Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Kinh tế tư nhân - Một động lực quan trọng của nền kinh tế
Thứ hai, 16 Tháng 3 2020 16:48
83 Lượt xem

Kinh tế tư nhân - Một động lực quan trọng của nền kinh tế

(LLCT) - Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam gắn liền với quá trình hoàn thiện và phát triển các quan điểm của Đảng về kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN. Từ thực tiễn và những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã xác định rõ hơn vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế”. Theo hướng đó, bài viết làm rõ hơn vai trò động lực của kinh tế tư nhân (KTTN), những thành quả bước đầu thực hiện vai trò động lực của KTTN và những giải pháp cơ bản để KTTN trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

Từ khóa: kinh tế tư nhân, động lực kinh tế.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cách mạng công nghiệp diễn ra nhanh chóng, bên cạnh nhiều cơ hội còn có cả những thách thức. Bối cảnh mới đòi hỏi kinh tế Việt Nam phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu sở hữu và các loại hình doanh nghiệp, phát triển KTTN để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

1. Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về kinh tế tư nhân

Sự đổi mới tư duy, nhận thức và quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề sở hữu đã được hình thành từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8-1979) đã đề ra chủ trương giải phóng sức sản xuất, khắc phục những khuyết điểm trong quản lý kinh tế và cải tạo XHCN, tạo động lực phát triển sản xuất và cải thiện mức sống của nhân dân. Nhưng do được thực hiện trong khuôn khổ cơ chế tập trung bao cấp nên còn nhiều hạn chế.

Đại hội VI của Đảng (1986) đã chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, trong chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, trong đó có những thiếu sót trong nhận thức về vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế. “Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần kinh tế ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”(1).

Trên cơ sở nhận thức lý luận và những thử nghiệm đổi mới từ phong trào quần chúng và những kết quả bước đầu từ khoán trong nông nghiệp và kinh tế ngoài quốc doanh, Đảng ta đã có những đổi mới nhận thức và tư duy về sở hữu và các thành phần kinh tế. Do đó, Đảng ban hành và đã có những chủ trương phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Đại hội VII của Đảng (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đảng ta khẳng định: “Thiết lập từng bước quan hệ xã hội chủ nghĩa từ thấp lên cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế “khẳng định tính nhất quán, lâu dài của chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Coi giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh”(2).

Đại hội IX của Đảng (năm 2011) thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010 tiếp tục khẳng định: “Trong thời kỳ quá độ có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, xác định một tư tưởng hết sức quan trọng là: Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp(3).

Đại hội XII của Đảng (2016) làm rõ hơn định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường và vai trò của KTTN: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”(4).

Như vậy, quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển KTTN ngày càng hoàn thiện. Các chủ trương đó dựa trên những luận cứ khoa học và phù hợp với logic nhận thức từ thừa nhận kinh tế thị trường đến thừa nhận sự tồn tại khách quan về vai trò động lực của KTTN trong nền KTTT định hướng CNXH, nhận diện toàn diện và đầy đủ, đặc biệt là những đặc trưng tích cực vốn có của KTTN: nhạy cảm, năng động, thích ứng với cơ chế thị trường, tự chủ điều kiện tốt cho đổi mới sáng tạo, quan hệ sở hữu với lợi ích nguồn nuôi dưỡng động lực phát triển, trong tác phẩm.

Đối với nước ta, phát triển KTTN là khởi động một bộ phận quan trọng có nhiều tiềm năng, gia tăng quy mô và nội lực kinh tế của đất nước. Về chính trị, phát triển KTTN là thực quyền làm chủ của nhân dân, huy động rộng rãi mọi nguồn lực vào phát triển. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể sản xuất kinh doanh trong tất cả các ngành, các lĩnh vực là giải pháp cơ bản tăng quy mô nền kinh tế, biến tiềm năng thành khả năng hiện thực. Từ vị trí mới, KTTN sẽ là nội lực tạo thành một đối chứng năng động cùng với các khu vực kinh tế khác hợp tác, cạnh tranh và phát triển.

2. Thành quả bước đầu thực hiện vai trò động lực của kinh tế tư nhân

Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh làm gia tăng quy mô nền kinh tế

Số lượng doanh nghiệp là một trong những tiêu chí thể hiện quy mô và năng lực cạnh tranh quốc gia. Giai đoạn đầu đổi mới (1991), cả nước chỉ có 414 DNTN, năm 2003 có 72.601 DNTN. Giai đoạn 2011 - 2018 là giai đoạn có môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn so với các giai đoạn trước với 55 đạo luật quan trọng được bổ sung, hoàn thiện và có hiệu lực. Thí dụ như, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phá sản, Luật Hải quan 2014, Luật Đất đai 2015. Giai đoạn 1991 - 2000, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh là 60 nghìn, đến giai đoạn 2001 - 2010 là 440 nghìn. Tính đến cuối năm 2018, Việt Nam có 714.755 doanh nghiệp. Điều này chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện đáng kể, KTTN đã trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, là lực lượng bù đắp cho sự suy giảm của KTTN.

Đóng góp vào tăng trưởng GDP

Khu vực KTTN đóng góp quan trọng vào quy mô của nền kinh tế. Trong ba khu vực kinh tế sở hữu, khu vực KTTN có đóng góp nhiều hơn vào GDP của nền kinh tế tại mọi thời điểm, mức độ đóng góp ngày càng tăng theo thời gian. Năm 2015, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế là 6,18% thì KTTN tăng trưởng 2,75%, năm 2017 tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đạt 6,81% thì KTTN tăng 2.69%, năm 2018, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế là 7,08% thì KTTN là 3,15%. Ngoài đóng góp vào tốc độ tăng trưởng còn phải tính đến cách thức đóng góp, trong đó có năng suất tổng hợp TTP (công nghệ, quản trị, sử dụng các nguồn lực). Mặc dù trình độ công nghệ của KTTN thấp hơn khu vực KTTN và FDI nhưng do sử dụng các nguồn lực tốt hơn nên hiệu quả đầu tư luôn cao hơn.

Đóng góp vốn đầu tư phát triển

KTTN đóng góp lớn vào vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2015 - 2018: vốn đầu tư của 3 khu vực đều tăng nhưng khu vực KTTN và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhẹ, khu vực KTTN tăng nhanh hơn. Tỷ trọng trong cơ cấu đầu tư của KTTN chiếm tỉ trọng cao nhất so với KTNN và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Về hiệu quả đầu tư, KTTN có hiệu quả cao nhất trong điều kiện khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức và lao động qua đào tạo. KTNN có hiệu quả thấp nhất, khu vực FDI mặc dù có trình độ công nghệ khá hơn nhưng hiệu quả cũng không cao. Nguyên nhân chính là do phần lớn các doanh nghiệp đều sử dụng công nghệ trung bình, chủ yếu gia công cho các công ty mẹ ở nước ngoài và chuyển giá. Trong 2 năm 2014 và 2015, hệ số ICOR của khu vực KTNN là 12,7 và 9,7, KTTN là 5,6 và 5,5; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 6,1 và 5,7.

Đóng góp vào tỷ trọng lao động và tạo việc làm

Theo số liệu của tổng cục thống kê, tổng số lao động trong các doanh nghiệp tư nhân năm 2015 là 7,4 triệu lao động, cao gấp 1,58 lần so với tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp của năm 2001. So sánh giữa 3 khu vực sở hữu, KTTN có số lượng lao động cao nhất trong giai đoạn 2015 - 2018 chiếm khoảng 70% lao động xã hội. Từ năm 2010 - 2018 bình quân mỗi năm tạo thêm hơn 1 triệu việc làm mới. Có lẽ, đây là đóng góp lớn nhất của khu vực KTTN. Tuy nhiên, do phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, trình độ công nghệ hạn chế nên chất lượng việc làm và năng suất lao động còn thấp.

Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới sáng tạo

Sau giai đoạn đầu tư vào các lĩnh vực phát triển nóng như: bất động sản, chứng khoán, với tiềm năng của thị trường nội địa cộng với tầm nhìn dài hạn, một số tập đoàn KTTN đã chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực bền vững hơn là nông nghiệp. Trong đó, một số tập đoàn đã thành công và có được chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế giới, chẳng hạn như: TH Truemilk, Hoàng Anh Gia Lai đầu tư vào chăn nuôi bò sữa. Với lợi thế khí hậu, quỹ đất lớn nên các tập đoàn kiểm soát được thức ăn thô xanh và chất lượng của thức ăn. Trang trại nuôi bò, trồng cỏ nhà máy đều nằm tập trung nên các dự án của các tập đoàn KTTN đầu tư đều có quy mô lớn, công nghệ hiện đại kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm, áp dụng công nghệ cao và quản trị chuyên nghiệp nên bảo đảm chất lượng. Ngoài tiêu dùng trong nước, sản phẩm còn được xuất khẩu sang thị trường một số nước phát triển.

Cùng với những thành tựu trong nông nghiệp, một số tập đoàn tư nhân đã đi tiên phong trong đổi mới sáng tạo như Vingroup. Ngoài vị trí hàng đầu về bất động sản, Vingroup đã thành công trong sản xuất công nghiệp và xây dựng, sản xuất ô tô, xe máy, điện thoại thông minh, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia. Tập đoàn Hòa Phát chiếm thị phần lớn nhất về sản xuất thép, tập đoàn Sungroup  đứng đầu về dịch vụ giải trí, tập đoàn FPT khai mở doanh nghiệp số, mở ra triển vọng về xuất khẩu phần mềm. Sự ra đời của một số hãng hàng không tư nhân làm tăng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng không,...

Thúc đẩy cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh

Từ năm 2005 đến nay, hằng năm, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đây là hoạt động có tác động to lớn đối với thúc đẩy cải cách nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Về thực chất là phản ánh sự đánh giá của các doanh nghiệp tư nhân với môi trường đầu tư kinh doanh. Kết quả của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có tác động trực tiếp tới các cơ quan quản lý của chính quyền địa phương, tới doanh nghiệp trong việc cải cách thủ tục hành chính bảo đảm tính minh bạch, bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn lực, giảm chi phí không chính thức, đối thoại công tư, kịp thời tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp.

Như vậy, từ các tiêu chí đánh giá vai trò của KTTN đối với nền kinh tế: đóng góp vào tăng trưởng GDP, vào vốn đầu tư xã hội, lao động và tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy cải cách và đã đạt được những thành quả bước đầu về thể hiện vai trò động lực của KTTN. Tuy nhiên khu vực KTTN còn một số hạn chế sau đây:

 - Số lượng DNTN còn hạn chế: Việt Nam hiện nay có dân số 95 triệu người nhưng chỉ có 750 nghìn doanh nghiệp, trong khi Thái Lan với 69 triệu dân có 2,8 triệu doanh nghiệp, Malaysia có 39 triệu dân và 1,6 triệu doanh nghiệp.

- Các doanh nghiệp khu vực KTTN phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, còn ít các tập đoàn KTTN quy mô lớn, có tác động lan tỏa. Trình độ công nghệ thấp, năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế.

- Phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh biệt lập thiếu liên kết với DNNN và DN FDI nên không khắc phục được hai điểm yếu hiện hữu: trình độ công nghệ và khả năng mở rộng thị trường.

- Hạn chế về năng lực nội sinh, năng lực tài chính, năng lực quản trị: Chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Phần lớn chưa được đào tạo cơ bản, thiếu tính chủ động liên kết sản xuất kinh doanh, một số doanh nhân chưa tuân thủ pháp luật làm phương hại đến lợi ích khách hàng, uy tín của doanh nghiệp...

3. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế

Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý

Từ thực tiễn phát triển KTTN, việc hoàn thiện môi trường pháp lý cho KTTN cần tập trung giải quyết 3 vấn đề sau đây:

- Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán có tính dài hạn dễ đoán định để KTTN yên tâm đầu tư kinh doanh lâu dài. Tiếp tục hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng thực sự giữa KTTN, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và KTTN, bình đẳng tiếp cận các nguồn lực, trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội.

- Để phù hợp với thực tiễn hiện nay, hộ cá thể chiếm tỷ trọng lớn về số lượng và đóng góp vào tăng trưởng (3 triệu hộ công thương, 10 triệu hộ nông dân). Vì vậy, cần xúc tiến xây dựng các luật về kinh doanh cá thể và nhóm kinh doanh cá thể trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và kinh tế hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.

- Việc tạo lập hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, quy định rõ những việc mà tư nhân không được làm, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc tôn trọng quyền và trách nhiệm của cơ sở KTTN, trách nhiệm đền bù những thiệt hại của KTTN do các cơ quan quản lý gây ra.

- Tiếp tục rà soát, phân loại cải cách hành chính một cách mạnh mẽ và đồng bộ, nhất là các thủ tục liên quan đến lĩnh vực thu hút đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, tài chính hướng tới giải quyết công việc thuận lợi nhất. nhanh nhất cho nhân dân và các nhà đầu tư.

- Thực hiện phân cấp triệt để và toàn diện theo quy định hiện hành tại các ngành, địa phương trên các lĩnh vực như: Nguyên tắc của phân cấp là việc gì, cấp nào quản lý có hiệu quả thì giao cho cấp đó quản lý và điều hành, nhưng phải đảm bảo sự quản lý thống nhất về mặt nhà nước.

- Từng bước hiện đại hóa nền hành chính, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức nhất là trụ sở làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin trụ sở tại chính quyền các cấp theo chuẩn quốc gia. Đồng thời, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, bố trí luân chuyển đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản nhằm tạo bước chuyển biến mạnh về chất trong hệ thống chính quyền.

- Đẩy nhanh xây dựng chính quyền điện tử để giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) như: (1) xây dựng hệ thống mạng điện tử hành chính trong nội bộ các cơ quan kết nối từ chính quyền tỉnh đến quận, huyện và các xã; (2) công bố tất cả các TTHC liên quan tại một trang web duy nhất, phân loại TTHC theo cơ quan ban hành, theo cơ quan giải quyết, theo ngành cũng như các tài liệu, thời gian tối đa giải quyết; (3) công khai hóa vấn đề xử lý, hướng dẫn TTHC (nếu chưa hoàn thành) trên mạng, công chức có trách nhiệm trả lời trực tiếp ý kiến, kiến nghị qua mạng internet; (4) từng bước tiến tới việc giải quyết TTHC và trả lời thông qua mạng, giảm thời gian chi phí cho doanh nghiệp.

- Giảm dần đi đến xóa bỏ điều kiện kinh doanh (giấy phép con) hiện vẫn còn là trở ngại lớn đối với doanh nghiệp; tăng tính công khai, minh bạch trong việc tiếp cận thông tin, các tài liệu liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch sử dụng đất để hạn chế bị rủi ro nếu bị thu hồi, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kế hoạch mua sắm công đấu thầu, đấu giá,...

Hoàn thiện chính sách khởi nghiệp

Doanh nghiệp khởi nghiệp là doanh nghiệp được lập ra với kì vọng tăng trưởng nhanh dựa trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Chính sách khởi nghiệp là loại chính sách công do nhà nước hoạch định để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh đổi mới sáng tạo và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, đây là chính sách thiết thực có tính thực tiễn cao trong điều kiện số lượng doanh nghiệp của Việt Nam vào loại thấp nhất so với khu vực và thế giới.

Để thúc đẩy khởi nghiệp cần có hệ thống chính sách đồng bộ. Đến năm 2018, Việt Nam chưa có một hệ thống chính sách đầy đủ liên quan đến khởi nghiệp. Phần lớn nằm trong chính sách chung về phát triển kinh tế - xã hội. Tuy đã có một số chính sách liên quan đến hoạt động khởi nghiệp nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ. Hành lang pháp lý cho hoạt động khởi nghiệp chưa đầy đủ và cụ thể: huy động vốn, đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế, hỗ trợ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ tạo lập các vườn ươm khởi nghiệp, thiếu sự gắn kết phối hợp gắn kết giữa các bộ phận cần thiết hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực của các cá nhân, tổ chức khởi nghiệp. Để khắc phục những hạn chế trên, cần thực hiện các giải pháp sau đây:

- Xây dựng và hoàn thiện thể chế: chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương với mục tiêu và lộ trình rõ ràng dễ đoán định, các chính sách liên quan đến huy động và sử dụng các nguồn lực đổi mới và sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm.

- Đổi mới chính sách đào tạo ngay từ bậc phổ thông về kinh doanh gắn kết học và làm, tinh thần đổi mới sáng tạo; gắn nhà trường với doanh nghiệp giúp cho học sinh, sinh viên hiện thực hóa ý tưởng của mình theo hướng thực hành, thực danh, thực nghiệp.

- Hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin dễ dàng truy cập, xử lý, sử dụng. Xây dựng vườn ươm khởi nghiệp để thực nghiệm các phương án kinh doanh, hỗ trợ bổ túc kiến thức kỹ năng lập nghiệp: lựa chọn mục tiêu, ý tưởng, lĩnh vực và phương án kinh doanh, lựa chọn sản phẩm, thị trường, huy động các nguồn lực. Tổ chức các diễn đàn, hội nghị trao đổi kinh nghiệm khởi nghiệp, truyền cảm hứng cho học sinh, sinh viên có ý tưởng khởi nghiệp.

- Có sự hỗ trợ của nhà nước, các nhà tài trợ xây dựng cơ chế huy động vốn hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm và quỹ bảo lãnh tín dụng. Trong giai đoạn khởi nghiệp, sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp có vai trò quan trọng. Có chính sách khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp: đăng ký kinh doanh, tư vấn pháp lý lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, huy động sử dụng vốn và tiếp cận thị trường.

Xây dựng đội ngũ doanh nhân trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế

Mặc dù các DNTN Việt Nam có quá trình phát triển trong nền kinh tế thị trường chưa lâu, phần lớn được hình thành và phát triển trong 30 năm đổi mới nhưng năng lực lãnh đạo quản lý doanh nghiệp đã và đang được phát huy. Nhờ đó, đội ngũ doanh nhân ngày càng khẳng định vai trò của mình trong quá trình phát triển đất nước.

So với trước đây (năm 1986), đội ngũ doanh nhân đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, và đã trở thành một bộ phận ưu tú, có lòng tự tôn dân tộc, đa số có khát vọng làm giàu chính đáng, ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò và vị trí của mình đối với đất nước. Một bộ phận đã thể hiện được đặc trưng và phẩm chất của doanh nhân hiện đại: tự tin, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, nhận biết và tận dụng các cơ hội kinh doanh, có ý thức học tập, rèn luyện, có kiến thức, kỹ năng, tâm huyết với sự phát triển của doanh nghiệp và đất nước.

Mặc dù doanh nhân Việt Nam đã đạt được những ưu điểm nêu trên, nhưng vẫn còn một số hạn chế: số lượng, đặc biệt là chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước nhất là thời kỳ cách mạng công nghệ diễn ra nhanh chóng, nước ta đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Phần lớn thiếu tầm nhìn xa trông rộng, thiếu tính chủ động liên kết trong sản xuất kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp FDI để tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu. Hầu hết các doanh nhân chưa được đào tạo kỹ năng lãnh đạo quản lý. Thiếu đội ngũ doanh nhân chuyên nghiệp có tầm, có kiến thức kinh nghiệm trong quan hệ, đàm phán với đối tác nước ngoài nên gặp không ít khó khăn và không tránh khỏi những sơ hở thua thiệt.

Để xây dựng đội ngũ doanh nhân trong bối cảnh mới, cần nhận thức đầy đủ về vị thế và vai trò của tầng lớp doanh nhân trong nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế. Tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về vai trò của doanh nhân. Khuyến khích làm giàu chính đáng, coi hoạt động kinh doanh, nhiều của cải cho xã hội là một trong những mục tiêu hàng đầu của đất nước. Từ đó, nhận thức đúng với sự cống hiến và thu nhập chính đáng của doanh nhân.

Tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, cải cách thủ tục hành chính, công khai minh bạch các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm cho doanh nhân các khu vực kinh tế bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực như: vốn, đất đai, thông tin, thị trường. Hạn chế đi đến xóa bỏ độc quyền, đặc quyền, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để có một thế hệ doanh nhân chân chính.

Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng doanh nhân, đề cao đạo đức, ý thức trách nhiệm với đất nước như: sự trung thực, ý thức tự cường, tính chủ động sáng tạo, tinh thần hợp tác, truyền thống dân tộc, ý thức cộng đồng kinh doanh văn minh. Triển khai đưa giáo dục kinh doanh vào chương trình giáo dục phổ thông, dạy nghề, phổ cập đào tạo khởi sự doanh nghiệp. Nghiên cứu xây dựng và triển khai thực hiện chương trình quốc gia về đào tạo doanh nhân theo hướng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, có chính sách khuyến khích hỗ trợ doanh nhân nâng cao kiến thức và kỹ năng quản trị hiện đại, phát huy và bổ sung các tố chất cần thiết để đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để doanh nghiệp, doanh nhân thực hiện đổi mới công nghệ, sản phẩm và dịch vụ, tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.

Khuyến khích phát triển thị trường dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ kinh doanh: đào tạo, cung cấp thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng phương án kinh doanh tư vấn đổi mới và chuyển giao công nghệ, liên kết sản xuất kinh doanh. Khuyến khích phát triển các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp để phối hợp hỗ trợ lẫn nhau, khắc phục những khó khăn bất lợi trong quan hệ thương mại quốc tế .

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 12-2019

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.337.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.72.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.85.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.103.

PGS, TS Nguyễn Cúc

Học viện Chính trị khu vực I

Các bài viết khác