Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, 18 Tháng 3 2020 20:09
4005 Lượt xem

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trong giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định: “Bảo đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể, nhất là lợi ích kinh tế”(1). Chính vì vậy, việc giải quyết các quan hệ lợi ích một cách hài hòa, nhất là giữa lợi ích cá nhân (LICN) và lợi ích xã hội (LIXH) chính là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay.

Từ khóa: quan hệ lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội.

1. Vai trò của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Lợi ích là một trong những động lực hoạt động của con người, của sự biến đổi xã hội và là một trong những vấn đề căn bản, có ý nghĩa quyết định bản chất các mối quan hệ trong xã hội. Suy cho cùng, sự phát triển xã hội là kết quả của những hoạt động có ý thức của con người “đang theo đuổi những mục đích nhất định”. Lợi ích chính đáng là động cơ thôi thúc hành động của mỗi con người; việc giành, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp bao giờ cũng là động lực mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất thôi thúc con người ta hoạt động. Lợi ích chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người: nhu cầu - lợi ích - mục đích - hoạt động. Ở góc độ xã hội, lợi ích là động lực của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng và là nguyên nhân sâu xa của mọi mâu thuẫn xã hội. Mỗi lợi ích đều có những chủ thể xác định và mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc biệt giữa LICN và LIXH, tạo nên những vector thúc đẩy hoạt động của con người và sự vận động của xã hội theo những chiều hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau. Trong đó, quan hệ giữa LICN và LIXH là quan hệ lợi ích căn bản của xã hội, chi phối đến sự phát triển của cá nhân và xã hội.

Lợi ích cá nhân, đó là tất cả những lợi ích vật chất, tinh thần gắn liền với từng cá nhân cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của cá nhân đó, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân; bao gồm: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,... Lợi ích xã hội là cái phản ánh quan hệ nhu cầu của xã hội và là cái dùng để thỏa mãn nhu cầu chung của toàn xã hội về một (một số) đối tượng (vật chất, tinh thần) nhất định, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thể hiện các quan hệ cơ bản và lâu dài của xã hội. LIXH ở đây không phải là lợi ích của một nhóm người, một giai tầng, mà đó là lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích chung của các cá nhân cấu thành dân tộc, của cả dân tộc và không mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân loại tiến bộ.

Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm, LICN không chỉ đơn giản nằm trong mỗi cá nhân cụ thể, nó có thể nằm trong một chủ thể nhất định nào đó khi ta xét lợi ích của chủ thể đó với tư cách độc lập, tách biệt với các chủ thể khác, tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chủ thể của LICN chỉ được xét ở góc độ là ở trong mỗi cá nhân. Chủ thể của LIXH thông thường đó chính là Đảng, Nhà nước, nó có thể biểu hiện ở phạm vi nhà nước Trung ương, hay chính quyền ở địa phương. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, chủ thể của quan hệ giữa LICN và LIXH được biểu hiện chủ yếu thông qua quan hệ lợi ích giữa cá nhân và Nhà nước.

Quan hệ giữa LICN và LIXH bao gồm cả mặt thống nhất và mâu thuẫn với nhau; trong đó thường thể hiện ở trạng thái mất cân bằng do các chủ thể lợi ích khi thì đề cao lợi ích này, khi thì đề cao lợi ích kia. Điều này thể hiện sự phức tạp của quan hệ lợi ích trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trong quá trình thực hiện lợi ích của mình, mỗi chủ thể luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích thiết thân, khó chấp nhận từ bỏ lợi ích bản thân, dù điều đó có thể tạo mâu thuẫn, xung đột với các chủ thể lợi ích khác. Thực chất của việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay là quá trình tác động vào việc nhận thức và thực hiện lợi ích của cá nhân và xã hội, tạo ra sự hài hòa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Từ khi đổi mới (1986) đến nay, vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, nhất là giữa LICN và LIXH đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân phối, tạo động lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Quá trình đó đã đạt được những kết quả nhất định, đó là:

Thứ nhất, cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội bước đầu đã được quan tâm giải quyết theo hướng thúc đẩy sự phát triển

Có thể khẳng định, lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển trên nhiều phương diện qua đó tạo cơ sở bước đầu giải quyết lợi ích xã hội phù hợp và ngược lợi ích xã hội bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng được thực hiện. Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội cùng việc thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) trong những năm qua đã tạo lập những giá trị mới của xã hội, tạo lập sự công bằng về cơ hội trong việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị của phát triển. Đời sống của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên, quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ, nhất là trong sở hữu và phân phối. Lợi ích của các giai tầng cụ thể, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm đúng mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm, ASXH và PLXH được thực hiện tốt... Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm qua luôn ở trên 6,5%, trong đó, năm 2018, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt trên 240 tỷ USD, tăng 7,08% so với năm 2017, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017, trên 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế(2)... Gần 800.000 người khuyết tật không có khả năng lao động được nhận trợ cấp hằng tháng(3).

Hơn 30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta từng bước khắc phục được tư duy tuyệt đối hóa lợi ích xã hội trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Đó là việc chủ thể sở hữu tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận, đến chỗ thừa nhận và hiện nay coi đó “là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43% GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP) và “kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 39% tổng đầu tư toàn xã hội và tiếp tục tăng lên, năm 2012 là 385 nghìn tỷ đồng và năm 2015 đạt 490 nghìn tỷ đồng”(4).

Thứ hai, Đảng và Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện ngày một tốt những chủ trương, chính sách đúng đắn về tạo cơ hội phát triển của cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện ngày một tốt trên thực tế những chủ trương đúng đắn về tạo cơ hội phát triển cho cả LICN và LIXH trên mọi lĩnh vực, nhất là trong sở hữu và phân phối.

Sự thay đổi chủ trương, chính sách về sở hữu. Trước hết, về chủ thể sở hữu: chuyển từ việc chỉ thừa nhận vai trò độc tôn của chủ thể sở hữu là Nhà nước đối với các tư liệu sản xuất cơ bản sang công nhận nhiều chủ thể sở hữu (nhà nước, tư nhân, hỗn hợp). Về đối tượng sở hữu, ngoài những đối tượng sở hữu truyền thống như đất đai, tài nguyên, máy móc,... xuất hiện các đối tượng sở hữu mới như các sản phẩm trí tuệ, thông tin, thị trường, thương hiệu, tên miền internet, tài nguyên số, không gian vũ trụ, thậm chí là sở hữu cơ hội phát triển... đều được công nhận và đóng vai trò to lớn hơn trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Về hình thức sở hữu: nếu như trước đổi mới, chúng ta chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, thì từ đổi mới đến nay, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, các hình thức sở hữu ở Việt Nam đã được ghi nhận bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu tư bản nhà nước, sở hữu có yếu tố nước ngoài và sở hữu hỗn hợp; tương ứng với đó là có nhiều thành phần kinh tế tương ứng.

Sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân phối cũng đã có tác động rất lớn đến việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH ở nước ta hiện nay. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã có những thay đổi chủ trương, chính sách về phân phối một cách hợp lý hơn. Tại Đại hội IX, Đảng chỉ rõ: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”(5). Về chủ thể phân phối, đã xác định rõ vai trò của ba chủ thể phân phối là Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, trong đó, thị trường là một kênh phân phối nguồn lực hiệu quả, phân phối thu nhập quan trọng và góp phần đắc lực vào phân phối cơ hội phát triển cho mọi chủ thể kinh tế tự do làm giàu trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm nhằm tối đa hóa lợi ích riêng của mình, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Về khách thể phân phối, không chỉ là phân phối về thu nhập, mà đó còn là phân phối nguồn lực, cơ hội phát triển, phân phối phát triển. Đó còn là sự đa dạng về hình thức phân phối như Đại hội XII khẳng định, đó là: phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh, phân phối thông qua PLXH, phân phối thông qua hệ thống ASXH.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được nêu trên, việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH cũng còn những hạn chế nhất định, đó là:

Thứ nhất, tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm lợi ích cá nhân chính đáng của nhân dân lao động vẫn tồn tại và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Biểu hiện của tình trạng này đó là những hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện của “lợi ích nhóm” tiêu cực, hay “tư bản thân hữu”... trong rất nhiều lĩnh vực của xã hội, nhất là trong sở hữu, quản lý tài sản của Nhà nước, lĩnh vực đất đai, xây dựng. Thực chất của những biểu hiện này chính là việc đề cao LICN không chính đáng, vi phạm đến LIXH, lợi ích của nhân dân lao động và của cá nhân khác. Theo Báo cáo của Ban Nội chính Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến hết năm 2018 đã thi hành kỷ luật hơn 500 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó 1.300 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái(6); nhiều vụ án về tham ô, tham nhũng, lãng phí thời gian qua đã được đưa ra xử lý như: các cá nhân tham nhũng trong vụ việc MobiFone mua lại 95% cổ phần của AVG, vụ án liên quan đến Phan Văn Anh Vũ, (tức Vũ “nhôm”), Dự án Xơ sợi Đình Vũ, Dự án Gang thép Thái Nguyên... Cho đến những hiện tượng tham nhũng “vặt” cũng đang gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Thứ hai, tình trạng đề cao LICN không chính đáng, vi phạm LIXH và LICN khác gây ra những tổn hại cho sự phát triển xã hội vẫn có xu hướng phức tạp. Hiện tượng buôn lậu, trốn thuế của nhiều cá nhân, doanh nghiệp; các hiện tượng hàng giả, hàng kém chất lượng; thực phẩm “bẩn”, cho đến những hành vi xây dựng nhà ở, khu đô thị, phá vỡ quy hoạch chung của thành phố, xây nhà không phép, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn, không gian công cộng, xây dựng các chung cư không theo quy định, không đảm bảo tiện ích theo quy định xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở thành phố lớn; những hiện tượng xe quá khổ, quá tải, xâm hại, lấn chiếm các công trình công cộng, công trình Nhà nước... đang làm cho LIXH mà Nhà nước là đại diện bị những tổn hại rất lớn. Cho đến những hiện tượng trộm, cướp ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn trở thành nỗi bất an của người dân; tình trạng lừa đảo, các mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng, “chơi hụi”, cho vay nặng lãi - tín dụng “đen”, đòi nợ thuê... đang gây những hệ lụy không nhỏ đối với cuộc sống của nhiều cá nhân, gia đình, gây phức tạp tình hình kinh tế - xã hội. 

Thứ ba, nhiều lợi ích xã hội chưa được thực hiện một cách phổ quát song vẫn còn tồn tại những biểu hiện đề cao lợi ích xã hội, trong khi lợi ích cá nhân chính đáng, chưa được chú ý một cách đúng mức. Cụ thể khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; thu nhập, đời sống của người lao động còn thấp; lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao (một số huyện, xã lên đến 50%), cả nước có khoảng 1% số người vẫn trong tình trạng thiếu đói. Một số nội dung của ASXH (chính sách bảo đảm việc làm, thu nhập và giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và thường xuyên cho người dân; chính sách dịch vụ xã hội cơ bản) và PLXH chưa được thực hiện tốt, vẫn diễn ra “nghịch lý an sinh xã hội”, thể hiện đặc biệt rõ qua việc so sánh tỷ trọng trợ cấp ASXH mà các hộ gia đình giàu và nghèo nhận được. Nhóm nghèo nhất nhận được 6,6% tổng chỉ tiêu trợ cấp ASXH tương đương 70.000 đồng/năm/người, trong khi đó nhóm giàu nhất nhận được 39% tương đương với 660.000 đồng/người /năm tiền chi tiêu trợ cấp ASXH(7).

Ở khía cạnh khác, mặc dù, Đảng ta khẳng định: các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, tuy nhiên có thể thấy lĩnh vực kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực, thậm chí gặp những rào cản trong quá trình phát triển (nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhận thức về kinh tế tư nhân còn chưa thông suốt, tình trạng tham nhũng, tham ô, sách nhiễu đối với kinh tế tư nhân còn nhiều...). Chính vì vậy, trong năm 2018, số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới chưa đáp ứng nhu cầu đề ra, hoạt động của kinh tế tư nhân chưa có những khởi sắc lớn, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của thành phần kinh tế này đối với quá trình phát triển đất nước.

3. Giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ lợi ích, nhất là giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích để các chủ thể lợi ích xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ lợi ích, tránh xung đột lợi ích giữa các chủ thể. Cần nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của sự thống nhất lợi ích. Mỗi chủ thể cần được giáo dục để tự đặt lợi ích của bản thân trong mối quan hệ với các lợi ích khác. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, chủ thể cá nhân cần nhận thức được rằng, lợi ích xã hội chỉ có thể đạt được khi mỗi cá nhân cố gắng thực hiện tốt các lợi ích chính đáng của mình thông qua việc tích cực học tập, lao động, rèn luyện, hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ; mặt khác chủ thể của lợi ích xã hội chủ yếu là Đảng, Nhà nước cũng cần nhận thức được rằng, muốn  thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phải quan tâm đến lợi ích thiết thực của mọi cá nhân, của từng đối tượng, nhất là quan tâm đến những người có công với cách mạng, những đối tượng yếu thế trong xã hội, thực hiện tốt ASXH và PLXH.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực hiện tốt các chính sách trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Theo đó, cần tiếp tục thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật, tạo cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực. Cụ thể hóa các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế, trong đó, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp trong một số lĩnh vực, nhất là với doanh nghiệp nhà nước.

Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội

Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt chính sách ASXH, PLXH trong toàn xã hội, nhất là đối với các đối tượng còn nhiều khó khăn như nông dân, công nhân, những đồng bào vùng sâu, vùng xa, đối tượng chính sách... thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, thực hiện thật tốt các chế độ, chính sách, nâng cao đời sống đối với các đối tượng có công với cách mạng, đảm bảo cho họ được hưởng thụ các giá trị căn bản của sự phát triển như đời sống vật chất, y tế, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa - xã hội khác. Thực hiện tốt chính sách tiền lương theo Đề án cải cách tiền lương đã được ban hành, đảm bảo tiền lương thực sự đảm bảo cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt đối với người công nhân; có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với những nhân tài của từng lĩnh vực, địa phương.

Bốn là, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm

Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt hơn nữa các biện pháp công khai, minh bạch để phòng ngừa các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí. Nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng tài sản công, phát huy tốt trách nhiệm giải trình, thực hiện tốt các biện pháp công khai tài chính, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức... Trên phạm vi toàn xã hội, cần phải tiến tới một xã hội minh bạch, trên cơ sở quản lý tốt việc sở hữu tài sản của mỗi cá nhân, xây dựng một xã hội hạn chế dùng tiền mặt, quản lý chặt chẽ các nguồn tiền trong thanh toán... Mặt khác, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng kém chất lượng... đây là những hành vi phá hoại nghiêm trọng các quan hệ lợi ích, gây tổn hại tới cả LICN và các mục tiêu của LIXH.

Năm là, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời bảo đảm lợi ích xã hội

Cần tích cực khuyến khích mỗi cá nhân tích cực vươn lên trong học tập, lao động, sản xuất - kinh doanh, lập thân, lập nghiệp bằng nhiều cơ chế, chính sách cụ thể, nhất là trong khởi nghiệp nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển. Thông qua các biện pháp giáo dục - đào tạo, tuyên truyền, các hoạt động thực tiễn phong phú để họ thấy rằng, để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của bản thân, trước hết cần có sự cố gắng, rèn luyện, cần cù, vượt khó vươn lên, tích cực lao động, đóng góp cho xã hội; đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm các lợi ích chính đáng của bản thân từ các chủ thể khác; loại bỏ tư tưởng tự mãn, ỷ lại; có cái nhìn tích cực về các vấn đề của xã hội, tìm ra những cơ hội cho sự phát triển của mỗi cá nhân. 

Có thể nói, nhìn một cách tổng thể, qua hơn 30 năm đổi mới, LICN chính đáng đã được khuyến khích phát triển, LIXH đạt được những kết quả bước đầu quan trọng; các mâu thuẫn, xung đội đối kháng về lợi ích cơ bản giữa cá nhân và xã hội được giảm thiểu tối đa, xã hội ổn định; gia tăng tính tích cực của các chủ thể, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu, lợi ích của cá nhân và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 12-2019

(1) ĐCSVN:  Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.222.

 (2) GDP năm 2018 tăng 7,08% - cao nhất trong 7 năm qua, https: laodong.vn.

(3) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chương trình phát triển Liên Hợp quốc: Tăng trưởng vì mọi người - Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.114.

(4) Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.69.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.70.

(6) Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng - 5 năm nhìn lại, http://noichinh.vn.

(7) Lê Ngọc Hùng: “Chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2017, tr.62.

ThS Hoàng Văn Khải

Học viện Chính trị khu vực IV

TS Trần Văn Thắng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền