Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Những yêu cầu mới đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội
Thứ ba, 09 Tháng 11 2021 16:02
17989 Lượt xem

Những yêu cầu mới đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội

(LLCT) - Thấm nhuần, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp; kế thừa những giá trị pháp quyền dân chủ, nhân văn trong hệ thống luật pháp Việt Nam hiện hành; tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp 2013; thể chế hóa quan điểm phát triển đất nước của Đảng, trực tiếp là quan điểm của Đại hội XIII, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã xác định rõ những yêu cầu đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời gian tới. Đó là nhận thức căn bản, tầm nhìn chiến lược, nhân văn trong xây dựng và hoàn thiện nhà Nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ảnh minh họa: Kỳ họp thứ mười Quốc hội khóa XIV. Nguồn: baochinhphu.vn

Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-6-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã viết bài: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc, vận dụng biện chứng, sáng tạo tư tưởng hoạt động lập pháp Hồ Chí Minh; kế thừa những giá trị pháp quyền dân chủ, nhân văn trong hệ thống luật pháp Việt Nam được Quốc hội từ khóa I (1946) đến nay xây dựng; tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp 2013; thể chế hóa quan điểm phát triển đất nước của Đảng, trực tiếp là quan điểm của Đại hội XIII, đó là: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước(1); hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân(2); đột phá chiến lược về thể chế để phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh(3), Chủ tịch Quốc Vương Đình Huệ đã xác định rõ 6 yêu cầu trong hoạt động lập pháp của Quốc hộitrong thời gian tới.

1. Thiết lập hành lang pháp lý đủ mạnh để Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thực tế, sau 75 năm, từ Hiến pháp 1946 đến nay, nước ta đã 4 lần thay đổi Hiến pháp, trong đó hơn 35 năm đổi mới với 2 lần thay đổi (1992 và 2013), đã tạo dựng được hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý và phát triển xã hội. Song, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cả về hình thức, nội dung đến quy trình làm luật; nhiều vấn đề được Đảng xác định qua nhiều đại hội vẫn chưa tạo dựng được thể chế một cách căn bản, khoa học; tư duy làm luật còn mang nặng yếu tố quản lý, chưa hoàn toàn hướng đến mục tiêu kiến tạo phát triển.

Vì vậy, để đạt được mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần phải đổi mới tư duy làm luật để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật tiến bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại. Như Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, hoạt động lập pháp trong thời gian tới “phải tạo được những bước đột phá thực sự về thể chế để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, rất thiết thực và cụ thể, bảo đảm sự bao phủ của pháp luật đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội - đưa thực tiễn, “hơi thở” và nhu cầu của cuộc sống vào pháp luật trước khi triển khai thi hành pháp luật trong thực tiễn. Hệ thống pháp luật phải bảo đảm ngày càng tốt hơn dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(4). Chỉ có thể kịp thời thiết lập đủ hành lang pháp lý đồng bộ thì mới tạo điều kiện, kích thích sự năng động, sáng tạo một cách hăng say của mọi công dân, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh, bền vững.

2. Hệ thống luật pháp phải bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân. Đại hội XIII xác định, phải thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “lấy con người làm trung tâm, phát triển con người toàn diện”, “tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ…, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Đảng ta khẳng định rõ và kiên định mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì thế, con người được xác định là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Theo đó, mục tiêu phát triển con người được cụ thể hóa ở việc chú ý tới quyền con người. Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân để mọi người được phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Do vậy, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ xác định: “Lấy việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của Nhà nước, là tiêu chí đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, trong thi hành công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của pháp luật. Mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp, mang tính bình đẳng và được xác định theo nguyên tắc: Cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, người dân được làm tất cả trừ những điều pháp luật cấm”(5)

3. Bảo đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc: Phân công, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực hiệu quả trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Hiến pháp năm 2013 khẳng định, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, việc thực hiện sự phân công quyền lực cụ thể, rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho bộ phận quyền lực này có thể kiểm soát được bộ phận quyền lực khác hiệu quả, khắc phục được sự trùng lắp, dựa dẫm, hoặc không rõ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Do vậy, cần quán triệt chủ trương của Đảng: “xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(6).

Kiểm soát quyền lực nhà nước là yêu cầu khách quan, xu thế tất yếu. Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước không phải cản trở hoạt động của Nhà nước, làm Nhà nước yếu đi mà ngược lại kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Mặt khác, kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, lạm quyền; bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lưu ý, “việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể cả từ bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước; tăng cường cơ chế giám sát của nhân dân và xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước”(7).

4. Bảo đảm một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp. Hiến pháp và pháp luật tốt là nền tảng để tạo lập một thể chế chính trị dân chủ và một nhà nước minh bạch, quản lý xã hội hiệu quả, bảo vệ tốt các quyền của người dân; tạo lập một nền dân chủ thực sự; là tiền đề để khai mở và phát huy trí tuệ, năng lực của mọi công dân trong xã hội, cũng như để phòng, chống lạm quyền và tham nhũng. Hiến pháp và pháp luật là công cụ pháp lý để bảo vệ dân quyền và nhân quyền. Thực tế cho thấy, sự thịnh vượng, tính năng động, sức sáng tạo mạnh mẽ của xã hội và khả năng hóa giải khủng hoảng một cách nhanh chóng xuất phát từ những nguyên tắc được xác lập trong Hiến pháp.

Hiến pháp và pháp luật của nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng XHCN, hội nhập quốc tế phải mang bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang hướng tới. Bởi vậy, yêu cầu bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp, pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội luôn là vấn đề đặt ra và được quan tâm hàng đầu. Từ yêu cầu đó, cơ chế bảo hiến đã và đang được xây dựng và thực thi. Cơ chế bảo hiến bao gồm toàn bộ các thiết chế, nguyên tắc, các biện pháp tổ chức và thực hiện các hoạt động giải thích hiến pháp; kiểm tra và giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và các điều ước quốc tế; kiểm tra giám sát việc thực hiện các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân; phát hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, và các cá nhân có thẩm quyền. Với quan điểm đó, Chủ tịch Quốc hội xác định: “một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là yêu cầu, điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh. Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp, pháp luật phải phù hợp với thể chế nước ta và hướng tới mục tiêu bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi này. Cùng với bảo vệ Hiến pháp, phải tiếp tục hoàn thiện và thực thi một chế độ tư pháp thật sự minh bạch, trong sạch để duy trì, bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội”(8).

5. Bảo đảm thích ứng với những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trước sự phát triển và tác động mạnh mẽ, sâu sắc của cách mạng khoa học và công nghệ, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu: “hoạt động lập pháp phải tạo cơ sở pháp lý để tận dụng tối đa những thành tựu, những tác động tích cực của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm đem lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và xã hội; hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng này, bảo vệ người dân, doanh nghiệp và Nhà nước trước những hệ lụy có thể xảy ra. Hoạt động lập pháp cũng phải bảo đảm được vai trò của Nhà nước trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy đổi mới sáng tạo với những tư duy mới, phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(9).

6. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là vấn đề trước hết, “cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh”(10) mà Hồ Chí Minh đã xác định ngay từ những năm đi tìm đường giải phóng dân tộc, được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng minh chứng, và được dân tộc ủy thác, suy tôn, tin theo thành hiến định.

Xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực, lập trường, quan điểm vững vàng, sáng suốt,… là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà Đảng là lực lượng lãnh đạo. Chỉnh đốn Đảng nhằm khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã thu được những kết quả toàn diện, đồng bộ, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, góp phần quan trọng làm cho Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; trong sạch, vững mạnh hơn; củng cố, tăng cường hơn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế, tạo nền tảng và cơ sở vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Quốc hội khẳng định: “Đây là nội dung hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là phải gắn liền và dựa trên cơ sở đổi mới, chỉnh đốn Đảng”(11).

Những yêu cầu nêu trên đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội thể hiện rõ nhận thức căn bản, tầm nhìn chiến lược, nhân văn trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

__________________

(1), (2), (3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.332, 334-337, 337-338.

 (4), (5), (7), (8), (9), (11) Vương Đình Huệ: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Tạp chí Cộng sản, số 970 (7-2021), tr.17, 17, 17, 18, 18, 18.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, sđd, tr.174-175.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.267.

PGS, TS ĐOÀN THẾ HANH

Viện Văn hóa và Phát triển,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền