Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ trẻ
Thứ tư, 20 Tháng 5 2015 11:13
3198 Lượt xem

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ trẻ

(LLCT) - Với tầm nhìn chiến lược và tình thương yêu to lớn đối với thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đánh giá đúng đắn vai trò của thế hệ trẻ. Tư tưởng của Người về bồi dưỡng thế hệ trẻ, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vẫn luôn mang tính thời sự, mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc

Tư tưởng của Hồ Chí Minh nằm trong dòng chảy của tư duy nhân loại trên tinh thần kế thừa có chọn lọc, nên tư tưởng bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ mà ta gọi một cách hình ảnh là tư tưởng trồng ngườicủa Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa những minh triết trong quan điểm về con người, về giáo dục của dân tộc và nhân loại, đặc biệt là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhận ra rằng cách mạng muốn thành công, trước hết phải tập hợp lực lượng cách mạng, muốn thức tỉnh dân tộc đi theo con  đường cách mạng thì trước hết phải giác ngộ cách mạng cho thanh niên và từ thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh dân tộc. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp(1925), Người đã viết: “Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Người không chỉ kêu gọi, thức tỉnh thanh niên mà còn trực tiếp đến với họ, tổ chức, dẫn dắt họ vào con đường đấu tranh. Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào trong một tổ chức thống nhất,với trù tính “nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”(1) và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh niên để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay sau khiCách mạng Tháng Tám thành công,nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những lời thiết tha trongThư gửi các học sinh nhân ngày khai trường(9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Trong thư Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán1946, Người đã dành những lời đẹp nhất để ca ngợi tuổi trẻ và vai trò của lớp trẻ: “Một năm khởi đầu từ  mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3). Trong Thư gửi các bạn thanh niênnăm 1947, Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(4).

Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò, sức mạnh của thanh niên không phải là cái có sẵn, bất biến và tất yếu. Muốn huy động sức trẻ, Đảng, Nhà nước phải thực hiện thành công chiến lược trồng người. Chiến lược đó được Hồ Chí Minh đúc kết trong Đại hội giáo viên giỏi toàn quốc năm 1958:“Vì sự nghiệp mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” xét về khía cạnh nào đó cũng giống như trồng cây. Nếu trồng cây phải chăm lo, vun xới mầm cây nhỏ bé, yếu ớt để nó phát triển thành cái cây khỏe mạnh, có ích cho đời thì “trồng người” cũng phải bắt đầu bằng việc dạy dỗ, uốn nắn, giáo dục từ khi còn thơ ấu.

Người viết: “Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân”(5); “Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên; “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ”(6), nên Hồ Chí Minh coi chiến lược “trồng người”, coi việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là quốc sách phát triển đất nước. 

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là chân lý mà còn là con đường thực hiện chân lý. Tính hành động, tính thực tiễnlà một đặc điểm trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh nên chiến lược bồi dưỡng thế hệ trẻcũng được trù tính kỹ càng và cụ thể. Người viết: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi, cát, tre gỗ… mà xây nên”(7). Theo Người, để thực hiện tốt sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ cần xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp:

Về nội dung giáo dục: Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục toàn diện, bao gồm cả đức, trí, thể, mỹ,nhưng phải đặt đạo đức, lý tưởng, tình cảm cách mạng, lối sống XHCN lên hàng đầu. Người căn dặn: “Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải làm thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(8). Người tìm hiểu rất kỹ chương trình giáo dục đạo đức ở phổ thông và đưa ra nhận xét: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dụcrất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(9). Từ đó, Người chỉ đạo: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(10); phải bồi dưỡng để thanh niên giỏi văn hóa, giỏi chuyên môn, thấu suốt về chính trị;thanh niên cần phải được rèn luyện, bồi dưỡng về thể chất bởi vì “mỗimột người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ”(11).

Về phương pháp giáo dục: Hồ Chí Minh chỉ rõ, phương pháp, biện pháp bồi dưỡng thế hệ trẻtrước hếtphải xuất phát từ những đặc điểm của chính họ. Thế hệ trẻlà lớp người trẻ tuổi, đang khát khao lý tưởng, có nhiều ước mơ, hoài bão cao đẹp, trong sáng. Đó là lớp người ham hiểu biết, ham khám phá, nhạy bén với cái mới, giàu tính sáng tạo. Đó là lớp người đang ở thời kỳ sung sức nên ham hành động, muốn thử sức, dám đón nhận thử thách, khó khăn. Bên cạnh những đặc tính tích cực, thanh niên cũng có hạn chế là xốc nổi, dễ bị tác động và do thiếu kinh nghiệm nên dễ vấp ngã, dễ nản lòng. Từ  những đặc điểm đó, Hồ Chí Minh đề ra các phương hướng,biện phápgiáo dục thế hệ trẻ:

Thứ nhất, giáo dục thanh niên phải gắn với các phong trào cách mạng, rèn luyện thanh niên trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.Nguyên tắc này bắt nguồn từ mục tiêu giáo dục là đào tạo những chiến sĩ kế thừa sự nghiệp cách mạng chứ không phải “đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(12).

Thứ hai, xây dựng, nhân rộng trong thanh niên các gương điển hình người tốt - việc tốt. Người chỉ rõ: “Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt, việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông”(13). Ở đây, cần lưu ý một điều: Mẫu người mà Hồ Chí Minh muốn thanh niên hướng tới là mẫu “người tốt” chứ không phải mẫu người siêu phàm, siêu việt. Không phải ai cũng có thể trở thành thiên tài, đấng siêu phàm nhưng nếu cố gắng thì ai cũng có thể trở thành người tốt, người có ích. Quan điểm này vừa có tính thiết thực, vừa có tính nhân văn khi đặt niềm tin vào những con người bình thường nhất. Nhưng để trở thành người tốt, con người phải có thói quen làm những việc tốt. “Gieo thói quen - gặt tính cách, gieo tính cách - gặt số phận” nên nếu con người làm nhiều việc tốt thì sẽ thành người tốt, nếu nhiều người tốt sẽ thành xã hội tốt để cuối cùng “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Suy cho cùng, “đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục”(14). Phương pháp này thật dễ hiểu, dễ làm mà hiệu quả.

Thứ ba, “Phải khéo léo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ”(15) để họ bù đắp cho nhau những ưu khuyết mang tính đặc thù của tuổi tác. Rất nâng đỡ thanh niên nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập, cho nên tiến bộ rất nhanh... Không nên coi thường cán bộ trẻ”(16).

Thứ tư, “Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải làm gương mẫu cho các em trước  mọi việc”(17) vì một tấm gương tốt có giá trị hơn trăm bài văn diễn thuyết.

Thứ năm, việc đào tạo thế hệ trẻ là việc chung của toàn xã hội nhưng Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - Đoàn Thanh niên - xã hội(18).

Thứ sáu, bản thân thanh niên phải ra sức học tập, tu dưỡng mọi nơi, mọi lúc và suốt đời. Tự giáo dục là sự thể hiện trình độ làm chủ bản thân, khả năng kiềm chế và tự điều chỉnh của mỗi người trong cuộc sống. Người cũng từng dặn dò thanh niên: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”(19). Lời dặn dò của Người tuy giản dị mà ân cần, có sức lan tỏa và lay động lòng người.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(20). Trước hết, Người đặt trọn vẹn niềm tin vào đoàn viên thanh niên Việt Nam: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Người chỉ rõ, tuổi trẻ là mùa Xuân của đất nước, thanh niên là rường cột của nước nhà.

Nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ trong chiến lược xây dựng con người, trước hết là phải quan tâm và bồi dưỡng thế hệ trẻ. Xây dựng họ thành những con người hội tụ đủ cả hai yếu tố đức và tài, “hồng” và “chuyên”.

Người nhấn mạnh, thế hệ trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người quan tâm và đòi hỏi Đoàn Thanh niên phải làm tròn nhiệm vụ là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên để giúp Đảng giáo dục họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Người chỉ rõ:  muốn củng cố và phát triển thì Đoàn Thanh niên phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên, phải biết tổ chức các phong trào thi đua, tạo môi trường tốt nhất cho thanh niên cống hiến và hư­ởng thụ. Đoàn Thanh niên khi đề xuất một phong trào thi đua phải có định hướng đúng, có kế hoạch thực hiện cụ thể, có nội dung thi đua thiết thực, rõ ràng, có sự lãnh đạo, chỉ đạo theo dõi thư­ờng xuyên. Có làm như vậy phong trào của Đoàn mới thực sự phát triển, thực sự là cánh tay phải, đội hậu bị tin cậy của Đảng trong giáo dục và rèn luyện để hình thành nhân cách trong sáng cho thanh thiếu niên.

_______________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.13.

(2), (3), (11), Sđd, t.4, tr.33,167, 212.

(4), (6) Sđd, t.5, tr.185, 102.

(5), (7), (8), (12), (13), (14), (15), (16), (20)  Sđd, t.12, tr. 555, 551, 555, 554, 556, 551, 211, 211, 498.

(9), (10)Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.105, 444.

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.74.

(18), (19) Sđd, t.7, tr.456, 455.

 

PGS, TS NGUYỄN ĐẮC VINH

Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng,

Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền