Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Nhận thức về dân chủ và quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Thực trạng và giải pháp
Thứ năm, 23 Tháng 1 2020 22:43
208 Lượt xem

Nhận thức về dân chủ và quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Thực trạng và giải pháp

(LLCT) -  Trong tiến trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thức ngày càng rõ vai trò của dân chủ và đã tập trung xây dựng thiết chế, hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế và chính sách để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Quá trình dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội đã tạo ra động lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới. Tuy vậy, nó vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nhận thức về vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp một cách thấu đáo...Thực tế đó đòi hỏi Đảng phải tiếp tục bổ sung những nhận thức mới, đề ra những giải pháp để thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình dân chủ hóa ở nước ta.

 

1. Nhận thức của Đảng về dân chủ và quá trình dân chủ hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Đại hội VI của Đảng đã tạo ra bước ngoặt trong tiến trình dân chủ hóa mọi lĩnh vực của đời sống đất nước, đặc biệt là dân chủ hóa trong kinh tế sau khi rút ra bài học đầu tiên là “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”(1). Tuy nhiên, lúc này Đảng vẫn kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” của Đại hội IV, V và khẳng định “Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”(2). Cương lĩnh năm 1991 thông qua tại Đại VII đã khẳng định đặc trưng đầu tiên của CNXH ở nước ta là “do nhân dân lao động làm chủ” và nhấn mạnh: “Thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa..., nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới xã hội ta”(3). Đại hội cũng đặt vấn đề: Làm thế nào để đảm bảo đầy đủ dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền.

Đại hội VIII (năm 1996), Đảng đã chỉ ra các phương thức làm chủ của nhân dân bao gồm làm chủ qua đại diện và làm chủ trực tiếp, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”(4).

Đại hội IX (2001), Đảng khẳng định “dân chủ” là một mục tiêu trong hệ mục tiêu chung của cách mạng nước ta là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(5). Tổng kết 20 năm đổi mới, khi xác định đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, Đại hội X đã coi “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”  là đặc trưng tổng quát và đặc trưng thứ 2 thì được sửa thành “do nhân dân làm chủ”(6) thay cho cụm từ “do nhân dân lao động làm chủ” như Cương lĩnh năm 1991 đã xác định. Sự thay đổi này đã xóa bỏ định kiến giai cấp vốn gây cản trở cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thể hiện chủ trương mới của Đảng là thu hút cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như phát huy vai trò của tầng lớp doanh nhân cùng thành phần kinh tế tư nhân.

Tại Đại hội XI, nhận thức của Đảng về dân chủ đã có bước tiến mới khi dân chủ có vị trí mới trong hệ mục tiêu là  “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7).  Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đảng nêu rõ chủ trương phát huy dân chủ trực tiếp(8), cả ở tầm cơ sở, cả ở tầm quốc gia.

Nhận thức ngày càng rõ vai trò, sức mạnh của dân chủ, tại Đại hội XII, lần đầu tiên “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa”đã trở thành một thành tố của chủ đề Đại hội và tiêu đề của Báo cáo Chính trị. Để phát huy quyền “làm chủ” của nhân dân, Đại hội XII khẳng định, nhân dân có quyền “tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân”(9). Lần đầu tiên, sự giám sát của nhân dân được ghi rõ trong văn kiện Đại hội như một biện pháp quan trọng để thực hành dân chủ. Văn kiện còn nêu rõ phải tổ chức thực hiện tốt “quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”(10). Với nội dung này, Đảng đã thể hiện quyết tâm “dựa vào dân” để chỉnh đốn Đảng ngay ở “đỉnh tháp nhân sự”.

Như vậy, trong gần 35 năm đổi mới, Đảng đã nhận thức ngày càng rõ vai trò của dân chủ và sự cần thiết phải xây dựng thiết chế, hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế và chính sách để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế. Kết quả là, tiến trình dân chủ hóa trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu sau đây:

Thứ nhất, quyền làm chủ của nhân dân đã từng bước được luật hóa. Các Đại hội VI, VII, VIII đều khẳng định: Việc pháp lý hóa các quyền công dân và xác lập thiết chế, thể chế hữu hiệu để thực thi chúng chính là nội dung quan trọng của tiến trình dân chủ hóa. Đây là công việc đầu tiên bởi dân chủ và pháp luật là 2 mặt của một thể thống nhất: Pháp luật đảm bảo cho dân chủ trở thành hiện thực và khi đã có pháp luật thì dân chủ phải được thực thi trong khuôn khổ pháp luật. Trong thời kỳ đổi mới, Hiến pháp đã 3 lần được sửa đổi (1992, 2001, 2013); nhiều bộ luật đã được ban hành và qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, như: Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Giáo dục, Luật Đấu thầu, Luật Phá sản, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế... Đặc biệt, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở vì đó là “nơi thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”(11). Tháng 4-2007, Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về dân chủ ở xã, phường, thị trấn, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”do Đảng đề ra.

Thứ hai, cùng với tiến trình đổi mới, quá trình dân chủ hóa đã diễn ra trong mọi lĩnh vực của đất nước.

Về kinh tế, mô hình kinh tế quan liêu bao cấp từng bước được thay thế bằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (dù đến Đại hội IX, tên gọi đó mới chính thức được Đảng sử dụng). Kinh tế là giá đỡ vật chất cho dân chủ và quá trình dân chủ hóa. Bản chất của kinh tế thị trường là xã hội hóa mọi nguồn lực xã hội để tạo ra của cải và các quan hệ lợi ích phù hợp nên nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu đã được Đảng thừa nhận. Trong nền kinh tế thị trường, người dân được tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm và được khuyến khích làm giàu hợp pháp, đảng viên cũng được làm kinh tế tư nhân. Xung lực to lớn mà dân chủ trong kinh tế mang lại đã góp phần giải phóng tiềm lực trong dân, đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và danh sách nước nghèo.

Về chính trị, việc đổi mới chính trị được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế đã tạo ra quá trình dân chủ hóa của hệ thống chính trị. Đầu tiên là sự phát huy dân chủ trong Đảng làm tiền đề lan tỏa ra toàn xã hội. Từ Đại hội VI đến Đại hội XII, Đảng đều nhấn mạnh phải thay đổi phong cách lãnh đạo và Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng đường lối chứ không “lấn sân” của các thành tố khác trong hệ thống chính trị. Việc bầu cử có số dư, thí điểm bầu trực tiếp bí thư, phó bí thư tại đại hội Đảng cấp cơ sở vàsự ra đời của Quy chế chất vấn trong Đảng cho thấy dân chủ trong Đảng đã từng bước được nâng lên.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một đặc trưng và cũng là một phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH ở nước ta. Theo đó, Nhà nước đảm nhiệm vai trò tạo dựng hành lang pháp lý và quản lý vĩ mô, còn quản lý sản xuất và kinh doanh thuộc về các doanh nghiệp. Nền hành chính quốc gia đã từng bước theo hướng nhà nước phục vụ, nhà nước kiến tạo. Quốc hội không chỉ đóng vai trò là cơ quan lập pháp mà còn ngày càng thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện chính sách. Hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn công khai trong các phiên họp của Quốc hội và lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn đã thể hiện rõ tinh thần dân chủ. Hoạt động của Tòa án và Viện Kiểm sát cũng có nhiều đổi mới như tăng cường vai trò của luật sư và sự tranh tụng tại tòa để hạn chế sự oan, sai.

Việc ra đời và thực hiện “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn  thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” đã góp phần nâng cao vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự ra đời của nhiều tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp đã cơ bản đáp ứng nhu cầu lập hội đa dạng của nhân dân. Mặt khác, sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể đã giúp Nhà nước ngày càng minh bạch hóa hoạt động của mình.

Về phía người dân, Quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở giúp quyền làm chủ của nhân dân được thực thi trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 đã dành 1 chương với  37 điều để quy định quyền con người và quyền công dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, quyền bình đẳng của các dân tộc đã được luật hóa. Sự công bằng, bình đẳng xã hội đã có những bước tiến nhất định.

Tiến trình dân chủ hóa cũng được thực thi trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. Quá trình xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục được đẩy mạnh. Vấn đề bản quyền đã được coi trọng và bảo vệ tốt hơn. Quyền tự do sáng tạo nghệ thuật đi đôi với việc gia tăng trách nhiệm xã hội của đội ngũ văn nghệ sỹ đã được Đảng nhấn mạnh. Các loại hình và số lượng sách, báo, tạp chí nở rộ, góp phần quan trọng phát triển đời sống trí thức, văn hóa.

Đánh giá chung, quá trình dân chủ hóa mọi lĩnh vực của đời sống đất nước đã tạo ra động lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới. Dù vậy, dân chủ trong mọi lĩnh vực vẫn phải được tiếp tục hoàn thiện hơn nữa.              

Trong lĩnh vực chính trị, các căn bệnh chuyên quyền, độc đoán, dân chủ hình thức hay dân chủ cực đoan, tức dân chủ không đi đôi với kỷ cương, phép nước vẫn tồn tại ở mọi cấp, nhưng trầm trọng nhất là ở cấp cơ sở. Do bộ máy hành chính còn rất cồng kềnh và không phân rõ chức năng, nhiệm vụ nên cán bộ dễ “tranh công, đổ tội”. Thủ tục hành chính còn rườm rà gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Chức năng giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng còn mờ nhạt. Các khâu trong công tác cán bộ chưa được minh bạch hóa nên hiện tượng “chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển” vẫn phổ biến. Do chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực nên không ít cán bộ đã biến quyền dân trao thành quyền lực cá nhân.

Trong lĩnh vực kinh tế, những thông tin về quy hoạch đất đai, đấu thầu dự án... còn thiếu sự minh bạch. Tình trạng “sân sau” của quan chức khá phổ biến và điều này làm cho nền kinh tế phát triển một cách “méo mó”, thiếu bình đẳng. Các vụ khiếu kiện của dân (phần lớn liên quan đến việc đền bù  đất đai trong quá trình đô thị hóa) chậm được giải quyết. Tham nhũng chính là sự vi phạm dân chủ trắng trợn khi của cải của nhân dân đã bị một số cá nhân có chức quyền chiếm đoạt nhưng đến nay, hiện tượng này vẫn rất trầm trọng và ngày càng tinh vi. Sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, trên thực tế vẫn chưa được đảm bảo; mức sống của nhân dân ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa còn nhiều chênh lệch so với ở thành phố.

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, sự xâm hại bản quyền tác giả còn phổ biến, dịch vụ y tế, giáo dục, đặc biệt là công tác thi cử còn để xảy ra những hiện tượng tiêu cực, gây dư luận xấu trong xã hội; công tác an ninh và an sinh xã hội chưa được đảm bảo tốt... Như vậy, giữa nhận thức về dân chủ và các chế định luật pháp, giữa luật pháp và sự thực thi luật pháp vẫn còn khoảng cách khá lớn.

2. Giải pháp đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam

Một là, cần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân chủ. Đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền phải ý thức rõ rằng, quyền mà Đảng “cầm” và quyền mà Nhà nước “nắm” thực chất là quyền của dân, do dân ủy thác để phục vụ cho dân. Vì thế, phải thay đổi nhận thức từ chỗ Nhà nước có quyền ban phát theo“cơ chế xin - cho” sang Nhà nước có trách nhiệm phục vụ nhân dân.

Cũng cần phải thẳng thắn nhìn nhận thực trạng dân chủ ở Việt Nam. Việc sử dụng cụm từ “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa”dễ dẫn đến sự ngộ nhận rằng, chúng ta đã có đầy đủ các thiết chế, thể chế, chính sách và chỉ cần phát huy “công năng” của nó mà thôi. Thực chất thì nền dân chủ XHCN ở nước ta còn không ít khiếm khuyết. Cũng cần phải xác định rõ, việc tiếp thu kinh nghiệm thực hành dân chủ của các nước trên thế giới là điều cần thiết, khi Đảng ta khẳng định quyết tâm xây dựng ở Việt Nam nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đòi hỏi cần phải nghiên cứu các hình thức dân chủ ngoài nhà nước, do nhân dân tự quản nhằm khắc phục những giới hạn của nhà nước trong thực thi dân chủ. Cần phải luận giải rõ và thuyết phục về mặt lý luận trong điều kiện một đảng cầm quyền có thể xây dựng “xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa”(12) hay không? Chỉ khi có sự thống nhất trong nhận thức thì mới có thể thực hành trên thực tế hoặc phản bác lại các quan điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch. Nhìn chung, còn nhiều vấn đề lý luận về dân chủ cần được nhận thức lại một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Hai là, luật pháp là “bà đỡ” của dân chủ nên tất yếu phải tăng cường việc xây dựng hành lang pháp lý cho việc thực thi dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội. Mặc dù Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định việc Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình và phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp nhưng Hiến pháp là “luật gốc”, và cần phải được cụ thể hóa bằng các bộ luật thì mới có thể kiểm soát quyền lực và mở đường cho dân chủ phát triển. Luật Biểu tình, Luật về Hội cần sớm ban hành vì Điều 25 Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ là công dân có quyền “lập hội, biểu tình”(13). Trong quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, cũng cần phải có Luật Dân tộc để đảm bảo sự thực thi trên thực tế nguyên tắc “các dân tộc đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau”. Để nâng cao hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thì phải có Luật về phản biện xã hội bởi hiện nay không có chế tài buộc các cơ quan nhà nước phải tiếp thu ý kiến hoặc giải trình về những điều được phản biện. Chống tham nhũng chính là thực thi dân chủ, nên cần ban hành Luật Kê khai tài sản vì minh bạch hóa tài sản là công cụ “hữu hiệu” để kiểm soát “quan tham” và tạo cơ sở cho việc thu hồi tài sản tham nhũng...

Ba là, quá trình dân chủ hóa đòi hỏi phải đổi mới công tác tổ chức cán bộ. Khi dân chủ trong Đảng đóng vai trò “hạt nhân” thì Đảng phải trở thành mẫu mực của “văn hóa dân chủ”. Đảng phải tăng cường đối thoại với nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức, lắng nghe ý kiến của họ. Việc “độc quyền chân lý”, áp đặt tư tưởng, “quy chụp quan điểm” cho các ý kiến phản biện một cách thiếu cơ sở đều cản trở quá trình dân chủ hóa đất nước. Muốn tránh các hiện tượng “mua quan, bán tước” thì phải minh bạch hóa công tác cán bộ, phải đổi mới hơn nữa công tác bầu cử, đẩy mạnh công tác tranh cử, phải coi trọng sự đánh giá của nhân dân về cán bộ và phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu.

Bốn là, phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và truyền thông để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng phản dân chủ và nhân rộng các cách làm tốt, điển hình hay. Mặt khác, do quyền lực của các cơ quan thanh tra, kiểm tra và báo chí rất lớn nên cũng phải chống tiêu cực ở ngay các cơ quan chống tiêu cực.

Cuối cùng, khi dân chủ là “của quý báu” của dân thì phải tạo thiết chế, chế tài phù hợp để hiện thực hóa vai trò, trách nhiệm phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự lệ thuộc vào ngân sách nhà nước đã làm các tổ chức này khó thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm phản biện của mình, cho nên, tìm ra cơ chế tài chính cho nó, cũng là vấn đề cần xem xét. Cũng phải đẩy mạnh mô hình tự quản của các cộng đồng đồng dân cư trên cơ sở quy ước, hương ước và không trái với pháp luật. Mặt khác, cũng phải kiên quyết chống các hiện tượng dân chủ “quá trớn” hay lợi dụng dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc mà thực chất đó chính là lợi ích của dân.

Bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào việc có một đảng hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, quyền lực nhà nước được sử dụng vào mục đích gì, nhưng nguy cơ độc đoán, chuyên quyền của một đảng duy nhất cầm quyền là có thật. Muốn khắc phục nguy cơ đó thì Đảng phải cầm quyền theo Hiến pháp và pháp luật, phải đẩy mạnh dân chủ trong Đảng, phải gắn bó thực sự với nhân dân. Khi lợi ích của dân là thước đo chân lý thì xây dựng và vận hành đầy đủ các thiết chế, thể chế, chế tài đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đảm bảo lợi ích của dân và tạo điều kiện để mỗi chủ thể phát huy năng lực sáng tạo của mình, chính là sự thực hành dân chủ, chống quan liêu, tham nhũng một cách thiết thực nhất.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2019

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.29, 209.

(3) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, 1991, tr.125.

(4) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.80.

(5) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.85-86.

(6) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.68.

(7), (8) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70, 100.

(9), (10) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,  Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.169, 170.

(11) Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị ngày 18-2-1998về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

(12) Lê Hữu Nghĩa: Thực hành và phát huy dân chủ qua 30 năm Đổi mới, In trong: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc Đổi mới của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.714.

(13) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.18.

PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

Các bài viết khác