Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Những điểm mới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong Văn kiện Đại hội XIII
Thứ hai, 13 Tháng 9 2021 10:07
1397 Lượt xem

Những điểm mới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong Văn kiện Đại hội XIII

(LLCT) - Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ 2016-2020, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các chủ trương, nhiệm vụ mới của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh.

Trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nội dung về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, đã thể hiện một số điểm mới trong đánh giá thực trạng và trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cho nhiệm kỳ 2021-2026.

1. Trong đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

Thứ nhất, đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đầy đủ, toàn diện và chi tiết hơn

Trong đánh giá thực trạng, Đại hội XII của Đảng (năm 2016) chỉ nêu rất ngắn gọn: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được tăng cường, có hiệu lực, hiệu quả hơn, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng”(1). Đại hội XIII đánh giá toàn diện hơn: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Hoạt động kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp được đẩy mạnh, đạt kết quả khá toàn diện, nhất là ở cấp Trung ương”(2).

Điểm mới là, Đại hội XIII đánh giá cao hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nhờ có nhiều đổi mới. Đây là điều rất đáng ghi nhận vì, từ sau Đại hội XII, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; những vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên được xử lý nghiêm minh, không có “ngoại lệ”, không có “vùng cấm”. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường không chỉ có tác dụng giáo dục những cá nhân, tổ chức có vi phạm mà còn “có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên”(3).

Đại hội XIII đánh giá cao kết quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng ở cấp Trung ương vì những hoạt động của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII đã tạo ra được niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, khắc phục được tình trạng thiếu kiên quyết xử lý vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

Thứ hai, các quy định, quy chế về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được ban hành sớm, đầy đủ và đồng bộ hơn

Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Các quy định, quy chế, hướng dẫn về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được sửa đổi, bổ sung, ban hành bảo đảm đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ hơn, xác định rõ hơn nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát làm cơ sở để xem xét, đánh giá, kết luận, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng”(4). Đây là điều rất cần thiết, vì các quy định, quy chế, hướng dẫn về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chính là cơ sở để tiến hành hoạt động này trên thực tế có sự thống nhất và có hiệu quả cao. Việc các quy định, quy chế, hướng dẫn được xây dựng theo hướng chặt chẽ hơn đã giúp khi áp dụng trong thực tế không rơi vào tình trạng không xác định được trách nhiệm của cá nhân hay trách nhiệm của tập thể như đã từng xảy ra.

Đến nay, về cơ bản, Đảng ta đã hình thành được một hệ thống văn bản khá hoàn chỉnh về công tác kiểm tra, tạo thuận lợi để các cấp ủy và ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp tiến hành công tác kiểm tra; vừa có tác dụng giáo dục, răn đe, vừa là tiêu chí, tiêu chuẩn để mỗi cán bộ, đảng viên có cơ sở để tu dưỡng, rèn luyện.

Trong ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn mới về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã chú ý tính đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng với quy định của Nhà nước, vì pháp luật cũng chính là sự thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, vi phạm pháp luật cũng chính là vi phạm kỷ luật của Đảng. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tình trạng chưa thống nhất giữa các quy định của Đảng và quy định của Nhà nước như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu: “Hiện nay, qua rà soát, còn 29 nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng về tổ chức và cán bộ”(5).

Thứ ba, đã thực hiện tốt việc công khai kết quả xử lý vi phạm

Việc công khai kết quả kiểm tra và xử lý vi phạm đã làm tăng thêm tính răn đe đối với những đối tượng đã và đang có những hành vi vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, trong quy trình thực hiện công tác kiểm tra cũng tuân thủ nguyên tắc công khai. Quá trình kiểm tra, đánh giá, kết luận đều được tiến hành công khai; không dùng nghiệp vụ của cơ quan điều tra hoặc gò ép, áp đặt. Dự thảo kết luận kiểm tra được trao đổi dân chủ, và khi cấp có thẩm quyền quyết định thì được thông báo rộng rãi trong phạm vi tổ chức đảng, nhằm tạo bầu không khí tâm lý thẳng thắn, tin tưởng lẫn nhau, phát huy đến mức cao nhất chức năng tâm lý giáo dục của công tác kiểm tra, giám sát. Mọi khuyết điểm, sai lầm được đưa ra không phải chỉ để thi hành kỷ luật, mà điều chủ yếu là để sửa chữa một cách nhanh chóng và kịp thời. Với quy định “công khai kết quả xử lý” trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của internet cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, đã mang lại những hiệu ứng hết sức tích cực và có tính răn đe cao.

Công khai hóa kết quả xử lý cũng là cách lấy ý kiến phản biện của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Công khai kết quả kiểm tra, kết luận các phiên họp của ủy ban kiểm tra cấp ủy, nhất là các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã góp phần tuyên truyền công tác kiểm tra của Đảng, ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm; khẳng định bản lĩnh và trách nhiệm của ủy ban kiểm tra; giúp ủy ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra phải luôn tự đổi mới, cẩn trọng khi kết luận kiểm tra; để đảng viên, nhân dân giám sát hoạt động kiểm tra đảng; kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đúng là hoạt động công khai, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Chính vì vậy, “việc công khai kết luận kiểm tra và xử lý vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có tác động tích cực, góp phần giáo dục cán bộ, đảng viên, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”(6).

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã tập trung vào những trọng điểm

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Công tác kiểm tra, giám sát tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh tiêu cực, những nơi có vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội và kịp thời kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài, dư luận quan tâm đã được xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được nhiều cấp ủy quan tâm chỉ đạo, giải quyết kịp thời, đúng quy định, trong đó có một số vụ tồn đọng, kéo dài, được giải quyết dứt điểm”(7).

Nhờ tập trung vào những lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, những vụ việc tồn đọng, kéo dài, những cán bộ cấp cao có vi phạm mà công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã giúp nhận dạng cụ thể các biểu hiện của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xử lý kỷ luật nhiều tập thể, cá nhân có sai phạm mà không có vùng cấm. Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, tinh thần chiến đấu cao, quyết tâm làm rõ và xử lý vi phạm ở những lĩnh vực nhạy cảm, đối với các cán bộ giữ cương vị cao của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh lực lượng vũ trang, cả cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu.

Thứ năm, hoạt động phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan có liên quan được đề cập rõ ràng và đánh giá khá tích cực

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý để đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp”(8). Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được thực hiện đồng bộ và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan có nhiều chức năng, nhiệm vụ tương đồng như kiểm tra với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử đã tránh được sự chồng chéo, lãng phí trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ và còn tạo ra cơ chế thực hiện nghiêm minh nguyên tắc: vi phạm như nhau xử lý như nhau, không phân biệt chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít; vi phạm đến mức phải xử lý theo pháp luật thì chuyển cho các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý, không giữ lại để xử lý nội bộ.

Thứ sáu, đề cập cụ thể về hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp tập trung lãnh đạo... giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên đạt kết quả khá toàn diện”(9). Những kết quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhiệm kỳ Đại hội XII là rất đáng ghi nhận: “Ủy ban kiểm tra các cấp đã nhận được 104.419 đơn, thư tố cáo, phản ánh tổ chức đảng, đảng viên, trong đó thuộc thẩm quyền phải giải quyết là 319 đơn tố cáo đối với tổ chức đảng và 8.477 đơn tố cáo đối với đảng viên. Trong đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương giải quyết tố cáo đối với 36 đảng viên; qua giải quyết tố cáo đã thi hành kỷ luật và đề nghị thi hành kỷ luật 6 đảng viên có vi phạm. Ủy ban kiểm tra các địa phương, đơn vị giải quyết tố cáo đối với 319 tổ chức đảng và 8.441 đảng viên; qua giải quyết tố cáo phải thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 1.606 đảng viên. Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã giải quyết khiếu nại kỷ luật của 3 tổ chức đảng và 1.034 đảng viên, đã giải quyết xong 3 tổ chức đảng và 1.012 đảng viên, kết quả giữ nguyên hình thức kỷ luật 719 trường hợp, thay đổi hình thức kỷ luật 296 trường hợp”(10).

Thứ bảy, thẳng thắn chỉ ra các hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

Đánh giá về hạn chế, khuyết điểm, Đại hội XII nêu: “Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý, hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát”(11). Đại hội XIII của Đảng nêu rõ ràng, chi tiết và đi sâu vào từng nội dung cụ thể: “Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp”(12). Đây là điều rất đáng quan tâm, vì những hạn chế, khuyết điểm này góp phần dẫn đến tình trạng số lượng tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, có những vi phạm kéo dài qua nhiều năm không được phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời, khiến dư luận bức xúc.

Thứ tám, lần đầu tiên tách riêng nhận định, đánh giá về những hạn chế, khuyết điểm của công tác giám sát

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế”(13).

Thực tiễn ba nhiệm kỳ thực hiện nhiệm vụ giám sát trong Đảng cho thấy, tác dụng của công tác giám sát là rất lớn vì có tính ngăn chặn và phòng ngừa cao. Qua giám sát đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn được những khuyết điểm vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên ngay từ khi mới manh nha. Nhưng, thực tế cho thấy, vẫn còn có những lúng túng trong tổ chức thực hiện việc giám sát dẫn đến kết quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Số đảng viên bị kỷ luật tăng cao trong nhiệm kỳ XII và cả những nhiệm kỳ trước cũng chỉ ra một trong những nguyên nhân là công tác giám sát của Đảng chưa thực sự phát huy được tác dụng trong việc cảnh báo, phòng ngừa vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.

2. Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

Về nhận thức, trách nhiệm

Nếu Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ xác định: “nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về công tác kiểm tra, giám sát”(14), thì Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng”(15).

Nhận thức là cơ sở, là điểm khởi đầu của hành động, nhận thức đúng thì mới có hành động đúng đắn. Tuy nhiên, nhận thức cần đi cùng với trách nhiệm, vì nhiều khi chủ thể có nhận thức đúng nhưng hành động lại chưa đúng. Mặt khác khi triển khai hành động trên thực tế cần có quyết tâm chính trị cao để có hành động đúng đắn trên thực tế.

Về đối tượng cần nâng cao nhận thức, đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, Đại hội XII chỉ nêu đối tượng khá hẹp, là “các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng”, thì Đại hội XIII của Đảng nêu rất khái quát nhưng lại toàn diện và bao trùm là toàn Đảng.

Về quy định, quy chế, quy trình

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, khả thi”(16). Đây là điểm mới rất cần thiết, bởi các quy định của Đảng nói chung, quy định về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng nói riêng đến nay vẫn chưa thực sự hoàn thiện, dẫn đến việc áp dụng trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Thiếu các quy định thì rất dễ dẫn đến áp dụng tùy tiện và không bảo đảm được phương châm của công tác kiểm tra là “công minh, chính xác, kịp thời”.

Về trọng tâm, trọng điểm

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm... Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng”(17).

Điểm mới ở đây là, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng phải có trọng tâm, trọng điểm: tập trung kiểm tra, giám sát “người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm”. Quy định như vậy vừa khắc phục được việc kiểm tra tràn lan, vừa khắc phục được tình trạng “khoán trắng” cho ủy ban kiểm tra, coi đó là trách nhiệm của ủy ban kiểm tra mà quên rằng trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là thuộc về cấp ủy, các tổ chức đảng và tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát góp phần giải tỏa được những bức xúc, bất bình của nhân dân và dư luận xã hội.

Về phương thức tiến hành

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu khá cụ thể đến hoạt động phối hợp các phương thức: kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, kiểm tra đột xuất và kiểm tra dấu hiệu vi phạm; coi trọng tự kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng.

Đặc biệt, cần “Nâng cao khả năng dự báo về những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm”(18). Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên diễn biến phức tạp và tinh vi hơn, việc dự báo đúng sẽ giúp đề ra các biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra đảng, chuyển trạng thái từ đấu tranh chống lại các vi phạm là chính sang ngăn chặn, phòng ngừa là chính. Coi trọng việc nắm tình hình hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, để sớm phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, nhất là các dấu hiệu vi phạm khi còn manh nha, để vi phạm không trầm trọng hơn.

Về công tác giám sát

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, coi trọng giám sát theo chuyên đề. Chủ động nắm chắc tình hình hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới”(19).

Hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm của ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên. Tuy nhiên, cần thấy rằng, bên cạnh việc hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, cấp ủy, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp cần tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm tra việc chấp hành và công tác giám sát, nhất là giám sát theo chuyên đề, để phòng ngừa, nhắc nhở kịp thời, không để các vi phạm tích tụ đến mức rõ ràng rồi mới kiểm tra và xử lý.

Về sự phối hợp các lực lượng

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực giám sát, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực”(20).

Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy trong việc cụ thể hóa và thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện phải xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có vùng cấm, không “xử lý nội bộ”. Vi phạm đến mức phải xử lý hình sự thì kiên quyết chuyển sang cơ quan điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội chính là thực hiện tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, nhằm tổ chức, động viên nhân dân tham gia góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên, góp phần đưa công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đi vào chiều sâu và thực chất.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2021

(1), (11), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.189, 195-196, 208.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (15), (16), (17), (18), (19), (20) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.197, 198, 198, 196, 199, 199, 199, 199-200, 200, 201, 201, 245-246, 246, 246, 246-247, 247, 247.

PGS, TS LÊ VĂN CƯỜNG

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền