Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Sự phát triển lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Thứ ba, 09 Tháng 11 2021 09:14
1841 Lượt xem

Sự phát triển lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

(LLCT) - Công tác lý luận là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, có ý nghĩa quyết định nội dung, hình thức và nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, cổ động. Trong thời kỳ đổi mới, công tác lý luận của Đảng đã thực hiện nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, phát triển lý luận đổi mới ở Việt Nam.

Ảnh minh họa con đường đi lên CNXH. Nguồn: tuyengiao.vn

Đại hội XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá”(1). Công tác lý luận là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, công tác lý luận của Đảng tập trung phát triển lý luận đổi mới ở Việt Nam. Nội dung của nhiệm vụ này là: Nghiên cứu, làm rõ nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện đường lối đổi mới ở Việt Nam. Khái quát những thành tựu nghiên cứu, phát triển lý luận của Đảng trong 35 năm đổi mới ở những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng rõ hơn. Từ Cương lĩnh năm 1991 đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta đã bổ sung, phát triển nhận thức về những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và những thành quả trên thực tế mà những thắng lợi vĩ đại đó mang lại. Đánh giá tổng quát những sai lầm, khuyết điểm và nguyên nhân, đúc rút những bài học kinh nghiệm lớn của Đảng. Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại nhìn nhận, làm sâu sắc hơn những bài học được rút ra từ thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta nêu 5 bài học kinh nghiệm từ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII: Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hai là, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc;" thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng."Ba là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển. Năm là, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được để bị động, bất ngờ.

Nhận thức mới về đặc điểm của thời kỳ quá độ ở nước ta là “một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”(2).

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xây dựng với đặc trưng, 8 phương hướng cơ bản. Bổ sung việc cần nắm vững và giải quyết tốt những quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội...

Hai là, phát triển lý luận về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..

Bằng thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định, một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”.

Với tư duy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, nhận thức của Đảng ngày càng rõ hơn về thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Chuyển dịch nền kinh tế từ phát triển nhanh sang phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững; từ mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng với chiều sâu; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; xây dựng nền kinh tế tự chủ, hội nhập quốc tế; thực hiện ba đột phá chiến lược là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.

Nhận thức mới của Đảng về kinh tế thị trường và sáng tạo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Coi kinh tế thị trường là thành tựu phát triển khách quan của nhân loại, còn tồn tại trong thời kỳ quá độ và cần thiết sử dụng nó để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"(3). Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối cùng tồn tại, phát triển, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát triển theo pháp luật, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Ba là, phát triển lý luận về văn hóa, xã hội, con người

Đó là nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, coi phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển bền vững. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò then chốt của khoa học và công nghệ trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.

Nhận thức lý luận về con người của Đảng sâu sắc,đầy đủ hơn. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính.

Công tác nghiên cứu lý luận là cơ sở cho chính sách xã hội của Đảng, bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; nâng cao và phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.

Bốn là, phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Đảng ta khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay, có quan hệ mật thiết với nhau. Gắn kết kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với đối ngoại.Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc là “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(4). Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc...

Năm là, vận dụng sáng tạo khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” trong điều kiện mới

Sáng tạo nổi bật của Đảng trong thời kỳ đổi mới là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Sáu là, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa

Đảng khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”(5), từng bước xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm để dân chủ được thực thi một cách toàn diện, đầy đủ trong thực tế cuộc sống; dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương xã hội và phải được thể chế hóa và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển tự do, dân chủ của mỗi người dân.

Bảy là, vận dụng sáng tạo lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ nhận thức về nhà nước chuyên chính vô sản đến nhận thức và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước phát triển lý luận sáng tạo của Đảng. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. 

Tám là, vận dụng và phát triển lý luận xây dựng đảng vô sản kiểu mới của chủ nghĩa Mác -Lênin

Đảng khẳng định tính chất giai cấp công nhân của Đảng, đồng thời là Đảng là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.  

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Đảng cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân; chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; gắn đổi mới, chỉnh đốn Đảng và xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,  suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị; tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.25.  

(2), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  tr.70, 84-85.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngkhóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr.30.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 147-148.

                                                                       TS PHÙNG THỊ HIỂN

                                                                      Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền