Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Giải pháp thực hiện hiệu quả công tác dân tộc trong thời kỳ mới
Thứ ba, 25 Tháng 5 2021 16:10
4780 Lượt xem

Giải pháp thực hiện hiệu quả công tác dân tộc trong thời kỳ mới

(LLCT) - Thực hiện tốt công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Bài viết đánh giá vai trò của công tác dân tộc trong quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: công tác dân tộc.

1. Thực trạng thực thi chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), được khẳng định trong văn kiện các Đại hội, nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng và trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011(1).

Nguyên tắc này được cụ thể hóa thông qua hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi(2). Nhờ đó, kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những bước phát triển.

Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế còn tồn tại của hệ thống chính sách(3), đó là:

Thứ nhất, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ. Các chính sách phát triển vùng dân tộc, miền núi ở nước ta hướng tới khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhưng do cơ chế thực hiện thiếu đồng bộ, quá trình triển khai còn hạn chế, nên chưa tạo điều kiện cho các hộ nghèo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện một số chính sách chậm được ban hành. Một số chính sách khó thực hiện, hoặc không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

Đối tượng thụ hưởng chính sách chưa rõ ràng, khâu quản lý, tổ chức thực hiện chính sách chưa công khai, minh bạch; các chính sách thiếu sự kết nối về nội dung, nhiệm vụ, trùng lắp về địa bàn và đối tượng thụ hưởng. Cụ thể, nội dung hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng có 24 chính sách, được cụ thể hóa bằng các chương trình khác như: Chương trình 135, Chương trình 30a, Chương trình giảm nghèo, Chương trình định canh, định cư,... Nội dung hỗ trợ phát triển sinh kế có tới 20 chính sách khác nhau được ban hành; hỗ trợ đồng bào dân tộc vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, song các mức vay và lãi suất cho vay khác nhau, không thống nhất.

Thứ hai, nội dung chính sách thiếu công bằng. Công bằng là yêu cầu quan trọng trong xây dựng và thực thi chính sách vùng dân tộc, nhằm bảo đảm xử lý hài hòa mối quan hệ nội bộ từng dân tộc cũng như mối quan hệ giữa các dân tộc. Công bằng còn được nhìn nhận dưới khía cạnh bình đẳng cơ hội phát triển giữa các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc rất ít người, sinh sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, thiếu cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản và quyền tham chính. Hiện nay, một số chính sách ưu đãi phát triển cho vùng dân tộc và miền núi được áp dụng chung trên cả nước, nhưng khó thực thi ở một số vùng, hoặc người dân ít được hưởng lợi từ chính sách. Chẳng hạn, ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc, điều kiện tự nhiên khó khăn, nguồn lực hạn chế; kết cấu hạ tầng yếu kém cả về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, do đó nhu cầu đầu tư lớn hơn, nhưng do chính sách đối với các vùng đều như nhau nên gây bất lợi cho sự phát triển của khu vực này.

Thứ ba, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo còn mang tính bao cấp, như chính sách hỗ trợ gạo, vải mặc, dầu hỏa, cấp tiền điện, v.v, chưa thúc đẩy các hộ tự vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống; chưa có chính sách đối với các hộ cận nghèo, do đó, làm tăng tính ỷ lại của đối tượng thụ hưởng, một số hộ nghèo không muốn thoát nghèo, một số hộ cận nghèo muốn được công nhận là hộ nghèo để hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Có nhiều chính sách được ban hành nhưng nguồn lực thực hiện chưa đáp ứng nhu cầu; việc xây dựng chính sách mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn, thời gian và nguồn lực thực hiện không tương xứng. Vì vậy, hiệu quả thực thi chính sách còn hạn chế.

Thứ tư, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách chưa phù hợp.

- Năng lực xây dựng và ban hành chính sách còn yếu, chất lượng chính sách chưa cao. Sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành trong xây dựng và phân bổ nguồn lực chưa chặt chẽ. Nhiều chính sách ban hành không sát với nhu cầu thực tiễn nên hiệu quả không cao, cách tiếp cận, hỗ trợ của chính sách chưa tạo sự năng động, sáng tạo cho người thụ hưởng chính sách.

- Việc phân công quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách còn chồng chéo. Các chính sách được xây dựng với mục tiêu lớn, nhưng thời gian thực hiện mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn. Cơ chế thực thi chính sách không đồng bộ, việc phân công quản lý, điều hành một số chương trình, dự án có sự chồng chéo về đối tượng và địa bàn, trùng lắp về nội dung... Một số chính sách còn thiếu sự phối hợp hoặc bỏ sót vai trò của hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc dẫn đến khó khăn trong triển khai. Vai trò và trách nhiệm của từng bộ, ngành chưa rõ ràng, cụ thể; năng lực phối hợp thực thi chính sách còn hạn chế, nguồn lực thực hiện phân tán, thiếu sự điều phối thống nhất. Hầu như mỗi chính sách giảm nghèo được ban hành có nguồn lực riêng, đòi hỏi cơ chế tài chính riêng dẫn đến việc phân bổ nguồn lực phân tán, manh mún, nhiều đầu mối.

- Việc phân cấp thực hiện thiếu đồng bộ. Thí dụ, với các công trình cùng quy mô, nhưng có công trình do xã quản lý, có công trình do huyện làm chủ đầu tư. Các chương trình, dự án không gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều công trình cùng lúc triển khai trên địa bàn nhưng không được tham vấn dẫn đến việc lồng ghép các nguồn lực gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả đầu tư, quy trình giám sát cộng đồng bị coi nhẹ, nhiều nơi mang tính hình thức.

- Quá trình thực hiện chính sách chưa gắn với cân đối, bố trí nguồn lực, chưa bám sát thực trạng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phần lớn các chính sách đều mang tính hỗ trợ, định mức đầu tư thấp dẫn đến tình trạng manh mún; có chính sách chậm bố trí vốn, phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức không còn phù hợp. Có chính sách cấp vốn thiếu đồng bộ (vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, vốn vay...) dẫn đến khó khăn trong thực hiện; có chính sách cấp không đủ vốn, các địa phương bố trí dàn trải không dứt điểm từng công trình, ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách. Cơ chế phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, còn mang tính bình quân, chưa căn cứ vào quy mô dân số, vị trí địa lý, điều kiện phát triển và mức độ khó khăn của địa phương.

- Việc thực hiện một số chính sách thiết yếu về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS nghèo chưa được giải quyết dứt điểm; việc quy hoạch, đền bù, tái định cư tại một số dự án kinh tế - xã hội như: thủy điện, khai khoáng, các dự án thu hồi đất và giao đất cho nông, lâm trường... chưa thỏa đáng, chưa phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa của từng dân tộc, chưa gắn nơi ở với địa bàn canh tác, do đó đồng bào không thích nghi với cuộc sống mới, nguy cơ di cư tự do và tái nghèo cao.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển và tăng cường đoàn kết các dân tộc trong thời gian tới

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác quản lý nhà nước về phát triển các dân tộc thiểu số.

Từ kinh nghiệm của các quốc gia đa dân tộc và thực tiễn nước ta cho thấy, để thực hiện quản lý nhà nước về phát triển DTTS, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc. Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân của các dân tộc; khắc phục những bất cập về thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc mà Việt Nam tham gia và cam kết thực hiện, như: Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ..., qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước Việt Nam.

Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung chính sách phải bảo đảm tính khoa học, thống nhất và có sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn. Cần tiến hành rà soát chính sách dân tộc hiện nay để điều chỉnh phù hợp với yêu cầu tình hình mới.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ là những nội dung quy định về quản lý, phân công trách nhiệm và quyền lợi giữa các cấp, các tổ chức, mà còn bao gồm hướng dẫn xây dựng, cải tiến tổ chức và điều hành bộ máy, góp phần tăng cường sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp ở địa phương trong thực hiện công tác dân tộc và hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi. Xây dựng mạng lưới, thúc đẩy sự liên kết giữa các tổ chức và cá nhân trong hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi.

Thứ hai, đổi mới, hoàn thiện cơ chế hoạch định và thực thi chính sách dân tộc.

- Tăng cường sự phối hợp trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Hệ thống chính sách dân tộc liên quan đến nhiều lĩnh vực, do nhiều ngành chịu trách nhiệm quản lý nên cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan, nhất là các bộ chuyên ngành.

Cần tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp về vai trò tham gia của Hội đồng Dân tộc đối với các dự thảo chính sách dân tộc trước khi Chính phủ ban hành. Ủy ban Dân tộc chủ động hình thành cơ chế quản lý thông tin về hệ thống chính sách dân tộc ở cấp tỉnh và Trung ương; xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Dân tộc trong việc xác định vấn đề chính sách, xây dựng nội dung chính sách và tổ chức thực thi, tiến hành kiểm tra, giám sát hằng năm và 5 năm.

Cải tiến tổ chức và điều hành quản lý trên cơ sở những chế định rõ ràng về trách nhiệm, phân công hợp lý, xác lập cơ cấu tổ chức phù hợp. Cần tiếp tục đẩy mạnh sự tham gia của các tổ chức Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn. Một số hoạt động có thể giao trực tiếp như: Quản lý tín dụng giao cho Hội phụ nữ, mô hình kỹ thuật giao cho Đoàn thanh niên hoặc tổ chức khác tùy theo điều kiện từng nơi.

- Đổi mới công tác giám sát, đánh giá, quản lý theo mục tiêu chính sách, thiết lập hệ thống mục tiêu và chỉ tiêu phù hợp.

Công khai hóa các chương trình, dự án đầu tư, đặc biệt là nguồn lực tài chính, cơ chế thực thi chính sách, các chế độ liên quan đến người nghèo, đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, để người dân được biết và tham gia, bảo đảm nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nghiên cứu đổi mới hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá chung và cụ thể hóa cho từng chính sách phục vụ công tác giám sát, đánh giá các cấp.

Tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát, chia sẻ thông tin giữa các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện các chính sách và sử dụng các nguồn tài chính huy động được.

Đổi mới công tác thanh tra của Ủy ban Dân tộc, tăng cường hoạt động thanh tra của các Ban Dân tộc địa phương; tập trung vào các vụ việc nổi cộm, có giải pháp xử lý rõ ràng, gắn với kiến nghị điều chỉnh chính sách hoặc cơ chế quản lý.

Tăng cường các hoạt động khảo sát, giám sát; tổ chức các phiên giải trình của Hội đồng Dân tộc, các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những nội dung liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc. Phối hợp tổ chức các phiên giải trình về chính sách liên quan đến các bộ, ngành; tổng hợp các vấn đề cấp thiết cũng như đề xuất giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách đưa ra diễn đàn Quốc hội để kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước.

- Tăng cường công tác thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, minh bạch và đẩy mạnh nghiên cứu phục vụ điều hành, quản lý. Nắm bắt tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trật tự và môi trường vùng dân tộc và miền núi, trong đó, tập trung vào vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, khu vực biên giới; các dân tộc còn nhiều khó khăn, các dân tộc ít người, vùng tiềm ẩn nhân tố gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, dân tộc cùng các chỉ số phát triển cho các vùng, các dân tộc, đơn vị hành chính. Thông tin về chính sách và tiến trình thực hiện chính sách, kết quả và những tác động ảnh hưởng đến các cơ quan quản lý có liên quan, phương tiện thông tin đại chúng nhằm tăng cường thông tin và nhận thức chung.

- Đổi mới cách thức thông tin, phổ biến, quán triệt chính sách đến cơ sở, người dân. Tổ chức truyền thông, tuyên truyền và phân phối thông tin theo nhiều kênh khác nhau như: truyền hình, phát thanh, báo chí, internet, tuyên truyền lưu động phù hợp với điều kiện từng vùng, địa phương về chủ trương, chính sách dân tộc và chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc và miền núi. Thông tin rộng rãi về các mô hình và kinh nghiệm phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo hiệu quả ở các vùng sinh thái, với các quy mô khác nhau.

- Nâng cao năng lực của cấp ủy và chính quyền các cấp trong vận dụng và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với đặc điểm từng địa phương. Ban Dân vận cần tăng cường khả năng tham mưu cho cấp ủy địa phương về công tác dân vận vùng đồng bào DTTS; Ban Dân tộc phối hợp với các ban, ngành xây dựng các chương trình, dự án phát triển cũng như đề xuất các kiến nghị, giải pháp để bổ sung, hoàn chỉnh chính sách. Cấp ủy và chính quyền cấp huyện và cơ sở không ngừng nâng cao vai trò trong tổ chức và phối hợp thực hiện chủ trương, chính sách chung của Trung ương, của địa phương cũng như các chương trình, dự án cụ thể.

Thứ ba, đổi mới tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy thực hiện công tác dân tộc.

 Trước hết, cần hoàn thiện và nâng cao năng lực hệ thống cơ quan phụ trách công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương trên cơ sở bảo đảm số lượng, chất lượng, tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện chính sách dân tộc. Xây dựng cơ chế phối hợp, xác định rõ vai trò, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc; cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan thực hiện chính sách và các cấp chính quyền địa phương.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở vùng dân tộc. Chú trọng đào tạo, xây dựng phong cách làm việc cho cán bộ gắn với dân chủ hóa trong đời sống kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, khắc phục tư tưởng xa dân, quan liêu và cục bộ. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức các ngành, các cấp có liên quan để có đủ khả năng và kiến thức hoạch định chính sách, quản lý và triển khai các chương trình phát triển ở vùng dân tộc và miền núi.

Xây dựng và ban hành chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức người DTTS phù hợp với điều kiện, khả năng và tình hình cụ thể mỗi giai đoạn. Nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước đồng bào các DTTS, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Thứ tư, gắn chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi với chính sách xây dựng khối đoàn kết các dân tộc. Trong đó, chăm lo phát triển kinh tế nhằm cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và đồng bào các dân tộc có số dân ít đang còn nhiều khó khăn là nền tảng bền vững để xây dựng khối đoàn kết các dân tộc.

Quan tâm xây dựng lực lượng chính trị trong vùng đồng bào các DTTS để họ tự đảm nhận công việc tại cơ sở, đưa dân tộc mình tiến lên cùng các dân tộc khác. Phát huy vai trò của những người có uy tín (già làng, trí thức DTTS) trong quá trình củng cố và tăng cường khối đoàn kết các dân tộc.

Đổi mới công tác dân vận, công tác vận động quần chúng, thật sự hướng về cơ sở, nhất là các thôn, buôn vùng đồng bào các DTTS, đồng bào có đạo. Nội dung, phương pháp vận động cụ thể, thiết thực, phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý của đồng bào.

Mặt trận và các đoàn thể các cấp phối hợp chặt chẽ với chính quyền, hoạt động thông qua quy chế phối hợp, hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến từng tôn giáo, từng tộc người, đến từng hộ gia đình, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, vùng đồng bào có đạo.

Công tác vận động quần chúng phải được coi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của hệ thống chính trị các cấp, trong đó, cấp cơ sở có trách nhiệm chủ động, tự lực, trực tiếp thực hiện. Các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đẩy mạnh các phong trào hoạt động của quần chúng và cử cán bộ tham gia các đội công tác phát động quần chúng. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng có tâm huyết, biết nghe dân nói, nói dân nghe, làm dân tin.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2021

(1) Xem: ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991, 1996, 2001, 2006, 2011, 2016.

(2) Theo thống kê của Ủy ban Dân tộc, đến năm 2017, có khoảng 66 luật và hơn 200 văn bản dưới luật có nội dung liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, từ đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đến an ninh và quốc phòng... vùng DTTS và miền núi. Trong số các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc, có 1 Nghị định, còn lại chủ yếu là thông tư, quyết định phê duyệt các chương trình, kế hoạch hỗ trợ phát triển, mang tính chất quản lý, điều hành việc thực hiện, triển khai các dự án, chương trình đầu tư, hỗ trợ cụ thể (Báo Biên phòng). Ngoài ra, các địa phương đã chủ động thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước bằng việc ban hành những chủ trương, chính sách riêng phù hợp với đặc thù của từng địa phương. (Nguồn: Trương Minh Dục (Chủ nhiệm đề tài): Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp quốc gia: “Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”, mã số: KX.04.21/16-20).

(3) Cụ thể: Phạm Văn Hùng (Chủ biên): Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015; Vũ Trường Giang và Nguyễn Thị Thêu: Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đánh giá tác động của các trào lưu lý luận dân tộc cơ bản trong thế giới đương đại đối với Việt Nam hiện nay, do Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị khu vực III và Ủy ban Dân tộc phối hợp tổ chức, Đà Nẵng, tháng 10-2017; Lê Văn Lợi (Chủ biên): Giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018; Trương Minh Dục (Chủ nhiệm đề tài): Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp quốc gia: “Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”, mã số: KX.04.21/16-20, v.v..

 

PGS, TS Trương Minh Dục

Học viện Chính trị khu vực III

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền