Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại, tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa, di dân quốc tế, xuất khẩu lao động và di chuyển thể nhân là một tất yếu khách quan không tránh khỏi. Lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, cũng như lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ có xu hướng tăng lên. Không gian kinh tế của Việt Nam được mở rộng, quan hệ lao động phát triển và có những nhân tố mới liên quan đến yếu tố nước ngoài. Việc xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách an sinh xã hội theo hướng phù hợp với kinh tế thị trường và không phân biệt đối xử sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên sân chơi bình đẳng toàn cầu.

Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam là rất lớn. Hệ thống an sinh xã hội hiện hành đã và đang phát huy tác dụng tốt trong đời sống xã hội, đối tượng tham gia và hưởng lợi tăng lên; các chính sách và chế độ bảo hiểm luôn được điều chỉnh phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có tác động tích cực đến việc ổn định đời sống của người lao động trong quá trình lao động và khi nghỉ hưu; các quỹ an sinh xã hội bảo đảm chi trả kịp thời cho các đối tượng hưởng lợi và góp phần đầu tư vào lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước và được thể chế hóa ở mức cao (các luật) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động an sinh xã hội đạt hiệu quả.

Tuy nhiên, so với yêu cầu và đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức mới trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, an sinh xã hội còn nhiều bất cập, yếu kém, chưa phát huy được hết vai trò của mình. Đó là độ bao phủ của các hình thức an sinh xã hội còn thấp, nhất là khu vực phi chính thức, về cơ bản chưa tham gia bảo hiểm xã hội; cung cấp dịch vụ bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ (thực hiện chưa tốt bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện) và chất lượng chưa cao (đời sống người hưởng lợi còn khó khăn, chất lượng khám chữa bệnh có bảo hiểm y tế còn nhiều hạn chế...); quỹ bảo hiểm xã hội phát triển chưa bền vững; thể chế tổ chức thực hiện dịch vụ bảo hiểm xã hội còn phải tiếp tục hoàn thiện.

Để nâng cao vai trò của an sinh xã hội trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta, cần thiết phải nghiên cứu thực hiện những vấn đề sau:

+ Tiếp tục nghiên cứu cải cách tổng thể an sinh xã hội quốc gia. Cần phải xây dựng đề án nghiên cứu, phân tích, đánh giá toàn diện, hiệu quả an sinh xã hội trong mối quan hệ với hệ thống chính sách kinh tế - xã hội; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hình thành hệ thống an sinh xã hội mới, trong đó bảo hiểm xã hội là cấu phần đầu tiên và quan trọng nhất, phản ánh điều kiện cụ thể của quốc gia và tính đến xu hướng chung của quốc tế.

+ Cải cách chiến lược tổng thể an sinh xã hội quốc gia, đảm bảo hài hòa giữa khung định hướng phát triển chung dài hạn với giải quyết những vấn đề có tính chất ưu tiên nhằm khắc phục những hạn chế khi điều chỉnh hệ thống chính sách an sinh xã hội trước mắt lại tạo ra những mâu thuẫn bất hợp lý trong dài hạn. Có như vậy, hệ thống chính sách an sinh xã hội mới phát triển bền vững, đảm bảo tính mục tiêu, tính hướng đích và hiệu quả cao.

+ Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội, đặc biệt là khi thực hiện bảo hiểm thất nghiệp. Sử dụng công nghệ ICT(1) để thiết lập hệ thống thông tin quản lý cho từng loại hình bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) và có khả năng kết nối với nhau.

+ Nghiên cứu xây dựng hệ thống dịch vụ cơ bản và thị trường lao động nhằm đảm bảo việc làm, thu nhập và dịch vụ công cho mọi người.

2. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế cần tính đến kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực này

Trong việc xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật an sinh xã hội ở nước ta, cần thiết phải nghiên cứu, vận dụng những nguyên tắc chung của hệ thống chính sách an sinh xã hội từ kinh nghiệm các nước, trong đó những vấn đề chính cần quán triệt là:

- Thực hiện nguyên tắc số đông trong phòng ngừa rủi ro toàn xã hội (nguyên tắc đoàn kết). Nguyên tắc của an sinh xã hội là lấy số đông người đóng góp để phân tán rủi ro cho số ít người, qua đó phòng ngừa rủi ro cho toàn xã hội. Vì thế, số người tham gia càng lớn thì tần suất rủi ro xảy ra với mỗi cá nhân càng ít và mức bù đắp khi bị rủi ro càng cao. Đồng thời, phạm vi bao phủ hay số người tham gia càng rộng thì mới nâng cao được quy mô tài chính của Quỹ an sinh xã hội, hạ thấp chi phí đơn vị của quản lý quỹ.

- Thực hiện nguyên tắc bắt buộc phải bảo hiểm. Yêu cầu này của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường xuất phát từ lý thuyết rủi ro trong đời sống con người. Trong cuộc đời con người đều có khả năng bị rủi ro, mặc dù có người không gặp phải rủi ro. Vì thế, mỗi người cụ thể thường có tâm lý chủ quan về biến cố ngẫu nhiên không gánh chịu rủi ro đối với họ. Để phòng ngừa tâm lý chủ quan phổ biến đó xảy ra đối với toàn xã hội, cần có pháp luật bắt buộc mỗi công dân phải thi hành Luật Bảo hiểm xã hội.

- Thực hiện thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Sự vận hành của các quỹ an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường tuân thủ nguyên tắc “đóng - hưởng” của Nhà nước, xã hội và cá nhân. Có đóng góp mới được thụ hưởng. Tỷ lệ đóng góp càng cao thì tỷ lệ thụ hưởng càng cao. Điều này đúng với cả các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội. Vì thế, người tham gia vào hệ thống an sinh xã hội phải coi việc hoàn thành nghĩa vụ đóng làm cơ sở để hưởng quyền lợi. Trong toàn hệ thống, phải coi trọng việc quản lý, bảo toàn và tăng trưởng giá trị của quỹ. Nếu để sai sót ở khâu nào đó sẽ làm cho kết quả hoạt động của quỹ an sinh xã hội bị thất thoát lớn, có nguy cơ mất cân bằng.

- Mức độ và phạm vi hưởng thụ an sinh xã hội phải xuất phát từ trình độ phát triển của nền kinh tế. Một khi tiêu chuẩn và phạm vi hưởng thụ được xác lập thì khó có thể hạ thấp và xóa bỏ. Khi lợi ích của người tham gia an sinh xã hội được thừa nhận thì việc điều chỉnh theo hướng giảm thấp hoặc hạn chế phạm vi hưởng thụ là rất khó khăn.

Do vậy, khi xác định mức và phạm vi hưởng thụ quyền lợi an sinh xã hội cần phải xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế, với sự chịu đựng về mặt kinh tế và tâm lý của người tham gia vào hệ thống an sinh xã hội.

- Xã hội hóa việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, an sinh xã hội được xã hội hóa cao. Theo quy định của hệ thống pháp luật và quản lý của Nhà nước, hệ thống quản lý, hệ thống kinh doanh, hệ thống thu chi vốn và quỹ, hệ thống kiểm tra, giám sát vốn và quỹ an sinh xã hội, hệ thống trọng tài bảo vệ lợi ích giữa các bên, đều hoạt động theo nguyên tắc tự chủ. Các chủ sử dụng lao động chỉ tuân theo pháp luật đóng góp cho quỹ an sinh xã hội, còn mọi hoạt động về an sinh xã hội của người lao động đều do một cơ cấu tổ chức an sinh xã hội độc lập, hoạt động với tư cách đơn vị sự nghiệp thực hiện. Xu hướng chung hiện nay là phát triển mạnh hệ thống dịch vụ, chủ yếu là dịch vụ công về an sinh xã hội.

3. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội cần xuất phát từ nhận thức đúng về vai trò của an sinh xã hội trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nhận thức đúng về vai trò của hệ thống an sinh xã hội có tầm quan trong đặc biệt trong xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam.

Quản lý nhà nước về xã hội ở Việt Nam là vì con người, bảo đảm quyền con người và sự phát triển con người. Đối với Việt Nam, đảm bảo nhu cầu an sinh xã hội cho mọi người là một trong những mục tiêu xã hội rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng phù hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh và công bằng. Hệ thống an sinh xã hội còn là một phương thức quan trọng để Nhà nước thực hiện chính sách xã hội nhằm ổn định và phát triển, đặc biệt trợ giúp đối với người dân bị thiên tai, các đối tượng nghèo đói, đồng bào dân tộc thiểu số.

Quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam đảm bảo cho sự vận hành bình thường, bền vững của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đang chuyển mạnh sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống thị trường bao gồm các loại thị trường cơ bản như: thị trường hàng hóa, thị trường vốn, thị trường bất động sản và thị trường lao động.

Quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, các xí nghiệp vừa là đơn vị sản xuất, kinh doanh, vừa là đơn vị phúc lợi, vừa là đơn vị bảo hiểm. Để thực hiện nhiệm vụ phúc lợi và bảo hiểm, mỗi xí nghiệp phải chi phí một phần rất lớn về nhân tài, vật lực làm công tác xã hội. Chính việc trở thành “một xã hội thu nhỏ” làm cho xí nghiệp phải phân tán nguồn lực thực hiện nhiều mục tiêu, tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp tập trung cho nhiệm vụ tự thân của mình bị hạn chế, dẫn đến giảm hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Hình thành tổng thể an sinh xã hội sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho doanh nghiệp, cho người lao động của họ và cho xã hội. Còn thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội cho người lao động của doanh nghiệp là do bộ phận chuyên môn của xã hội đảm nhiệm. Chính điều đó làm cho doanh nghiệp trở về đúng nghĩa, thực hiện đúng nhiệm vụ của nó, từ đó nâng cao được sức cạnh tranh trên thị trường.

Quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam là một công cụ quan trọng thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội ở Việt Nam. Kinh tế thị trường phát triển một mặt thúc đẩy sức sản xuất, tăng sức cạnh tranh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế nhưng mặt khác nó cũng tạo ra những rủi ro xã hội. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng là những mặt trái vốn có của nền kinh tế thị trường không tránh khỏi. Chính điều này tạo nên sự bất ổn định xã hội, xung đột xã hội. Để khắc phục tình trạng này, các nước cần tập trung phát triển hệ thống an sinh xã hội làm công cụ để giảm thiểu, hạn chế và khắc phục những rủi ro, bất bình đẳng xã hội.

Quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam là một trong những công cụ chính sách vĩ mô điều chỉnh nền kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta khi đã phát triển tất yếu sẽ theo quy luật chung là vận động theo chu kỳ. Từ kinh nghiệm các nước cho thấy, để điều tiết chu kỳ kinh tế, Nhà nước phải sử dụng công cụ chính sách vĩ mô như chi tiêu Chính phủ, thuế, lãi suất, tiền lương, bảo hiểm, trợ cấp,... tác động thích ứng trong từng thời kỳ để rút ngắn thời gian nền kinh tế nằm trong giai đoạn khủng hoảng, kéo dài thời gian nền kinh tế nằm trong giai đoạn phục hồi và hưng thịnh.

Trong thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoảng, hàng loạt doanh nghiệp bị đóng cửa, người lao động mất việc làm không có thu nhập. Khi đó Nhà nước cần tăng các khoản thanh toán từ quỹ an sinh xã hội như bảo hiểm, trợ cấp cho người lao động để họ có được cuộc sống bình thường, tự đào tạo lại nghề nghiệp chuẩn bị cơ hội tham gia vào thị trường lao động. Trong thời kỳ nền kinh tế phục hồi và hưng thịnh, doanh nghiệp mở mang rộng rãi, người lao động có việc làm tăng lên, có được thu nhập cao hơn, do đó thời kỳ này, nhà nước nên giảm các khoản thanh toán chuyển nhượng từ các quỹ an sinh xã hội. Như vậy, việc điều chỉnh chi trả từ quỹ an sinh xã hội trở thành một công cụ trong hệ thống các công cụ, chính sách kinh tế khác để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khắc phục được tính chu kỳ trong phát triển nền kinh tế thị trường.

4. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam cần phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn cụ thể

Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng mới chỉ ở mức tiền kinh tế thị trường, chưa hoàn chỉnh, nhiều thị trường phát triển còn sơ khai và ở trình độ thấp như thị trường vốn, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ... Điều này dẫn đến sự mất cân bằng giữa cung và cầu; thị trường bất động sản thì cầu ảo lớn hơn cầu thật làm cho giá cả không phản ánh đúng giá trị thật của bất động sản. Lạm phát hàng năm vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao. Tất cả những điều đó đều gây ra sự bất lợi cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trong việc tìm kiếm việc làm, nhà ở, tìm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dẫn đến chi tiêu lớn hơn thu nhập của họ.

Hiện nay thị trường lao động phát triển chưa đồng đều và còn ở trình độ thấp. Chính sách tiền lương chưa bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa khu vực doanh nghiệp và khu vực hành chính, sự nghiệp, tiền lương của một bộ phần lao động thấp không đủ sức tái tạo sức lao động. Vì vậy, số người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội chính thức của Nhà nước cũng rất thấp và khả năng tích lũy cho tuổi già cũng rất nhỏ.

Sự biến động của nền kinh tế thị trường hiện nay gây ra những cú sốc về kinh tế cho những nhóm dân cư vùng dân tộc thiểu số rất khó có thể thích nghi ngay với nền kinh tế thị trường hoặc những người nông dân có đất bị thu hồi trong quá trình đô thị hóa đất nước.

Tình trạng di cư cũng làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội nơi mà người dân chuyển đến. Lao động di trú từ nông thôn vào đô thị cũng làm cho việc thực hiện chính sách xã hội xét từ góc độ bình đẳng và công bằng khó thực hiện.

Mặc dù chiến tranh đã qua đi một phần ba thế kỷ, hậu quả về kinh tế có thể đã khắc phục được, nhưng hậu quả về mặt xã hội còn rất nặng nề chưa thể giải quyết dứt điểm. Cuộc chiến tranh đã lấy đi sinh mạng của hàng triệu con người, để lại hàng triệu người tàn tật, hàng triệu người nhiễm chất độc hóa học dioxin trong những năm 1964 - 1975. Do bị thương tật, bệnh tật trong chiến tranh lúc còn trẻ tuổi, nay về già họ cần có chính sách ưu đãi đặc biệt của Nhà nước. Bộ phận bị nhiễm chất độc hóa học, điôxin, nay lại phát bệnh, hoặc sinh con bị dị tật, dị dạng, cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn.

Mặc dù kinh tế tăng trường liên tục với tốc độ cao trong thời kỳ đổi mới, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện đáng kể, bộ mặt các xã nghèo đã thay đổi, nhất là những điều kiện cơ bản cho cuộc sống và sản xuất. Kinh tế tăng trưởng đã có tác động rất lớn đến phát triển hệ thống an sinh xã hội, nhưng Việt Nam vấn có trình độ phát triển thấp. Việt Nam đã có những thành tựu về giảm nghèo nhưng sự giảm nghèo chưa bền vững, có tình trạng tái nghèo.

Hiện nay nước ta đang còn là một nước nông nghiệp, dân số nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ trọng lớn. Tâm lý xã hội “trẻ cậy cha, già cậy con” vẫn còn nặng; những hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội thường chưa được hình thành. Mặt khác, hoạt động nông nghiệp thường có thu nhập thấp, do đó khả năng kinh tế tham gia an sinh xã hội thường gặp khó khăn. Điều này đòi hỏi việc nâng cao nhận thức và xây dựng các mô hình an sinh xã hội phù hợp là vấn đề có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của các chương trình an sinh xã hội ở nước ta.

Việt Nam thường xuyên phải chịu hậu quả của thiên tai, bão lụt, hạn hán với tần suất xuất hiện trong một năm ngày càng lớn và diễn biến phức tạp, khó lường do ảnh hưởng của ô nhiễm và sự tàn phá môi trường, biến đổi khí hậu. Hàng năm có khoảng 700 người chết vì bão lũ và sạt lở đất do mưa lớn; trung bình mỗi năm thiệt hại 3-4 nghìn tỷ đồng, có năm lên tới 7-8 nghìn tỷ đồng và làm cho trên một triệu lượt người rơi vào cảnh nghèo đói, năm cao nhất lên tới 1,45 triệu lượt người(2).

Già hóa dân số và xu hướng di dân diễn ra mạnh mẽ. Do mức sinh giảm đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng đã làm cho dân số nước ta có xu hướng già hóa với tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng. xã hội già hóa và sẽ là thách thức đối với hệ thống bảo hiểm xã hội. Số người đóng phí bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu sẽ giảm trong khi những người hưởng hưu trí tăng lên. Ngày càng có nhiều người già thì khả năng ngân sách nhà nước phải chi cho cứu trợ xã hội cũng phải tăng lên, không chỉ đối với người già cô đơn mà còn đối với những người sống trên 85 tuổi.

5. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội cần phù hợp với các yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Với sự phát triển của các công nghệ thời đại 4.0, theo dự báo của Hiệp hội An sinh các nước ASEAN, trong hai thập niên tới, 56% số lao động tại 5 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ mất việc làm. 86% số lao động trong lĩnh vực dệt may và da giày của Việt Nam đứng trước nguy cơ mất việc vì tự động hóa trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0... Việc thiết kế lại chính sách an sinh xã hội phù hợp trong bối cảnh mới đang được đặt ra(3).

Nguy cơ mất việc sẽ ảnh hưởng tới an sinh xã hội. Nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển chung, cuộc cách mạng này có thể khiến nhiều quốc gia phải đối mặt với những thách thức, tác động tiêu cực, đặc biệt là những tác động không mong muốn đối với thị trường lao động, ảnh hưởng tới mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội. CMCN 4.0 có quy mô và tốc độ phát triển rất nhanh sẽ tạo ra cơ hội thúc đẩy an sinh xã hội, như mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội... thế nhưng, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng làm phát sinh nhiều công việc, tác động đến lao động truyền thống, tạo khoảng trống về bao phủ an sinh xã hội, cũng như việc bảo mật dữ liệu, an ninh mạng.

Sự thay đổi của thị trường lao động là điều được quan tâm dự báo, nhưng hiện chưa xác định được cụ thể ngành nghề nào mất đi, ngành nghề nào tồn tại. Điều này đòi hỏi người lao động phải tăng cường rất nhiều kỹ năng để đáp ứng sự thay đổi.

Ngân hàng thế giới dự báo, bảo hiểm xã hội truyền thống dựa trên khoản khấu trừ thuế hay từ lương của người lao động sẽ dần dần không bắt kịp với tốc độ già hóa dân số. Do đó, việc nhanh chóng tận dụng cơ hội, vượt lên những thách thức đòi hỏi sự nhạy bén. Nếu đi đúng hướng và bắt đúng nhịp, CMCN 4.0 sẽ tạo cơ hội để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển.

Việt Nam hiện có khoảng 18 triệu lao động phi chính thức, phi nông nghiệp, trong đó, chỉ có 23% có quan hệ lao động trên pháp lý. Tuy nhiên trong số này mới chỉ có khoảng 0,2% tham gia bảo hiểm xã hội.

6. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội cần bảo đảm tính nhất quán, công khai, dễ tiếp cận, tin cậy và dự đoán được trước

Một đòi hỏi của tính chất nhất quán là các văn bản hướng dẫn thi hành các luật về an sinh xã hội không được mâu thuẫn với đạo luật mà chúng dựa vào, các quy định trong cùng một văn bản không được trái ngược, triệt tiêu nhau. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế để thực thi tốt các cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà chúng ta đã và sẽ là thành viên thì càng phải bảo đảm tính nhất quán của pháp luật. Một mặt phải dần từng bước tiến hành thống nhất trong nội dung pháp luật quốc gia, mặt khác phải chuyển hoá nội dung các cam kết quốc tế về an sinh xã hội vào pháp luật quốc gia.

Việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật an sinh xã hội phải được tiến hành công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho mọi lực lượng trong xã hội bảo vệ và cân bằng lợi ích của mình. Sau khi được ban hành, luật của quốc gia phải được công bố trên công báo, văn bản hành chính của các cơ quan hành pháp phải được công bố trên các phương tiện thông tin dễ dàng tiếp cận đối với người dân.

Một đặc tính của pháp luật là tính công bằng, do đó pháp luật phải đáng tin cậy, phải là những đại lượng tượng trưng cho lẽ phải. An toàn pháp lý là điều mà mọi người dân chờ đợi ở Nhà nước, ở pháp luật. Nếu pháp luật không đáng tin cậy thì thực sự là một điều nguy hiểm. Muốn tránh được những tình trạng đó thì việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật an sinh xã hội không được gây ra những cú sốc, ngạc nhiên, bất ngờ cho đối tượng bị áp dụng.

Tính có thể dự đoán được của luật còn bao gồm cả vấn đề mà trong hoạt động tố tụng, các cơ quan áp dụng pháp luật phải lấy lẽ công bằng là một nguyên lý cho hoạt động của mình. Nếu người dân nhờ đến toà án giải quyết những tranh chấp liên quan đến an sinh xã hội mà pháp luật chưa quy định, thì thẩm phán phải lấy lẽ công bằng mà phán xét, chứ không phải trả lại đơn chỉ vì thiếu văn bản quy định. Để làm được việc này, pháp luật phải trả lại cho tòa án cái quyền mà đáng ra từ trước đến nay nó không được phép mất, đó là “quyền giải thích pháp luật”, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật an sinh xã hội.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 4-2019

(1) ICT là từ viết tắt của Information & Communication Technologies có nghĩa là Công nghệ thông tin và Truyền thông. ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết. ICT bao gồm IT cũng như là điện thoại, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải mạng và các chức năng giám sát. Từ đó, ta có thể hiểu: ICT là sự kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông để tạo nên sự kết nối và chia sẻ thông tin với nhiều hình thức khác nhau.

(2) Báo cáo tổng kết công tác bảo trợ xã hội Vụ Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, 2010.

(3) Dẫn theo: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-binh-luan/he-thong-an-sinh-xa-hoi-chiu-nhieu-tac-dong-tu-cach-mang-cong-nghiep-40-144114.html, truy cập ngày 30-11-2018.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Ngoại giao, Báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II năm 2014.

2. Mai Ngọc Cường (Chủ biên): Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

3. Trần Đức Cường (Chủ biên): Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012.

4. Nguyễn Văn Mạnh (Chủ biên): Vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

5. Ngô Ngọc Thắng, Đoàn Minh Huấn (Đồng chủ biên): Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014.

6. Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo: Cách mạng công nghiệp 4.0 và các vấn đề pháp lý đặt ra, Hà Nội - 7/2018.

PGS, TS Phạm Hữu Nghị

Viện Nhà nước và Pháp luật,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

Các bài viết khác