Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới
Thứ hai, 02 Tháng 12 2019 08:12
72 Lượt xem

Nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới

(LLCT) - Sau 30 năm đổi mới, Đảng đã có bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận về đổi mới cũng như về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Qua đó, nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng được bổ sung và phát triển, ngày càng hoàn thiện về mục tiêu, con đường và cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là cơ sở để dẫn dắt công cuộc đổi mới đất nước đến thắng lợi, đồng thời là ngọn cờ tập hợp sức mạnh của cả dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc trong điều kiện mới.  

Đại hội XII của Đảng đã có nhiều quan điểm thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về đổi mới cũng như về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tập trung ở một số điểm sau:

Thứ nhất, Đại hội XII có thái độ thẳng thắn, khách quan trong việc nhìn nhận đánh giá tình hình, đánh giá chính mình.Cũng có thể xem đó là sự trở lại, trung thành với cách nhìn nhận đánh giá tình hình “dũng cảm” của Đại hội VI sau 30 năm khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”.

Đánh giá tổng quát 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, yếu kém của Đảng trong quá trình lãnh đạo đổi mới, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những hạn chế yếu kém, bất cập trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và vấn đề “suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và chế độ”. Soi vào thực tiễn đời sống, thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước những năm qua thì đây thực sự là những đánh giá xác đáng, trung thực và thẳng thắn, phản ánh đúng tình hình thực tiễn, thể hiện sự quyết tâm mới của Đại hội XII trong việc khắc phục hạn chế, yếu kém, quyết tâm đưa công cuộc đổi mới đến thắng lợi.

Thứ hai, nhận thức mới về tầm quan trọng của vấn đề lợi ích dân tộc và xử lý mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế. Nói như vậy không có nghĩa là các đại hội trước Đảng ta chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề lợi ích dân tộc, mà là Đại hội XII đã đẩy lên một bước quan điểm đề cao lợi ích dân tộc chính đáng. Điều này được thể hiện ngay trong phần tổng kết các bài học kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới, lần đầu tiên Đảng ta đưa vấn đề "phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết" là một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng. Đây có thể xem là bước đột phá trong nhận thức lý luận về đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng. Bởi lẽ, nếu nhìn lại lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo, nhất là trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trước năm 1986, không phải lúc nào vấn đề lợi ích dân tộc đặt lên trên hết và không phải lúc nào vấn đề lợi ích dân tộc cũng được hiểu một cách thấu đáo đến mức coi đó là một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng. Ở Đại hội XII, vấn đề “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết” còn được khẳng định rõ và trở thành nguyên tắc trong phương châm chiến lược đối ngoại lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đại hội XII xác định rõ 4 quan điểm đối ngoại, trong đó quan điểm đầu tiên là: Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Quan điểm trên đây của Đảng xuất phát từ những cơ sở nhận thức sâu sắc về nội dung, tính chất thời đại, về tình hình thế giới và khu vực, một lần nữa thể hiện rõ thái độ của Đảng, nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của vấn đề lợi ích dân tộc và việc xử lý nó trong mối quan hệ với thế giới. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tính chất phức tạp và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội, nên cần có nhận thức đúng, thấy rõ những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất thời đại trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Về môi trường quốc tế, Đảng ta đã nhận rõ việc các nước không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trên cơ sở đó, Đại hội XII xác định: Tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Ở đây có thể nhận thấy điểm khác biệt trong quan điểm của Đại hội XII về quan hệ quốc tế là không phân định cụ thể mối quan hệ với từng nước mà phân định mối quan hệ theo khu vực (láng giềng nói chung) hoặc phân định theo tính chất, cấp độ quan hệ (đối tác lớn, quan trọng).

Với cách nhìn nhận này, không chỉ một lần nữa Đại hội XII của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn và sự trung thành của Đảng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, mà còn thể hiện sự chính xác trong tư duy của Đảng về vấn đề dân tộc và quốc tế, dân tộc và giai cấp trong bối cảnh thế giới phức tạp khôn lường hiện nay. Trong lịch sử Đảng ta, không phải lúc nào Đảng ta cũng có được những nhận thức hoàn toàn đúng đắn và xử lý đúng mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích bộ phận, giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế.

Thứ ba, nhận thức vấn đề phát huy các nhân tố tạo thành động lực để phát triển đất nước. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “cần nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành động lực: hài hòa lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy nhân tố con người, vai trò của khoa học - công nghệ; tiếp tục đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách, tổ chức..., tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập”. Tất cả những nhân tố trên, các kỳ đại hội cũng đã đã được đề cập đến, nhưng ở Đại hội XII, vấn đề này được đề cập trực tiếp, đầy đủ và toàn diện hơn.

Về phát huy nhân tố con người, Đại hội XII nêu rõ: Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là: Đúc kết, từng bước xây dựng trong thực tế các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân; tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật; làm cho mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn; Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người; ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Đây là vấn đề mới mà văn kiện các Đại hội trước ít đề cập đến.

Về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, Đại hội XII xác định: Phát triển giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học và công nghệ, với quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực; chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn; Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học, công nghệ thật sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng an ninh; phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp.

Tư duy mới của Đại hội XII trong vấn đề này chính là xác định rõ và cụ thể nội hàm của các nhân tố con người, nhân tố dân chủ, nhân tố đoàn kết, nhân tố giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ với tư cách là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước.

Thứ tư, nhận thức về mô hình kinh tế của nước ta.Từ Đại hội IX của Đảng năm 2011, Đảng ta đã xác định mô hình kinh tế tổng quát của nước ta là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” - một mô hình kinh tế chưa từng có trong tiền lệ, đã trở thành một thách thức lý luận và thực tiễn đối với Đảng ta. Từ đó đến nay, vấn đề nội hàm khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn được các đại hội chú trọng đề cập, giải quyết và đã từng bước được bổ sung làm rõ. Đại hội XII của Đảng trên cơ sở kế thừa nhận thức của các đại hội trước, đã có những bổ sung đáng kể với sự hiện diện khá toàn diện và cụ thể các thành tố cấu thành nền kinh tế, thể hiện bước tiến trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình kinh tế Việt Nam, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thể hiện như trên đã khái quát được những vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước hết, về kinh tế thị trường, thể hiện ở bốn điểm: Vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Về định hướng xã hội chủ nghĩa, thống nhất ở bốn điểm: Có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Về vai trò của Nhà nước, thống nhất ở bốn điểm: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế thị trường; các nguồn lực nhà nước được Nhà nước phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp cơ chế thị trường; Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; Nhà nước sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển.

Về mục tiêu: Đến năm 2020, phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Điểm mấu chốt thể hiện nét mới trong nhận thức của Đại hội XII về nội hàm khái niệm nền kinh tế của nước ta nêu trên là, ngoài việc bổ sung, cụ thể hóa các thành tố cấu thành nền kinh tế, là việc nhấn mạnh, làm rõ vai trò của Nhà nước, của cơ chế thị trường, của các thành phần kinh tế trong quá trình vận hành, điều tiết nền kinh tế. Đại hội XII khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời khẳng định sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế. Đây là những nhận thức mới của Đại hội XII góp phần giải quyết mối quan hệ giữa vai trò của Nhà nước và thị trường, giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Những nhận thức trên đây sẽ còn tiếp tục bổ sung và cụ thể hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, song nó có giá trị định hướng lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thứ năm, nhận thức về vấn đề phát triển xã hội.

Đại hội XII khẳng định, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đặc biệt là bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội là một trong những thành tựu nổi bật trong 30 năm đổi mới. Nếu Đại hội XI của Đảng đã đề ra những định hướng quan trọng về quản lý phát triển xã hội là “xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi”, “phát triển kinh tế - xã hội hài hòa giữa các vùng, đô thị và nông thôn; đấu tranh phòng chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông”, hay trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhấn mạnh: Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị, v.v. thì Đại hội XII nêu rõ: Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững và quản lý phát triển xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; Có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những bức xúc, mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột trong xã hội. Đồng thời, Đại hội XII định hướng: Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững; Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề hợp lý; Kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội; Đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; giảm thiểu tai nạn giao thông, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người.

Đó là những điểm mới trong tư duy của Đại hội XII về văn hóa - xã hội, phản ánh bước tiến về tư duy lý luận của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển. Những nhận thức này trở thành những định hướng chính trị hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân phấn đấu triển khai, tạo những chuyển biến mới trong đời sống văn hóa, xã hội theo mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ sáu, mới trong nhận thức vấn đề dân chủ và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở coi phát huy dân chủ là một động lực của sự phát triển, Đại hội XII cụ thể hóa nội dung dân chủ là: Bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân. Cụ thể hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và coi trọng đạo đức xã hội. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ đế làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền, tạo sự chuyển biến tích cực, đồng bộ, hiệu quả trong hoạt động cả lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Xác định rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm của mỗi quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện, kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền.

Với những quan điểm này, tư duy của Đảng về dân chủ đã được cụ thể hóa một bước, trong đó vấn đề cốt lõi được nhấn mạnh là vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với sự cụ thể hóa cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân.

 

TS Phùng Thị Hiển

Khoa Lịch sử Đảng,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền