Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Một số thành tựu nhận thức lý luận mới về giai cấp công nhân Việt Nam
Thứ năm, 24 Tháng 9 2020 15:34
91 Lượt xem

Một số thành tựu nhận thức lý luận mới về giai cấp công nhân Việt Nam

(LLCT) - Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH, đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, tiên phong trong đổi mới và là nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. GCCN nước ta phải được xây dựng và tự phấn đấu vươn lên. Đảng và Nhà nước là yếu tố quyết định nhất đến sự phát triển GCCN và thực hiện sứ mệnh của nó. Những nhận thức lý luận mới về GCCN trên các chiều cạnh là luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện chủ trương và chính sách với giai cấp công nhân.

Từ khóa: giai cấp công nhân Việt Nam.

1. Thành tựu phát triển nhận thức lý luận về GCCN Việt Nam của Đảng ta

-Đã đưa ra quan niệm khá đầy đủ về GCCN Việt Nam hiện nay.

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28-1-2008 của Hội nghị  Trung ương 6 khóa X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”(1).

Quan niệm trên đã khẳng định lý luận mácxít về đặc điểm của GCCN là tập đoàn người gắn liền với phương thức lao động công nghiệp, khẳng định “tính chất công nghiệp” là tính chất nổi bật trong lao động của GCCN nước ta.   

Điểm mới trong nhận thức lý luận này là thừa nhận sự tồn tại của GCCN nước ta trong nhiều loại hình - thành phần kinh tế; họ bao gồm cả lực lượng lao động chân tay và trí óc hoặc gồm cả 2 phương diện đó. Họ là người lao động, cho nên thu nhập từ “làm công hưởng lương” là lợi ích cơ bản được họ quan tâm và chế độ phải cùng quan tâm. Họ lao động trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả lao động trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và cả trong lĩnh vực dịch vụ, “gián tiếp”. GCCN nước ta được xác định là luôn vận động, “đang phát triển”, vì vậy quan niệm này chấp nhận sự bổ sung, điều chỉnh.

Nhận thức mới này đã điều chỉnh, thay thế cho những quan niệm phiến diện và khá thịnh hành trong xã hội rằng: công nhân chỉ thuần túy là người “lao động trực tiếp” bằng máy móc; rằng công nhân không bao hàm trong nó lực lượng lao động trí óc; rằng chỉ có tiểu thương mới tham gia vào lĩnh vực dịch vụ chứ không phải công nhân, hoặc phân biệt đối xử với công nhân trong các thành phần kinh tế khác nhau theo kiểu “con đẻ, con nuôi”...    

Quan niệm này cũng có tính chất cập nhật với thế giới. Trong các nghiên cứu về GCCN hiện đại, có thể thấy một xu hướng là phân tách công nhân thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo lĩnh vực hoạt động (công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp) hay vị trí của họ trong dây truyền sản xuất (điều hành sản xuất, trực tiếp sản xuất, sửa chữa bảo trì máy móc, sáng chế marketing, chăm sóc khách hàng...). Lần đầu tiên, trong quan niệm về GCCN nước ta đã có khái niệm “dịch vụ có tính chất công nghiệp” với hàm ý là lực lượng lao động dịch vụ có tính xã hội hóa cao. Trên thực tế, nhóm lao động dịch vụ này có vai trò quan trọng, 5 năm gần đây nhất (2015 - 2019) nhóm lao động dịch vụ thường xuyên đóng góp khoảng 40% GDP cho đất nước.

- Đã phân định rõ sự phát triển của GCCN với chủ động xây dựng GCCN trong môi trường mới.

Môi trường phát triển của GCCN nước ta hiện nay có 2 đặc trưng:  

Đặc trưng thứ nhất là môi trường kinh tế có nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN (cách diễn đạt này tuy dài và hiện nay ít dùng nhưng lại lột tả rõ hiện trạng). So với giai đoạn trước 1986, cơ chế kinh tế thị trường làm cho công nhân phải linh hoạt hơn, quan tâm đến hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế hơn so với thời bao cấp. Kinh tế nhiều thành phần cũng làm sinh động hơn, phức tạp hơn cơ cấu của GCCN nước ta. Bộ phận lớn nhất của GCCN nước ta hiện đang lao động trong những thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, công nhân đang chịu tác động hàng ngày của quy luật sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. 

Thêm vào đó, sự gắn bó với cơ chế thị trường buộc công nhân phải quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng là một nét mới trong nhận thức và tâm lý. Trước kia, công nhân gắn với Nhà nước, quốc doanh, công trường... thì lợi ích công, kế hoạch hóa, chỉ tiêu và kế hoạch sản xuất của Nhà nước là quan tâm hàng đầu. Thì hiện nay, nhu cầu của thị trường, lợi ích của doanh nghiệp, thu nhập của người lao động, thương hiệu... là  những quan tâm lớn. Từ đây ở mỗi công nhân hình thành rõ nét hơn “con người kinh tế” chứ không đậm sắc thái chính trị với vai trò “giai cấp lãnh đạo” như trước kia. Từ con người kinh tế thành thạo với kinh tế thị trường, công nhân mới tích lũy năng lực để làm chủ thực sự, thực chất.  Đó cũng là hướng vận động thực tế để xây dựng GCCN nước ta(2).      

Đặc trưng thứ hai của môi trường phát triển GCCN là quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Đặc trưng này lại phản ánh hai quá trình đồng thời: công nghiệp hóa đang ở giai đoạn “tiếp tục đẩy mạnh” và GCCN đang “tiếp tục xây dựng, phát triển”. Cả hai đều đang vận động, phát triển để hoàn thiện. Chúng vừa hỗ trợ nhau (theo nguyên lý công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của CNH, HĐH); vừa có những tác động kiềm chế (theo nguyên lý “hoàn cảnh tạo ra con người ở chừng mức con người tạo ra hoàn cảnh”). Có thể thấy rõ điều này trên thực tế: nguồn nhân lực cho CNH, HĐH mà không đáp ứng yêu cầu thì quá trình này phải kéo dài; công nghiệp hóa mà không hiện đại hóa thì số lượng công nhân tăng nhưng chất lượng về công nghệ không đồng đều.

Hai đặc trưng đó của môi trường phát triển nước ta hiện nay cần được nhận thức rõ để chủ động về chiến lược phát triển GCCN. Tiêu biểu là quan điểm thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa X: “Chiến lược xây dựng GCCN lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”.  

Chủ động xây dựng GCCN trong bối cảnh hiện nay liên quan đến nhiều chủ thể. 

Đây là chiến lược của Đảng, trách nhiệm của nhà nước, sự góp sức của các chủ doanh nghiệp và vai trò chủ động của từng công nhân. Chiến lược đó liên quan trực tiếp đến đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, hiệu quả “làm ăn” của các doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong công nhân như các tổ chức cơ sở Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Phụ nữ... Nghị quyết Trung ương 6 khóa X đã xác định vai trò quyết định là Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc “nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về giai cấp công nhân và với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động”. 

Theo đó, sự phát triển của GCCN trong Đổi mới khác với giai đoạn trước 1986 ở chỗ: nó liên quan đến hành động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của GCCN, nâng cao giác ngộ chính trị, văn hóa, quan tâm đời sống vật chất và tinh thần của công nhân lao động. Đây là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước là nhân tố quan trọng nhất và có  trách nhiệm nặng nề nhất. Tác động trực tiếp và có khả năng mang lại lợi ích gần gũi và thường xuyên nhất cho công nhân là Công đoàn. Cộng hưởng vào quá trình này là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, là ý thức chấp hành pháp luật về lao động của người sử dụng lao động.   

Sự tự giác rèn luyện, tu dưỡng của mỗi người công nhân và cũng là công dân đóng vai trò trực tiếp trong nâng cao “trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh...”.

- Đã phân định rõ công nhân với tư cách là một giai cấp có sứ mệnh lịch sử với dân tộc và công nhân với tư cách là người lao động trong bối cảnh hiện nay. 

Đây cũng là nhận thức mới được thể hiện trong chính sách của Đảng và Nhà nước với GCCN hiện nay.  

Với tư cách là một giai cấp có sứ mệnh lịch sử với dân tộc;

GCCN là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới với các yêu cầu: công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, coi “nông nghiệp - nông thôn là mặt trận hàng đầu”, công nghiệp hóa diễn ra trong cơ chế thị trường, công nghiệp hóa hướng tới kinh tế tri thức, gắn hội nhập và bảo vệ tài nguyên môi trường. Phải đáp ứng được những yêu cầu kinh tế - xã hội ấy thì công nhân - sản phẩm xã hội của quá trình công nghiệp hóa hiện nay, mới thể hiện ra được như một lực lượng lao động tiên tiến nhất.

Nhưng tự bản thân GCCN không quyết định được điều đó; đường lối chính sách công nghiệp hóa của Đảng và Nhà nước, thực tế hoạt động của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế và định hướng, quản lý cho các hoạt động ấy mới là những yếu tố vĩ mô và vi mô trực tiếp định hình GCCN hiện nay. Và theo đó, chính trị đang tác động mạnh mẽ đến kinh tế, Đảng và Nhà nước mới là yếu tố quyết định nhất đến GCCN và sứ mệnh lịch sử của nó. Đây có thể xem là nhận thức mới quan trọng nhất về xây dựng, phát triển công nhân nước ta.      

GCCN nước ta cũng phải được xây dựng và tự phấn đấu vươn lên để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng và nghị lực lớn, mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ mới, đóng góp xứng đáng vào thực hiện mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp...”(3). Theo đó, cùng với việc xây dựng những phẩm chất kinh tế - kỹ thuật thì xây dựng những phẩm chất chính trị - xã hội của công nhân như “ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc” cũng phải được quan tâm đầy đủ. Hệ thống chính trị trong các doanh nghiệp (các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nữ công) là người trực tiếp đảm nhận sứ mệnh này. Và như vậy,  cần phải “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân”.

- Với tư cách là người lao động; 

Một đặc điểm nổi bật của công nhân - lao động nước ta hiện nay là khá đa dạng về thành phần kinh tế, về lợi ích và trình độ công nghệ. Nếu như trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nước với hai loại hình là sở hữu toàn dân (các nhà máy nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế mà đông đảo nhất là kinh tế tư nhân. Quan tâm hàng đầu của họ hiện nay là việc làm và đời sống, là “phần được hưởng sau lao động” với thu nhập và điều kiện sinh hoạt; và để đạt được điều đó thì phải làm việc với “năng suất, chất lượng, hiệu quả” trước đã, “rồi mới làm ra lịch sử” (như cách diễn đạt của C.Mác trong “Hệ tư tưởng Đức”).   

Họ cũng buộc phải làm quen với tư duy kinh tế, hiệu quả sản xuất kinh doanh, biết tính toán lựa chọn việc làm trong thị trường sức lao động. Có những yếu tố mà trước 1986 ít người lao động quan tâm như giá cả của mặt hàng mình sản xuất ra hiện nay trên thế giới ra sao; thương hiệu quốc tế, thị trường “ngách”, sản xuất theo mùa vụ của nhu cầu là như thế nào; sự khác biệt về phần lợi nhuận khi hàng hóa thâm nhập vào thị trường “khó tính”;  bảo đảm chất lượng sản phẩm, thời hạn hợp đồng, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, tăng năng suất lao động, không chỉ là khẩu hiệu thi đua như “thời bao cấp” mà còn là “yếu tố sống còn của doanh nghiệp”, v.v..       

Cũng cần nói thêm rằng, kết cấu đa dạng của GCCN nước ta hiện nay là một biểu hiện có nhiều ý nghĩa trong quá trình phát triển của nó. Đa dạng về cơ cấu giai cấp là sự thể hiện tính sinh động, tự nhiên và hợp lý của sự vận động của công nhân trong nền kinh tế mang tính “đan xen”, phức hợp của kinh tế trong thời kỳ quá độ. Đa dạng về cơ cấu và lợi ích của công nhân cũng như xu hướng vận động có mặt phức tạp thậm chí không đồng nhất, đồng hướng cũng đều là những hệ quả tự nhiên và gắn liền với “mảnh đất hiện thực” hiện nay. Những sự khác biệt này đặt ra nhu cầu về chính sách cho từng đối tượng  cũng phải ngày càng cụ thể, phù hợp hơn.

Công nhân nước ta hiện nay đang lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bên cạnh những quan tâm về việc làm, thu nhập, mức sống thì GCCN Việt Nam còn là giai cấp có sứ mệnh đi đầu trong sự nghiệp xây dựng CNXH, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là vinh dự và cũng là trọng trách của công nhân nước ta. Theo đó, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cần phải chú ý về chính sách trên các hai phương diện: lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, vị thế người lao động và vị thế người làm chủ đất nước...

2. Thành tựu phát triển nhận thức lý luận về thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam 

- Đã bước đầu làm rõ nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam với dân tộc hiện nay. 

Nghị quyết Trung ương 6 khóa X (2008) “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” khái quát: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”(4).

Sở dĩ coi đây là một thành tựu lý luận lớn vì trên thực tế, dù GCCN Việt Nam đã đảm đương khá thành công trách nhiệm với dân tộc, nhưng cho đến  năm 2008, qua 68 năm lãnh đạo cách mạng, khái niệm sứ mệnh lịch sử vẫn chưa được tường minh. Các đề cập đến vấn đề này thường chỉ nhấn mạnh vào vị thế giai cấp lãnh đạo hay “hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc”, xây dựng CNXH chứ chưa thật “chu diên” các nội hàm của khái niệm này.

 Việc xác định sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam trước hết là sự vận dụng những tư tưởng căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về GCCN vào thực tiễn nước ta. Đó là vị trí của giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, “đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến”, gắn liền với công nghiệp hóa, “là giai cấp lãnh đạo thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản” và “tiên phong trong xây dựng CNXH”... Tất cả đều là sự phản ánh trung thành những nguyên lý mácxít về GCCN.  

Điểm mới và cũng là điểm sáng tạo so với chủ nghĩa Mác là ở vai trò chủ động, chủ thể, đi đầu của GCCN trong sự nghiệp công nghiệp hóa ở nước ta. Trong quá trình đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa (TBCN) cách đây hơn 2 thế kỷ và hiện nay ở các nước TBCN cũng vậy, giai cấp tư sản là giai cấp chủ động và là chủ thể của công nghiệp hóa. Vai trò đó sở dĩ có được do giai cấp tư sản là giai cấp nắm giữ quyền sở hữu và định đoạt quá trình sử dụng tư bản. Tư bản là chủ và công nhân là người làm thuê. Ở Việt Nam hiện nay, GCCN cùng nhân dân là chủ thể quyền lực tối cao, thông qua Đảng và định hướng đường lối công nghiệp hóa thông qua Nhà nước để quản lý phát triển xã hội. Vừa là người sở hữu xã hội tư liệu sản xuất vừa là quản lý, sử dụng tư liệu sản xuất của xã hội, GCCN Việt Nam đang góp phần quyết định cho việc xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, giải quyết vấn đề “lao động bị tha hóa” thông qua thực hiện nội dung kinh tế của sứ mệnh lịch sử. Đó là một sứ mệnh vĩ đại đang được bắt đầu ở Việt Nam.

Điểm mới thứ hai cũng là sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam: GCCN có vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng CNXH ở Việt Nam với những đặc trưng khái quát là “vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đặc điểm của Việt Nam hiện nay là một nước đang phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các tiêu chí XHCN về dân chủ, công bằng, văn minh vẫn là mục tiêu phấn đấu. Vì vậy, trách nhiệm của GCCN, thông qua đội tiền phong của nó, phải khắc phục hiện trạng trên. Lao động sống, lao động tạo ra giá trị thặng dư của công nhân là nguồn gốc chủ yếu cho của cải, tài sản, sự giàu có của mọi xã hội. Ở Việt Nam cũng vậy, nhưng giá trị thặng dư mà người công nhân tạo ra, sau phần mà người lao động được hưởng “bởi đóng góp của mình” và sau phân phối lại theo hiệu quả sản xuất kinh doanh, mức góp vốn, thì sử dụng chủ yếu cho thực hiện phúc lợi xã hội. Đó là sự khác nhau giữa CNXH ở Việt Nam với chế độ TBCN.

Điểm mới thứ ba là vai trò “nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nói về liên minh công - nông, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đổi mới, vấn đề này được Đảng nhận thức sâu hơn về GCCN với vai trò kép: làm nòng cốt cơ sở chính trị xã hội cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và làm nòng cốt cho đại đoàn kết toàn dân tộc. Cả hai vai trò của GCCN là sự thể hiện trên hai phương diện: đoàn kết giai cấp và đoàn kết dân tộc - một đặc sắc của cách mạng Việt Nam. 

- Đã có thêm nhiều phát hiện mới từ quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN 

Trong bối cảnh kinh tế thị trường nhiều thành phần, thì Công đoàn là tổ chức gần gũi nhất, tác động trực tiếp nhất đến quyền và lợi ích của GCCN, từ đó mà nâng cao giác ngộ chính trị. Theo đó, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn hiện nay là rất cần thiết để thật sự là một tổ chức gần gũi quần chúng nhất của Đảng, mà V.I.Lênin coi là “sợi dây chuyền nối liền đội tiền phong với quần chúng của giai cấp tiên tiến và nối liền đội ấy với quần chúng lao động”(5). 

Việc làm và lợi ích được hưởng là quan tâm hàng đầu của nhiều công nhân hiện nay chứ không phải sứ mệnh lịch sử hay CNXH! C.Mác và Ph.Ăngghen từng viết: “Tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử, đó là người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhưng muốn sống được, thì trước hết con người phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa...”(6). Khi đời sống vật chất và tinh thần bị câu thúc, buộc phải tiết giảm những nhu cầu thiết yếu, thì hiển nhiên con người phải truy cầu cái đó trước tiên. Cũng cần thấy rằng có một bộ phận công nhân trong kinh tế thị trường đã bị thoái hóa và khá gần gũi với hình ảnh của “tầng lớp vô sản lưu manh” mà C.Mác từng phản ánh. Theo đó, muốn nâng cao giác ngộ chính trị cho công nhân thì Đảng “phải quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động”.

Kinh tế thị trường, thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,  không chỉ có tác dụng làm sinh động nền kinh tế, khai thác và tận dụng mọi tiềm năng sản xuất, tạo việc làm cho xã hội, đóng thuế cho Nhà nước... mà còn là một thực tiễn gần gũi giúp cho công nhân nước ta hiểu cụ thể một cách trực giác về một số vấn đề lý luận như giá trị thặng dư, bóc lột kiểu TBCN, tính xã hội hóa của sản xuất công nghiệp, v.v.. Thực tiễn đó góp phần củng cố niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác.

Vấn đề làm thuê và làm chủ, được và mất trong kinh tế thị trường cũng đã được nhìn nhận rộng hơn, sâu hơn, biện chứng hơn. Chẳng hạn, bị bóc lột cũng “được”, và đi bóc lột cũng “mất”! Người lao động “được” gì khi tham gia vào quá trình sản xuất tư bản? Với những công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân, họ có nghề nghiệp, kỹ năng lao động mới, thu nhập tăng hơn, được tiếp cận môi trường lao động hiện đại với phương thức lao động và quản lý mới... Từ đó, GCCN có được những tri thức kỹ năng mới để mà quản lý, làm chủ. Nhà nước thu được thuế, tiếp cận với công nghệ mới, kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa hiện đại, qua đó mà phát triển sản xuất và “làm bạn, là đối tác” và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế thế giới... Người sử dụng lao động cũng phải chia sẻ bí quyết công nghệ, chia sẻ thị trường, kinh nghiệm quản lý, chấp nhận sự nguy hiểm của đồng vốn khi đầu tư, và có cả thất bại, phá sản v.v. chứ không phải chỉ là và khi nào cũng đạt lợi nhuận. Nguyên tắc hai bên, các bên cùng có lợi là một yêu cầu khách quan và đã diễn ra trên thực tế(7).

Hiện tượng lao động bị bóc lột, bất công không chỉ xuất hiện trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước mà còn xuất hiện ngay trong thành phần kinh tế nhà nước, khi mà người quản lý không công tâm, cơ chế quản lý lỏng lẻo và bị lợi dụng để mưu lợi ích riêng và lợi ích nhóm. Sở hữu công hữu vẫn có thể làm nảy sinh những bất công mới, nếu dân chủ trong doanh nghiệp không được phát huy, nếu cơ chế quản lý tài sản công không khoa học, chặt chẽ...

Tri thức hóa và trí thức hóa công nhân là một thực tế ở Việt Nam. Hiện nay 9,7% công nhân nước ta có trình độ đại học. Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn đã ứng dụng các công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0. GCCN Việt Nam trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động tích cực hội nhập với thế giới đã và đang “sản sinh ra một tầng lớp trí thức cho riêng mình” (Ph.Ăngghen). 

GCCN Việt Nam hiện nay, về kinh tế và xã hội, “là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển”, cho nên chưa đạt đến độ thống nhất cao và có nhiều tầng lớp. Sự phân hóa, phân tầng đó là tự nhiên, có cơ sở từ thực tiễn công nghệ và các thành phần kinh tế hiện nay. Theo đó, một mặt tôn trọng thực tế để có những giải pháp phù hợp khi xây dựng GCCN trong các thành phần kinh tế khác nhau; mặt khác cũng phải luôn chú ý đến việc đoàn kết, thống nhất GCCN. “Mẫu số chung” để quy đồng những khác biệt về vị thế, lợi ích của GCCN đã và ngày càng được tìm ra nhiều hơn qua thực tiễn đổi mới. Đó là sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích của toàn Dân tộc trong mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; đó là sự thống nhất giữa 3 lợi ích: của cá nhân người lao động, của tập thể và của xã hội; đó là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... của mỗi người công nhân.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2020

(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu tổng kết lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong lịch sử và thời đại ngày nay; đề xuất bổ sung, phát triển vào thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới”, thuộc Chương trình KX.02/16-20; Chủ nhiệm PGS,TS Nguyễn Viết Thảo.

(1), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.67, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.72, 72-73.

(2) TS Nguyễn An Ninh: Để hệ giá trị của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị của toàn xã hội, Tạp chí Triết học, 5-2007; Cái cao cả và cái đời thường của công nhân, Tạp chí Lao động & Công đoàn, 8-2007. 

(3) ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.13-14.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, t.42, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, bản tiếng Việt, 1977, tr.251.

(6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.40.

(7) PGS, TS Nguyễn An Ninh: Một số nhận thức mới cần được bổ sung về GCCN và CNXH hiện nay, Tạp chí Cộng sản, 8-2016.   

PGS, TS Nguyễn An Ninh

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền