Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế nhiều thành phần trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Thứ năm, 24 Tháng 9 2020 15:39
104 Lượt xem

Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế nhiều thành phần trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

(LLCT) - Trong di sản của chủ nghĩa Mác - Lênin để lại cho chúng ta khá rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể đến lý luận về kinh tế nhiều thành phần. Bài viết tập trung làm rõ quá trình Đảng ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế nhiều thành phần trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với điều kiện và đặc thù của Việt Nam.

Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế tư nhân.

1. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế nhiều thành phần

Một số học giả cho rằng, do hoàn cảnh lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nói đến kinh tế nhiều thành phần. Tuy nhiên, học thuyết duy vật lịch sử do các ông sáng lập ra đã chứa đựng những cơ sở, luận đề khoa học cho phép đi đến thừa nhận kinh tế nhiều thành phần. C.Mác đã nhiều lần nói rằng, các yếu tố của hình thái kinh tế - xã hội mới đã được hình thành trong lòng hình thái kinh tế - xã hội cũ. Thậm chí, các ông đã khẳng định: Khi quan hệ sản xuất cũ còn tạo dư địa cho lực lượng sản xuất phát triển thì nó không bị mất đi. Ngược lại, quan hệ sản xuất mới sẽ không xuất hiện khi những điều kiện cho sự tồn tại của nó chưa hình thành. Nói cách khác, các ông đã gián tiếp thừa nhận sự chung sống của nhiều thành phần kinh tế trong một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội cụ thể có thể có 3 loại thành phần kinh tế: 1) thành phần kinh tế thuộc phương thức sản xuất cũ đang được phương thức sản xuất thống trị cải tạo dần dần; 2) thành phần kinh tế đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị; 3) thành phần kinh tế đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị mới sẽ thay thế phương thức sản xuất hiện hành, nhưng còn ở hình thái manh nha. 

C.Mác luôn phân biệt hình thức pháp lý của sở hữu với bản chất kinh tế của sở hữu thể hiện trong quan hệ sản xuất. Bản chất kinh tế của sở hữu thay đổi liên tục theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hình thức tổ chức sản xuất, hình thức trao đổi sản phẩm. Hình thức pháp lý, nếu xét dưới dạng quyền của chủ sở hữu, là sự xác nhận và bảo hộ của xã hội với quan hệ sở hữu thống trị, qua đó làm thay đổi ở một số khía cạnh nhất định các quan hệ sở hữu khác thích nghi với quan hệ sở hữu thống trị. Ngoài ra, hình thức pháp lý của quan hệ sở hữu là sự xác nhận của xã hội (được nhà nước bảo hộ) quyền của người chủ sở hữu phân biệt với người không phải là chủ sở hữu. Do đó, cũng có thể quy quan hệ sở hữu về mặt pháp lý về các quyền của chủ sở hữu thành hai loại phản ánh quan hệ người - người khác nhau đối với đối tượng sở hữu là: sở hữu chung và sở hữu riêng.

Sở hữu chung của một số người đối với một tài sản nào đó lại được cụ thể hóa hơn nữa trong các loại hình sở hữu chung đồng hạng và sở hữu chung khác hạng. Sở hữu chung đồng hạng thể hiện trong hình thức sở hữu của các thành viên gia đình, sở hữu cộng đồng đối với khu rừng, bãi chăn thả, khu khai thác hải sản... với những quy chế cụ thể về việc sử dụng và hưởng lợi chung.

Sở hữu chung không đồng hạng xuất hiện trong các công ty (trách nhiệm hữu hạn và cổ phần), trong đó việc sử dụng và hưởng lợi đều phải tuân thủ quy định của điều lệ. Sở hữu riêng cũng có nhiều hình thức: Sở hữu của người sử dụng trực tiếp đối tượng sở hữu; sở hữu của người không trực tiếp sử dụng đối tượng sở hữu... Nhìn chung, hình thức sở hữu bao giờ cũng đi cùng với hình thức sử dụng cụ thể (trực tiếp sử dụng, cho thuê, cho mượn, ủy quyền cho người khác thay mình quản lý, sử dụng...) và phần lợi ích có được từ quyền sở hữu.

Là người lãnh đạo xây dựng nền kinh tế XHCN ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười (1917), thời kỳ đầu, V.I.Lênin đã trung thành với các chỉ dẫn của C.Mác và Ph.Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” thực hiện quốc hữu hóa các xí nghiệp, tổ chức kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, tài chính và đất đai, đồng thời áp dụng chế độ thu sản phẩm để phân phối trực tiếp không qua mua bán. Những chính sách này đã triệt tiêu động lực của những người nông dân và làm đình trệ quá trình trao đổi sản phẩm trong tình hình đất nước kiệt quệ sau chiến tranh. Để cứu nguy và phục hồi nền kinh tế bằng chính sức lực của nhân dân, V.I.Lênin đã đưa ra lý thuyết về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH từ một nước đa số dân cư là tiểu nông. Những ngành kinh tế mà V.I.Lênin muốn khôi phục nhanh chóng là nông nghiệp và thương nghiệp. Chỉ cần hai lĩnh vực này hồi sinh như trước cách mạng đã có thể cứu người dân Nga khỏi chết đói. Sau đó là những kỳ vọng của V.I.Lênin về đầu tư từ các nước tư bản phát triển cũng như từ tư bản tư nhân trong nước nhằm bổ sung nguồn vốn, công nghệ và phương thức tổ chức kinh doanh hiện đại cho lĩnh vực công nghiệp đang còn non yếu và kiệt quệ sau chiến tranh. Trong bối cảnh bị các nước TBCN bao vây, cấm vận, chống phá, Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin tuy không thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhưng đã tạo điều kiện cho tư nhân trong nước phát triển. Dễ dàng hình dung được những áp lực mà V.I.Lênin phải gánh chịu từ cả những người ủng hộ chế độ XHCN và từ những người muốn lật đổ chế độ XHCN. Để tạo sự đồng thuận trong Đảng cũng như trong nhân dân, V.I.Lênin đã luận chứng nhiều lần cho sự cần thiết phải thực hiện Chính sách kinh tế mới (mà chính ông gọi là bước lùi về CNTB, nhưng là bước cực kỳ cần thiết để có thể tiến bước thành công lên CNXH). Vũ khí để chế độ XHCN không thể bị lật đổ chính là Nhà nước Xô viết được nhân dân tin tưởng và tiến hành kiểm tra, kiểm soát để tư bản tư nhân không thể lái nền kinh tế quay trở về quỹ đạo TBCN. Một thành phần kinh tế tư bản tư nhân chịu sự chế định, kiểm tra, kiểm soát của nhà nước XHCN được V.I.Lênin đặt cho tên mới là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực tiễn phát triển kinh tế nước Nga những năm thực thi Chính sách kinh tế mới cho thấy đường lối, chủ trương, sách lược của V.I.Lênin là đúng đắn. Song, câu hỏi thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước Nga đến khi nào kết thúc và nền kinh tế XHCN sau khi kết thúc thời kỳ quá độ là như thế nào thì V.I.Lênin chưa có điều kiện trả lời.

Những năm từ 1923 đến 1991, kinh tế nước Nga nói riêng, Liên bang Xô viết nói chung, đã gặt hái được nhiều thành công. Từ điểm xuất phát là một nước TBCN phát triển ở mức thấp, Nước Nga cùng với nhiều nước kém phát triển khác trong Liên bang Xô viết đã trở thành một cường quốc đạt tới trình độ cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, vũ trụ... Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chủ yếu do khai thác nguồn lực theo chiều rộng và ở một mức độ lớn là hy sinh tiêu dùng của dân cư. Những nhược điểm của kế hoạch tập trung cứng nhắc và kiểm soát chặt chẽ của nhà nước loại bỏ cơ chế thị trường là một trong những nguyên nhân khiến Liên bang Xô viết hùng mạnh bị suy yếu và tan rã.

Bản thân các nước tư bản phát triển cũng có sự điều chỉnh theo hướng nhà nước can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế, tăng tính xã hội của việc sử dụng tư liệu sản xuất. Nếu như vào đầu thế kỷ XX, ngân sách nhà nước của hầu hết các nước tư bản phát triển mới ở mức 10-15% GDP, thì đến cuối thế kỷ XX, nó đã chiếm hơn 20% GDP. Ngoài chức năng cung cấp tài chính cho bộ máy nhà nước ngày càng phình to do can thiệp vào nền kinh tế, ngân sách nhà nước cũng chi những khoản lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và hỗ trợ thực hiện an sinh xã hội. Nhiều nước ở châu Âu đã thành công trong sử dụng kế hoạch nhà nước để tái thiết sau chiến tranh. Nhiều nước TBCN ở châu Á là kết quả công nghiệp hóa thành công có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước. Chính các nước tuyên bố thị trường tự do nhiều nhất như Anh và Mỹ, nhà nước cũng buộc phải can thiệp để chống các cú sốc do suy thoái chu kỳ. Song các nước TBCN, ngay cả các nước đi đầu, vẫn chưa giải quyết được các mâu thuẫn nội tại của xã hội tư bản như khủng hoảng, phân hóa giàu nghèo và nhiều tệ nạn xã hội khác.

Có thể thấy, những phương pháp cải tạo theo cả hai hướng XHCN và TBCN trong thế kỷ XX đều chưa mang lại kết quả mà loài người mong muốn. Chính vì thế, không chỉ các nước lựa chọn xu hướng XHCN phải cải cách, đổi mới để quay lại kinh tế thị trường, mà bản thân các nước TBCN cũng cải cách, đổi mới theo hướng tăng dần phạm vi can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường. Điểm chung của cả hai hướng cải cách mang dấu ấn của thời đại quá độ lên CNXH (với tư cách hình thái kinh tế - xã hội tiên tiến hơn hình thái kinh tế TBCN) là đều thừa nhận kinh tế thị trường như là một môi trường, một điều kiện, một cơ chế điều tiết hành vi của con người đáp ứng tốt nhất khát vọng giải phóng con người trong lĩnh vực kinh tế. Đó là khát vọng tự do hành động, bình đẳng trong giao dịch kinh tế và dân chủ trong quyết định. Tuy nhiên, điều kiện cần thiết để có kinh tế thị trường là thừa nhận bằng hệ thống luật pháp sở hữu riêng của các chủ thể kinh tế đối với tài sản thuộc về họ phân biệt với chủ thể không phải là chủ sở hữu. Chỉ khi nào là người chủ sở hữu hợp pháp tài sản, chủ thể kinh tế mới có thể mua, bán tài sản đó. Bản thân phạm trù “sở hữu” đã bao hàm quyền của người chủ sở hữu đối với vật mà chủ thể không sở hữu không có. Về mặt lý thuyết cũng như về mặt quy định của pháp luật quốc gia, có nhiều cách phân định quyền của chủ sở hữu khác nhau. Song, tựu chung chủ sở hữu phải có ít nhất các quyền sau: chiếm giữ (để không cho người khác sử dụng tài sản của mình); sử dụng (khai thác giá trị sử dụng của tài sản và hưởng lợi từ sự sử dụng đó); định đoạt tài sản trong quan hệ với người khác (đổi, cho, tặng, để thừa kế, bán, phá hủy, cải tạo...). Bán tài sản chỉ là một quyền nhỏ của chủ sở hữu tài sản. Nếu không là chủ sở hữu (hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền), thì chủ thể không có quyền bán tài sản. Nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước phải bảo hộ quyền chính đáng của chủ sở hữu. Song, tùy loại tài sản, quyền của chủ sở hữu có thể bị pháp luật thu hẹp nhân danh lợi ích chung. Ví dụ, quyền của chủ sở hữu đất bị giới hạn về chiều cao, độ sâu, đồng thời phải chia sẻ quyền sử dụng một phần cho những người chủ đất liền kề, quyền của chủ sở hữu trí tuệ có thể bị pháp luật giới hạn trong một số năm...

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các chủ thể kinh tế rất đa dạng gồm thể nhân và pháp nhân. Mỗi pháp nhân lại có cơ chế thực thi quyền của chủ sở hữu giữa các cá nhân có liên quan theo những cách đặc thù của mình. Ví dụ, sở hữu của nhà nước là để phục vụ lợi quốc gia, địa phương, lĩnh vực. Sở hữu của hiệp hội được sử dụng vì lợi ích chung của hội viên... Cơ chế thực thi quyền của chủ sở hữu được ghi rõ trong điều lệ thành lập tổ chức và được phân cấp cho bộ máy quản lý tổ chức.

2. Chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Việt Nam trong thời kỳ hòa bình (1975-1980), cả nước tiến hành cải tạo sở hữu tư nhân, nỗ lực thiết lập chế độ công hữu thuần khiết (bao gồm sở hữu quốc gia (còn gọi là quốc doanh) và sở hữu tập thể (trong các hợp tác xã) đã gặp phải vô vàn khó khăn dẫn đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Trong nông nghiệp, xã viên hợp tác xã không thiết tha với việc lao động lấy công điểm. Họ dồn sức vào mảnh đất 5% và điều này đem lại cho hộ gia đình nông dân 50% thu nhập để nuôi sống gia đình. 95% đất thuộc sở hữu tập thể trong hợp tác xã không đem lại nổi 50% thu nhập còn lại. Kết quả là Nhà nước phải vay nợ nước ngoài để cứu đói. Trong công nghiệp thì nhà nước không thể cung ứng đủ nguyên, vật liệu đầu vào, không tiêu thụ được sản phẩm đầu ra cho xí nghiệp quốc doanh. Mậu dịch quốc doanh không đủ hàng hóa bán cho nhân dân theo tem phiếu. Những thử nghiệm khoán trong nông nghiệp và công nghiệp trong những năm 1980 cho thấy những kết quả tích cực. Kinh nghiệm của nước Nga trong thời kỳ thực hiện Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin cũng cung cấp cơ sở lý luận cho những quyết sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta tại Đại hội VI.

Mặc dù Đại hội VI còn thận trọng trong thừa nhận kinh tế tư nhân và sản xuất hàng hóa, nhưng đã xác định đúng đắn đường lối đổi mới là lấy giải phóng sức sản xuất làm tiêu chuẩn hàng đầu trong đổi mới thể chế quản lý và chính sách. Điểm then chốt quyết định thành công trong những năm đầu đổi mới đầy bỡ ngỡ và khó khăn chính là phương thức chỉ đạo linh hoạt, lấy kết quả hoạt động thực tiễn làm thước đo đúng sai, nhanh chóng nhận ra những sai lầm, rào cản để gỡ bỏ và sửa sai, tạo dư địa cho kinh tế tăng trưởng. Nhằm giảm thiểu các biến động mất kiểm soát, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lựa chọn phương pháp đổi mới dần dần, tiệm tiến. Lúc đầu chính sách đối xử với các thành phần kinh tế còn phân biệt giữa quốc doanh, tập thể (gọi là thành phần kinh tế XHCN) với người sản xuất hàng hóa nhỏ (lao động bằng tư liệu sản xuất của họ, không bóc lột) và tư bản tư nhân trong nước, tư bản nước ngoài. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước còn khuyến khích kinh tế tự cung, tự cấp (thành phần kinh tế tự nhiên) nhằm gia tăng tối đa sản phẩm cho xã hội. Đi cùng với thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, Đại hội VI đã thừa nhận tính hợp lý của lợi ích cá nhân (hộ gia đình), lợi ích pháp nhân (doanh nghiệp) và đặt mục tiêu giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội sau mục tiêu giải phóng năng lực sản xuất.

Đại hội VII tiến thêm một bước trong thừa nhận cơ chế thị trường đi đôi với khuyến khích mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân (trong nước và nước ngoài) phát triển. Giai đoạn 1991-1995, Việt Nam nỗ lực hội nhập trở lại với các tổ chức kinh tế quốc tế, qua đó mở rộng trao đổi hàng hóa, đầu tư với các nước TBCN, đánh dấu bằng việc nỗ lực bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Trung Quốc và gia nhập ASEAN, nộp đơn xin ra nhập WTO, bắt đầu đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước, nhất là Mỹ.

Những thành công trong tăng trưởng, phát triển kinh tế thời kỳ 1982-1996 vượt trội so với thời kỳ 1976-1981 đã củng cố thêm niềm tin cho Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam tích cực hơn nữa trong việc chuyển sang kinh tế thị trường. Từ Đại hội IX đến Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với 3 điểm nhấn liên quan đến sở hữu và thành phần kinh tế của Việt Nam là: đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng vững chắc; các thành phần kinh tế tư nhân (trong nước và nước ngoài) là những bộ phận hữu cơ, tồn tại lâu dài trong nền kinh tế, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật. Sự thừa nhận các thành phần kinh tế tư nhân (trong nước và nước ngoài) là những bộ phận hữu cơ, tồn tại lâu dài trong nền kinh tế chính là đã vượt qua hạn chế của Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin.

Đại hội XII còn nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, coi nó là động lực quan trọng của tăng trưởng, phát triển đi đôi với chủ trương tích cực cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, hạn chế đầu tư công vào các lĩnh vực cạnh tranh với đầu tư tư nhân. Quan điểm này hoàn toàn bỏ xa quan điểm trong Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin. Hiện nay, ở Việt Nam xuất hiện một thực tế là: các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn nhà nước khó xác định thuộc thành phần kinh tế nào. Trước đây, V.I.Lênin gọi đó là thành phần kinh tế tư bản nhà nước với hàm ý nhà nước kiểm soát hoạt động kinh doanh của nhà tư bản, ngăn ngừa những hành vi gây hại cho xã hội của nhà tư bản. Nhưng thực tế Việt Nam cho thấy, nhiều liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI không mang lại lợi ích kỳ vọng. Một số trường hợp nhà nước không kiểm soát được hoạt động của nhà tư bản trong liên doanh nên bị thua thiệt. Trong khi Việt Nam rất cần FDI, nhất là FDI công nghệ cao thì các nhà đầu tư nước ngoài lại ưa thích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tỷ lệ vốn nước ngoài khống chế. Hơn nữa, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện kinh doanh như doanh nghiệp tư bản có mang bản chất XHCN không cũng chưa được xác định rõ ràng. Nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả gây sức ép thu hẹp phạm vi đầu tư công vào doanh nghiệp.

Do thực tiễn trên, một số nhà khoa học cho rằng cần xóa bỏ cách tiếp cận thành phần kinh tế (mặc dù khởi nguyên của phạm trù thành phần kinh tế hàm ý đại diện cho phương thức sản xuất), và coi nền kinh tế thị trường chỉ gồm 2 khu vực: công và tư dựa trên sự phân chia tài sản thuộc sở hữu của nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, nhất là tài sản trong sản xuất được định giá bằng tiền (vốn). Không thể phủ nhận việc phân định nền kinh tế thành khu vực công và khu vực tư, nhất là trong khía cạnh tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động chung của nền kinh tế. Nhưng từ bỏ việc phân chia thành phần kinh tế cũng chính là từ bỏ quan điểm quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, từ bỏ cách nhìn lịch sử loài người là lịch sử thay thế các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, coi nền kinh tế Việt Nam cũng như các nền kinh tế thị trường khác, chỉ có điều trình độ phát triển của Việt Nam thấp hơn. Nếu vẫn giữ quan điểm quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN thì phải xác định rõ: trong các thành phần kinh tế ở nước ta, thành phần kinh tế nào đặc trưng cho CNXH. Đây là một đòi hỏi cần thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vì theo cách trình bày của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển 2011) thì không rõ quan hệ sản xuất XHCN là gì, chỉ thấy nêu là quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp với lực lượng sản xuất tiến tiến và hiện đại. Cương lĩnh 2011 và Văn kiện Đại hội XII vẫn nhấn mạnh kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc. Nếu kinh tế nhà nước bao gồm cả ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính của nhà nước thì không thể đặc trưng cho quan hệ sản xuất. Nếu kinh tế nhà nước chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước thì với hiệu quả và quy mô như hiện tại, sắp tới còn thu hẹp hơn nữa, liệu chúng có thể chủ đạo được không?

Khi đề xuất chế độ sở hữu của xã hội XHCN là công hữu, C.Mác và Ph.Ăngghen mới dựa trên một căn cứ là quy luật phủ định của phủ định, với niềm tin rằng, tư hữu tư sản là trình độ phát triển cao nhất của chế độ tư hữu, do đó, cách mạng vô sản phải thiết lập nên cái đối lập với nó là công hữu. C.Mác cũng được cổ vũ cho đề xuất này từ lập luận khác: do giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất, nên khi giai cấp này làm cách mạng, chỉ có thể có hai con đường: 1) biến toàn bộ tư liệu sản xuất thành của cải dùng chung (lao động hiệp tác trên quy mô lớn trong xí nghiệp tư bản); 2) chia bình quân tư liệu sản xuất cho tất cả mọi người lao động để dẫn đến một nền tiểu sản xuất chắc chắn sẽ bị sản xuất lớn làm cho phá sản. Song, chúng ta thấy, phân công lao động ngày nay đã phát triển theo chi tiết sản phẩm, do đó doanh nghiệp không cần quy mô lớn vẫn có thể áp dụng công nghệ hiện đại. Mạng internet, máy tính điện tử, robot, trí tuệ nhân tạo... có thể kết nối để tạo thành sự hợp tác ở quy mô lớn trong việc sản xuất sản phẩm mà không cần tập trung đông người vào một địa điểm. Bắt đầu từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các doanh nghiệp nhỏ đã lấy lại lợi thế của nó so với doanh nghiệp lớn. Tất cả những thay đổi đó làm cho tính tất yếu chuyển sở hữu tư nhân thành sở hữu xã hội để đáp ứng nhu cầu quản lý và sử dụng tư liệu sản xuất có tính xã hội đã trở nên yếu đi. Nói cách khác, có thể có nhiều cách hợp tác giữa những con người với nhau trong xã hội mà không cần sở hữu chung với vai trò trung gian của nhà nước. Ví dụ, thay vì thành lập doanh nghiệp kinh doanh taxi quy mô lớn, xuất hiện Grab kinh doanh taxi không cần sở hữu xe ô tô. Ngoài ra, việc sở hữu chung dưới hình thái sở hữu nhà nước khi nguồn lực và của cải còn khan hiếm so với nhu cầu sẽ có thể dẫn tới sử dụng tài sản chung một cách lãng phí hoặc bị công chức nhà nước lạm dụng vì lợi ích riêng của họ.

Bối cảnh thế giới đã thay đổi rất nhiều so với thời của C. Mác và V.I.Lênin, nhất là lực lượng sản xuất với tư cách công cụ, phương tiện sản xuất và bản thân con người với tri thức, kỹ năng và văn hóa tiên tiến, hiện đại. Tuy nhiên, lý tưởng XHCN (nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bất bình đẳng, nâng người lao động lên địa vị làm chủ cuộc đời của họ) thì không thay đổi. Vấn đề là tìm phương cách khả thi, tối ưu để thực hiện lý tưởng đó trong điều kiện hiện tại, nhất là tìm phương cách thể chế hóa chế độ sở hữu và các loại hình sở hữu trong nền kinh tế thị trường sao cho đạt tốc độ tăng trưởng, phát triển tối ưu đi đôi với tạo điều kiện để đông đảo người lao động có sự hiểu biết và kỹ năng để thông qua nhà nước mà làm chủ vận mệnh của mình. Phải chăng phương cách đó là đổi mới, cải cách tiệm tiến đã được nêu ra trong Đại hội VI và được hoàn thiện dần ở các Đại hội sau này là: ưu tiên giải phóng sức sản xuất kể cả thừa nhận các thành phần kinh tế chưa phải XHCN, các hình thức sở hữu đa dạng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện dân chủ, công bằng, tiến bộ xã hội trong từng chính sách, giai đoạn phát triển đất nước.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2020

* Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Nghiên cứu, tổng kết lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề sở hữu, kinh tế nhiều thành phần và đề xuất, bổ sung, phát triển vào thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới”, Mã số: KX.02.16/16-20, do PGS, TS Vũ Văn Phúc làm Chủ nhiệm.

PGS, TS Trần Thị Minh Châu

Viện Kinh tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền