Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Giá trị hiện thực, ý nghĩa thời đại trong quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ
Thứ ba, 18 Tháng 5 2021 15:56
835 Lượt xem

Giá trị hiện thực, ý nghĩa thời đại trong quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ

(LLCT) - Ph.Ăngghen - nhà lý luận lỗi lạc và chiến sỹ cách mạng vĩ đại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, “cây vĩ cầm thứ hai” sau C.Mác, người đã cùng C.Mác sáng lập học thuyết Mác - một học thuyết khoa học và cách mạng trong thời đại hiện nay. Một trong những cống hiến vĩ đại của Ph.Ăngghen là lý luận của Người về nguồn gốc nhà nước, bản chất dân chủ, về tiếp cận dân chủ từ góc độ nhà nước. Quan điểm về dân chủ của Ph.Ăngghen có giá trị hiện thực và ý nghĩa thời đại to lớn trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Ph.Ăngghen, dân chủ, nhà nước, các nước Bắc Âu, Việt Nam.

1. Quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, nhiệm vụ của cách mạng vô sản là sau khi giành được chính quyền, phải biết sử dụng có hiệu quả quyền lực nhà nước để xây dựng thiết chế kinh tế, chính trị - xã hội mới, ở đó nhân dân lao động trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể tối cao, duy nhất của mọi quyền lực. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: Giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền cần: “Tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền lực thống trị chính trị của giai cấp vô sản”(1).

Theo Ph.Ăngghen, bản chất của dân chủ với tính chất là một chế độ nhà nước, trong đó nhân dân giữ vai trò trung tâm, nhân dân là cơ sở quyết định, là lý do tồn tại của chế độ nhà nước dân chủ, chế độ dân chủ là chế độ nhà nước của nhân dân.

Sự phát triển của dân chủ từ thấp đến cao, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư sản, sau này đến dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa). Mặc dù đánh giá cao những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản đương thời, đó cũng là kết quả quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Ph.Ăngghen cũng khẳng định những mặt trái, hạn chế của dân chủ tư sản. Ph.Ăngghen viết: “Chế độ dân chủ, giống như bất kỳ chính thể nào khác, rốt cuộc cũng là sự mâu thuẫn ở ngay trong bản thân, cũng là sự dối trá, chẳng qua cũng chỉ là sự giả dối... Tự do chính trị là tự do giả, là chế độ nô lệ tồi tệ nhất; nó chỉ là vẻ bề ngoài của tự do, và vì thế, trên thực tế, nó là chế độ nô lệ. Bình đẳng chính trị cũng như vậy; vì thế chế độ dân chủ cũng như bất kỳ hình thức quản lý nào khác, cuối cùng phải tan rã; sự giả dối không thể tồn tại lâu dài, mâu thuẫn che đậy ở trong đó tất yếu sẽ phải bộc lộ ra; hoặc là chế độ nô lệ thực sự tức là chế độ chuyên chế không che đậy; hoặc là tự do thực sự và bình đẳng thực sự tức là chủ nghĩa cộng sản”(2).

Như vậy, từ phân tích về tính chất tạm thời, tính chất nhất định sẽ bị vượt qua của dân chủ tư sản đã dẫn đến tư tưởng về tính tất yếu của cách mạng vô sản như một bước mà xã hội loài người nhất định phải trải qua để đi đến một xã hội dân chủ thực sự. Theo Ph.Ăngghen, bản chất giai cấp của dân chủ tư sản là dân chủ đối với thiểu số bóc lột và chuyên chính đối với đa số nhân dân lao động, đó là dân chủ giả dối của bản chất nô lệ, dân chủ thực sự, tự do bình đẳng thực sự chỉ có thể đạt được dưới chủ nghĩa cộng sản. Ph.Ăngghen cho rằng, xã hội xã hội chủ nghĩa - cộng sản chủ nghĩa sẽ tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện trên thực tế nguyên tắc: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(3).

Theo Ph.Ăngghen, giai đoạn thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, phải “giành lấy dân chủ”. Người khẳng định, chỉ có giành được chính quyền nhà nước, giai cấp vô sản mới xây dựng và phát huy được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thành được sứ mệnh lịch sử đưa nhân dân, trước hết là nhân dân lao động trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực.

Trong tư tưởng của Ph.Ăngghen về dân chủ, sự tham gia chính trị của nhân dân là yếu tố cốt lõi, quyết định đối với vai trò làm chủ của nhân dân trong chế độ nhà nước dân chủ. Do đó, “Chế độ nhà nước, một khi không còn là biểu hiện thật sự ý chí của nhân dân nữa thì trở thành một cái hữu danh vô thực”(4).

Dựa trên lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, coi sự phát triển xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên, Ph.Ăngghen giải thích, dân chủ dựa trên quy luật vận động phát triển của xã hội loài người, trong đó kinh tế là một yếu tố quan trọng. Dân chủ luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người, nó là sản phẩm phản ánh các mối quan hệ của con người mà quan trọng nhất là quan hệ về kinh tế.

Ph.Ăngghen cho rằng, nền dân chủ tư sản chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số bóc lột, giai cấp tư sản dựa trên sự tước đoạt tự do của công nhân và nhân dân lao động. Với những tên gọi, chiêu bài như: “nhà nước phúc lợi chung”, “nhà nước tự do”, “sản phẩm lao động toàn vẹn”... đã che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản, nhằm biện hộ cho giai cấp tư sản, cho những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất và quan hệ tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này làm cho các cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội trong chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc. Một nền dân chủ chân chính phải là nền dân chủ của đa số nhân dân lao động, do đa số nhân dân lao động làm chủ quyền lực trong xã hội. Xã hội mới ấy là xã hội cộng sản chủ nghĩa, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845): “Trong khuôn khổ của xã hội cộng sản chủ nghĩa, cái xã hội duy nhất mà trong đó sự phát triển độc đáo và tự do của các cá nhân không còn là lời nói suông - Sự phát triển ấy chính là do mối liên hệ giữa những cá nhân quyết định, mối liên hệ được biểu hiện một phần trong những tiền đề kinh tế, một phần trong sự cố kết tất yếu của sự phát triển tự do của mọi người, và cuối cùng trong tính chất phổ biến của hoạt động của các cá nhân, trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện có”(5).

Xã hội ấy chính là: “Một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(6) như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848.

Nghiên cứu tư tưởng của Ph.Ăngghen về dân chủ, có thể thấy vấn đề cốt lõi là tự do và coi trọng quyền lực của nhân dân. Điều ấy chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao cả khi hướng dân chủ tới mục đích tự do, công bằng và hạnh phúc cho nhân dân.

Ph.Ăngghen đã phân tích sự xuất hiện của nhà nước, đó là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Về bản chất, nhà nước thực thi quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về mặt kinh tế nhằm duy trì trật tự xã hội hiện hành, bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị, trấn áp sự phản kháng của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác. Do đó, giai cấp nắm chính quyền nhà nước cũng là giai cấp được xã hội thừa nhận, là đại biểu chung của xã hội. Giai cấp nắm chính quyền nhà nước thực hiện sự thống trị chính trị dưới các hình thức nhà nước khác nhau, tùy thuộc điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa trong và ngoài nước, tùy thuộc vào tương quan so sánh lực lượng của các giai cấp trong xã hội.

Dưới chủ nghĩa tư bản, hình thức nhà nước phổ biến là chế độ cộng hòa dân chủ tư sản (cộng hòa tổng thống, cộng hòa nghị viện, cộng hòa hỗn hợp). Nhà nước thừa nhận quyền dân chủ của mọi công dân, tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, như V.I.Lênin đã nhận xét: Chế độ cộng hòa tư sản “Xét về phương diện phát triển của xã hội trên toàn thế giới, đều là một bước tiến rất lớn”(7).

Song, khi nhà nước còn tồn tại trên cơ sở chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thì quyền lợi thực sự vẫn thuộc về giai cấp tư sản. Do vậy, vạch trần bản chất dân chủ dưới chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen khẳng định: “Người ta tưởng tượng là đã tiến được một bước táo bạo phi thường, nếu họ tự giải thoát khỏi lòng tôn sùng chế độ quân chủ thế tập và trở thành những người theo chế độ cộng hòa dân chủ. Nhưng thực ra, nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác; điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”(8).

2. Giá trị hiện thực trong quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ ở một số quốc gia châu Âu hiện nay

Tư tưởng của Ph.Ăngghen về dân chủ được thực tiễn lịch sử ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và thực tiễn ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay chứng minh tính đúng đắn, khoa học.

Trong khi chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào thì chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa. Chủ nghĩa tư bản nắm ưu thế về sở hữu vốn, khoa học công nghệ và thống trị phần lớn thế giới, nhất là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra như vũ bão. Dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tạo tiền đề mới cho chủ nghĩa xã hội ra đời, thay thế cho chủ nghĩa tư bản; tuy vậy, chủ nghĩa tư bản còn nhiều tiềm năng phát triển. Nền dân chủ dưới chủ nghĩa tư bản cũng có bước phát triển mới mặc dù vẫn chứa đựng nhiều mâu thuẫn gay gắt.

Mô hình xã hội dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa Bắc Âu chứa đựng những giá trị tiến bộ về dân chủ, nhân quyền, những giá trị phúc lợi phục vụ cho người dân. Là mô hình thành công cả về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội theo hướng dân chủ, công bằng, văn minh.

Ở các nước Bắc Âu, người dân có khả năng tham gia vào chính trị ngày càng tích cực, có hiểu biết tương đối đầy đủ về chính quyền, chính phủ đang và sẽ làm gì. Những sáng kiến chính trị của người dân được lắng nghe, tôn trọng và có cơ chế hiện thực để trình bày, thẩm định và nếu khả thi thì sẽ có cơ chế để hiện thực hóa. Người dân được tham gia vào các hoạt động kinh tế và thụ hưởng thành quả của nền kinh tế, phúc lợi xã hội được quan tâm.

Các nước Bắc Âu có nền kinh tế thị trường khá phát triển, năng động, được điều tiết bằng những lợi ích xã hội. Công bằng xã hội, bình đẳng xã hội có bước tiến đáng kể, sự phân hóa giàu nghèo thấp. Mô hình quốc gia phúc lợi với chính sách bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội là công cụ điều tiết quan trọng nhất để đạt tới bình đẳng xã hội. Chính quyền chịu trách nhiệm chính cho toàn bộ phúc lợi của công dân. Trách nhiệm chính quyền ở đây mang tính toàn diện, do một “mạng lưới an sinh xã hội” bảo đảm. Trong nhiều năm qua, các nước Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch được coi là những quốc gia phát triển thành công, bền vững nhất thế giới, có độ ổn định chính trị, có khả năng cạnh tranh về kinh tế, phúc lợi xã hội và chỉ số hạnh phúc cao.

Mô hình quốc gia phúc lợi Bắc Âu đề cao tính hiệu quả, hiệu lực, công bằng xã hội, bền vững. Phát triển xã hội, phát triển con người là mục tiêu cao nhất trong quá trình phát triển. Họ cho rằng muốn có nguồn lực để thực hiện phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống con người thì cần phải phát triển kinh tế để tạo ra nhiều của cải vật chất. Tăng trưởng kinh tế bền vững dựa trên thị trường cởi mở hiệu quả. Kinh tế thị trường xã hội tại các nước Bắc Âu là nền kinh tế thị trường kết hợp tự do cá nhân, năng lực hoạt động kinh tế với điều tiết của chính phủ vì tiến bộ và công bằng xã hội. Đây được xem là một trong những mô hình phát triển khá phù hợp hiện nay.

Mô hình Bắc Âu theo đuổi các mục tiêu: Bảo đảm và nâng cao tự do vật chất cho mọi công dân bằng cách bảo đảm cơ hội kinh doanh và hỗ trợ cho các cá nhân tham gia thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội. Nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời từng bước phòng tránh các khuyết tật thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp và những bất trắc khác qua hệ thống bảo hiểm đa dạng, đa diện. Các quyết định kinh tế, chính trị của chính quyền được hoạch định trên cơ sở quan tâm đến nhu cầu cá nhân và hài hòa với lợi ích cộng đồng. Thực hiện công bằng xã hội cả trong khởi nghiệp và trong phân phối giúp ổn định  xã hội, góp phần khắc phục những khuyết tật cố hữu của nền kinh tế thị trường như cạnh tranh khiến cho phân tầng, phân cực xã hội sâu sắc, theo đuổi lợi ích cá nhân trên cơ sở hy sinh lợi ích xã hội...

Qua khảo sát, đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, trong thời gian qua, Chính phủ các nước Bắc Âu được đánh giá cao về các chỉ số minh bạch, hạn chế tham nhũng, lòng tin của xã hội, mức tín nhiệm với các thể chế chính trị hiện hành. Ở những nước này, phát triển dân chủ hướng tới xây dựng đồng thuận và lòng tin xã hội đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Niềm tin xã hội của công dân đối với chính phủ tạo nên một xã hội vừa năng động trong kinh tế thị trường lại vừa cân bằng, hài hòa trong quốc gia phúc lợi. Các nước Bắc Âu coi lòng tin xã hội là một thứ vốn trong kinh doanh, là chất keo gắn kết xã hội thành một khối mà nhân lõi là nền chính trị dân chủ.

Mô hình các nước tư bản chủ nghĩa Bắc Âu cũng gây ra nhiều tranh cãi. Có ý kiến cho rằng, đó là sự tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, là cách kéo dài chủ nghĩa tư bản, cách để vượt qua chủ nghĩa tư bản, hoặc là một kiểu phủ định chủ nghĩa tư bản. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song nền dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa Bắc Âu hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế, khiếm khuyết trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Điều này được thể hiện rõ dưới tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, như cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 và đại dịch COVID-19 hiện nay.

Thực tế trên càng khẳng định tính đúng đắn quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ dưới chủ nghĩa tư bản khi cho rằng: Điểm khác biệt căn bản giữa chế độ dân chủ với chế độ chuyên chế là “Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì pháp luật, mà pháp luật tồn tại vì con người... Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy”(9).

Thực tế cho thấy, trước những xu thế phát triển mới của thời đại, nhất là phong trào đấu tranh của nhân dân lao động và giai cấp công nhân, chủ nghĩa tư bản không những có những điều chỉnh về kinh tế mà còn kết hợp giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến vấn đề dân chủ. Mặt khác, ngay trong lòng xã hội tư bản cũng xuất hiện những nhân tố mầm mống của xã hội tương lai như công ty cổ phần, các hợp tác xã của những người lao động...

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản ngay khi chủ nghĩa tư bản đang ở thời kỳ phát triển. Bảo vệ, phát triển một cách sáng tạo học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước và dân chủ trong thời đại đế quốc và cách mạng vô sản, V.I.Lênin đã phê phán, vạch trần sai lầm của những quan điểm cơ hội chủ nghĩa về nhà nước và dân chủ của phái Becxtanh và Cauxki. Những người này đã thần thánh hóa nền dân chủ tư sản, sùng bái chế độ đại nghị, tuyên truyền “dân chủ thuần túy”, đối lập một cách siêu hình dân chủ với chuyên chính vô sản. Về thực chất, họ phủ nhận việc giai cấp vô sản thống trị xã hội thông qua nắm chính quyền nhà nước, phủ nhận chuyên chính giai cấp vô sản. V.I.Lênin khẳng định: “Chỉ những người đã hiểu rằng chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho suốt cả thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa, chỉ những người đó mới thấm nhuần được thực chất học thuyết của C.Mác về nhà nước”(10).

Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới, về bản chất nó là chính quyền của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, quá trình tăng cường, củng cố quyền lực nhà nước và sự phát triển mở rộng dân chủ đối với nhân dân trong chủ nghĩa xã hội không những không đối lập mà còn thống nhất với nhau. Chính vì lẽ đó, dưới chủ nghĩa xã hội, từ thực tiễn nước Nga Xô viết, V.I.Lênin đã coi: “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”(11), là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện nhà nước vô sản, để bảo đảm “dân chủ vô sản gấp triệu lần dân chủ tư sản” như V.I.Lênin đã khẳng định.

3. Vận dụng quan điểm của Ph.Ăngghen về dân chủ ở Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Ph.Ăngghen về dân chủ, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm, là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và Pháp luật quy định. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân.

Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”(12).

Thực hiện mục tiêu trên, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết cần bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng, là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội”(13).

Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật kỷ cương. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung mối quan hệ thứ mười cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ tới là thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là chủ trương đúng đắn trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, về mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính. Điều này phù hợp với yêu cầu thực tiễn và lịch sử cụ thể của Việt Nam hiện nay.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện khác về bản chất với nền dân chủ tư sản và các nền dân chủ đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đó là nền dân chủ tiến bộ, nhân văn, thuộc về nhân dân lao động, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, hệ thống tổ chức Nhà nước do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện cùng với quá trình mở rộng, làm phong phú thêm các yêu cầu đa dạng của nhân dân về quyền tự do, tự quyết và các điều kiện cho sự phát triển toàn diện con người. Nền dân chủ ấy chính là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu chân chính của cách mạng, vừa giữ vai trò động lực, phát triển trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Nhằm tiếp tục hoàn thiện, phát triển nền dân chủ trong điều kiện mới, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng rút ra bài học kinh nghiệm thứ hai sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là: “Phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “Dân là gốc”; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”(14).

Dự thảo Báo cáo chính trị xác định: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”(15).

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2021

(1), (3), (6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, tr.469-470, 628, 628.

(2), (4), (9) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.723, 394, 350.

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Sđd, tr.644.

(7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1976, tr.94.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.22, Sđd, tr.290-291.

(10), (11) V.I.Lênin: Toàn tập, t.33, Sđd, tr.43-44, 97.

(12), (13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.169-170, 170.

(13) Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tr.17, 50.

PGS, TSKH Trần Nguyễn Tuyên

Hội đồng Lý luận Trung ương

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền