Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng trong sạch, là đạo đức, là văn minh
Thứ tư, 20 Tháng 5 2015 11:19
2404 Lượt xem

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng trong sạch, là đạo đức, là văn minh

(LLCT) - Đảng ta luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về xây dựng Đảng là một trong những nội dung quan trọng nhất được Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt; sự quan tâm đó cũng là tâm huyết, hoài bão ước mơ mà Người đã dành trọn cả cuộc đời phấn đấu cho sự lớn mạnh của Đảng, cho độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Sự quan tâm của Người về Đảng xuất phát từ quan niệm nhất quán rằng, Đảng luôn là nhân tố đầu tiên quyết định sự thành bại của cách mạng. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi Người vĩnh biệt chúng ta, tư tưởng của Người về Đảng và xây dựng Đảng được đề cập một cách đầy đủ, toàn diện trên tất cả các nội dung, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ nêu lên một số nội dung cơ bản của Người về xây dựng Đảng.

Nội dung quan trọng được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và thường xuyên nhắc nhở là: Đảng phải luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của mình. Theo Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân của mình, trước hết đòi hỏi Đảng phải tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh xuất bản lần đầu vào năm 1927 - một trong những tác phẩm lý luận sớm nhất của Người, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết nói về Đảng”. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, Người viết: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công”(1). “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có chí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(2). Khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, Người luôn cảnh tỉnh đội ngũ đảng viên về nguy cơ thoái hóa bản chất giai cấp công nhân của Đảng, sa vào tệ quan liêu, xa rời quần chúng, vi phạm quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, và Người đã chỉ rõ 12 điều về tư cách của một Đảng cách mạng chân chính. Trong 12 điều đó thì điều đầu tiên là “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(3). Đảng cách mệnh ở Việt Nam, đó là Đảng “ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(4). Cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi thì phải có Đảng cách mạng lãnh đạo. Song để lãnh đạo cách mạng Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt; chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt. Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tư cách của người đảng viên trước hết được thể hiện ở sự giác ngộ lý tưởng, trình độ, năng lực. Lòng trung thành với Đảng; vai trò tiên phong của người cộng sản; nhiệt tình cách mạng; tính tổ chức kỷ luật cao; tinh thần tự giác, chủ động, hy sinh, bền bỉ. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, tư cách người đảng viên cộng sản được Hồ Chí Minh nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam:

Một là, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần gương mẫu, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau. “Đảng viên bất kỳ làm việc gì cũng phải gương mẫu”(5). Phải tự mình nêu gương. Nếu lời nói và việc làm của người đảng viên không đi đôi với nhau sẽ ảnh hưởng lớn đến quần chúng. Người chỉ rõ: Đảng viên “muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(6).

Hai là, đảng viên phải là người “khiêm tốn và rộng lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có”(7). “Càng có công lao, càng phải khiêm tốn. Chớ vì có ít nhiều công lao mà sinh bệnh công thần, kèn cựa, địa vị”(8).

Ba là, phải biết tự cải tạo mình, tức là “phải cải cách tính nết mình trước tiên”(9). Người đảng viên hàng ngày “phải tự kiểm điểm mình. Phải lấy những “nhiệm vụ đảng viên mà kiểm điểm”(10).

Bốn là, đảng viên phải là người quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho chủ nghĩa cộng sản.

Năm là,đảng viên là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Chính xuất phát từ luận điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đảng viên phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, phải quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Sáu là, đảng viên phải đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở trong Đảng. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch của cách mạng. Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng và nhân dân.

Bảy là, phải luôn tẩy bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Cùng với việc nêu lên những nội dung về tư cách người đảng viên, Người rất quan tâm đến việc giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nói chung, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng và Người thực sự là tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh - là tác phẩm vô cùng quan trọng vạch đường hướng cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặt lên trang đầu “Tư cách một người cách mệnh” với 23 điều cần thiết trong xử thế với bản thân, với người khác và với công việc. Người đặt ra yêu cầu phải cần, kiệm, vị công vong tư, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là những cốt yếu trong tự tu dưỡng về tư cách, đạo đức của người cách mạng.

Khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với một chính quyền non trẻ vừa ra đời đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc và nhiều khó khăn, thách thức như: chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, với tư cách là người đứng đầu Đảng, Chính phủ, Hồ Chí Minh đã nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ của Đảng - nhân tố quan trọng quyết định thành bại của cách mạng. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và phải tiến hành ngay đó là phải giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, sửa đổi tác phong, phong cách, phương pháp, cách thức làm việc của cán bộ nhằm nâng cao chất lượng công tác góp phần cùng Đảng, Chính phủ khắc phục những khó khăn, xây dựng đất nước. Tuy bận trăm công nghìn việc của Đảng, Chính phủ song Người đã dành thời gian viết tác phẩm nổi tiếng Sửa đổi lối làm việc vào tháng 10-1947 làm tài liệu để giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên. Cùng với việc nghiêm khắc phê phán những biểu hiện tha hóa về đạo đức, lối sống, Người đặt ra những yêu cầu và nội dung về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên. Cũng trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã đề cập 12 điều cần thiết đảm bảo tư cách của một Đảng chân chính cách mạng. Người chỉ rõ, muốn xây dựng đường lối, nhiệm vụ chính trị của một Đảng đúng đắn, khoa học thì: Đảng phải ý thức sâu sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Đó là mục tiêu cao cả của Đảng. Xây dựng đường lối, nhiệm vụ luôn phải dựa vào điều kiện cụ thể và kinh nghiệm cách mạng, ở trong nước và ở các địa phương và bạn bè quốc tế. Phải dựa vào quần chúng, kết hợp chặt chẽ với dân chúng, hiểu biết ý kiến của dân chúng. Đảng phải giữ vững tính cách mạng, tính nguyên tắc nhưng phải khéo léo linh hoạt về phương pháp. Đảng không được che giấu khuyết điểm, không sợ phê bình, lựa chọn cán bộ tốt, giữ nghiêm kỷ luật, thống nhất hành động. Kiểm tra việc thi hành chỉ thị, nghị quyết trong thực tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng”(11). Từ thực tiễn cách mạng, Người đã rút ra kết luận quan trọng: Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(12). Nói cán bộ là gốc của mọi công việc tức là mọi việc đều phải bắt đầu từ đó và dựa vào đó. Bởi vì gốc có vững thì cây mới tốt, song để giữ vai trò là gốc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản thân người cán bộ phải có sự nỗ lực rèn luyện để đạt được các tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn đầu tiên không thể thiếu của người cán bộ là đạo đức cách mạng: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(13). Đạo đức cách mạng của người cán bộ là luôn biết đặt lợi ích của Đảng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích cá nhân với lợi ích giai cấp, dân tộc, liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Phải thực thà ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm, khiêm tốn, cầu thị, không kiêu ngạo, chủ quan, chí công vô tư, chăm lo đời sống của nhân dân. Có ý thức tổ chức kỷ luật cao, không độc đoán cá nhân, không tự cho phép mình đứng trên tổ chức, đứng ngoài kỷ luật, lời nói đi đôi với việc làm, làm nhiều hơn nói. Có ý thức tự phê bình và phê bình cao. Phê bình phải đi liền với tự phê bình. Có lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa lãng phí, hủ hóa, tham nhũng, không có tư tưởng đặc quyền, đặc lợi.

Tiêu chuẩn thứ hai người cán bộ phải có năng lực tương ứng với nhiệm vụ được giao. Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức tốt nhưng đồng thời phải có tài năng. Có đức nhưng lại phải có tài. Có tài mà thiếu đức thường gây ra những tác hại không nhỏ. Ngược lại chỉ có đức mà không có tài thì chẳng khác nào ông Bụt ngồi ở trong chùa. Nội dung đức, tài ở mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau được Hồ Chí Minh và Đảng cụ thể hóa, bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn. Trong bài Người cán bộ viết ngày 3-3-1955, Hồ Chí Minh chỉ rõ, đạo đức cách mạng có thể tóm tắt là: Nhận rõ phải trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Người cán bộ phải “lo thì phải lo trước thiên hạ, hưởng thì hưởng sau thiên hạ”. Vì Đảng, vì dân đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc, không ngừng học tập để nâng cao trình độ mọi mặt, quan hệ mật thiết với quần chúng, có tinh thần tập thể, đoàn kết, thương yêu đồng bào, đồng chí, tính tổ chức kỷ luật, cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng. Về năng lực của cán bộ, theo Hồ Chí Minh: Năng lực bao gồm năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn. Muốn có năng lực đó người cán bộ phải chịu khó học tập, rèn luyện, trước hết là học lý luận Mác - Lênin để nâng cao trình độ nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của xã hội. Học lý luận Mác - Lênin là để trung thành với nó, bảo vệ nó và không ngừng nâng cao hoàn thiện nó. Đó là trách nhiệm của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ: Học lý luận chưa đủ mà yêu cầu người cán bộ phải nghiên cứu và quán triệt thật sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; phải có trình độ chuyên môn thật giỏi, phải vươn tới những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật. Bởi vì ngày nay, người cán bộ “không thể lãnh đạo chung chung được nữa rồi” và “chỉ có nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, còn phải có tri thức nữa”.

Tiêu chuẩn thứ ba là,người cán bộ phải có phong cách khoa học. Theo Hồ Chí Minh, muốn có phong cách khoa học, người cán bộ phải chống bệnh quan liêu chủ quan, tác phong quan liêu đại khái, chống bệnh ham chuộng hình thức, chỉ nhằm hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai, chống cách làm việc theo lối bàn giấy, ngồi một nơi chỉ tay năm ngón, không chịu xuống địa phương và cơ sở.

Trên cơ sở những tiêu chuẩn trên, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao đối với chủ thể công tác cán bộ, bố trí, sử dụng cán bộ đó là: Phải hiểu rõ và đánh giá đúng cán bộ, phải khéo dùng cán bộ, phải có gan cất nhắc cán bộ.

Để thực hiện tốt những vấn đề trên của công tác cán bộ, Người thường nhắc nhở: Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, toàn diện cả công tác, cách sinh hoạt, cách viết, cách nói, việc làm, xem xét mối quan hệ với mọi người như thế nào. Xem xét cán bộ phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển không chỉ một việc, một lúc mà phải tiến hành thường xuyên, xem xét cả quá trình từ trước tới nay. Sau đề bạt, cất nhắc cán bộ cần phải tiếp tục bồi dưỡng giúp đỡ họ để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”(14).

Người cho rằng: “Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải là dễ. Đã không tự biết mình thì khó mà biết người... Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người ta thường phạm những chứng bệnh sau này: 1. Tự cao tự đại, 2. Ưa người ta nịnh mình, 3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người, 4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông... Phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”(15).

Khi sử dụng cán bộ, Hồ Chí Minh lưu ý “Phải khéo dùng cán bộ”: “Người đời ai cũng có chỗ hay, chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”. Khi dùng cán bộ phải “có lòng độ lượng, không thành kiến với cán bộ. Gần gũi mọi người, kể cả những người không ưa. Chân thành giúp đỡ đồng chí mình tiến bộ. Cất nhắc cán bộ phải vì công tác, vì tài năng, chứ không thể vì lòng yêu ghét, vì thân thích nể nang. Trong sử dụng cán bộ cần khắc phục một số biểu hiện tiêu cực; “1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót, mà chán ghét những người chính trực. 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình. Vì những chứng bệnh đó, kết quả những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế, cố nhiên là hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”(16). “Nếu như vậy thì không ai phục, mà lại gây nên mối lôi thôi trong Đảng” và như thế là “có tội với Đảng, có tội với đồng bào”.

Để cán bộ thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, Đảng phải thường xuyên giúp đỡ cán bộ và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Đây là công việc mà Đảng phải tốn nhiều công sức, phải tiến hành công phu, chu đáo “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”(17). Để việc huấn luyện cán bộ đạt kết quả, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác định rõ: Huấn luyện ai, ai huấn luyện, huấn luyện gì, huấn luyện thế nào, tài liệu huấn luyện phải ra sao. Qua chỉ dẫn của Người, chúng ta nhận thức được rằng: Vấn đề quan trọng bao trùm là xác định cho được mục đích của huấn luyện là huấn luyện để làm gì phải được nhận thức đầy đủ ở cả chủ thể huấn luyện và đối tượng huấn luyện. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải đào tạo một mớ cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách như thế là một việc thất bại của Đảng”(18). Đào tạo “thế là phí công, phí của vô ích”. Hồ Chí Minh cũng không quên căn dặn cán bộ đi học là để “làm việc, làm người, làm cán bộ”. Lời căn dặn của Bác thật ân cần song lại vô cùng sâu sắc, nhắc nhở cán bộ được tổ chức cử đi học phải có nhận thức và thái độ học tập đúng đắn, trước hết, học để làm việc, làm người và thứ ba mới đến làm cán bộ chứ không phải đi học là để về làm cán bộ, làm quan phát tài như một số cán bộ đã suy nghĩ.

Trong bố trí, sử dụng cán bộ cần quan tâm thực hiện tốt việc kết hợp các thế hệ cán bộ có các độ tuổi khác nhau, cán bộ làm việc nhiều năm, cán bộ mới vào nghề, cán bộ nam, nữ, cán bộ các dân tộc, trình độ, kinh nghiệm... đảm bảo cho đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đảm bảo tính kế thừa, phát triển. Đây là nhân tố, là một nhiệm vụ quan trọng quyết định thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc”, là quan điểm đúng đắn, khoa học, giúp cho Đảng ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cán bộ, công tác cán bộ và có những quan điểm, chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ, khuyến khích động viên cán bộ, chính sách thu hút nhân tài...

Thực hiện lời dạy của Người, bằng nhiều biện pháp, chính sách thiết thực đối với cán bộ và công tác cán bộ, Đảng đã có một đội ngũ cán bộ không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng và trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ cán bộ tốt, còn một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, nói không đi đôi với làm, nói một đằng, làm một nẻo... Những hiện tượng đó đã gây tổn thất rất lớn tiền của của Nhà nước, làm tổn hại đến thanh danh, uy tín và sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong bốn nguy cơ, thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ kinh nghiệm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng cộng sản trên thế giới, Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc rèn luyện đạo đức của cán bộ đảng viên, đặc biệt trước những bước ngoặt lịch sử và thay đổi nhiệm vụ cách mạng như sau Cách mạng Tháng Tám 1945, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954,... Hồ Chí Minh đã thấy trước những khó khăn thách thức, Người đã căn dặn, ngay sau khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, việc làm trước tiên là phải chỉnh đốn lại Đảng, trong đó chỉnh đốn đạo đức là một nội dung quan trọng. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng luôn đề ra nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội VII của Đảng khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Hội nghị Trung ương 3 khóa X (8-2006) đã ra Nghị quyết riêng về phòng, chống tham nhũng lãng phí; Chính phủ ra Nghị định về thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí... đặc biệt toàn Đảng, toàn dân thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động nhân Kỷ niệm 77 năm ngày thành lập Đảng (3-2-2007) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tiếp đó là thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đây là cuộc vận động lớn được phát động trong toàn Đảng, toàn xã hội, tập trung tuyên truyền những nội dung đạo đức Hồ Chí Minh nói chung, xây dựng Đảng nói riêng để chúng ta có những việc làm tốt, hành động tốt, phương pháp, phong cách làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn, góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị và đất nước.

Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là để mỗi người chúng ta tự soi lại mình một cách nghiêm túc cả trong suy nghĩ, trong việc làm, trong quan hệ với người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đồng chí, với cấp trên, với cấp dưới, với nhân dân, từ đó có quyết tâm tự học tập, tự rèn luyện khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của mình. Trong cách đối nhân xử thế, đối với mọi người đều phải tôn trọng, quý mến, tin tưởng họ, không nên có tư tưởng hẹp hòi, ích kỷ, đố kỵ với những người giỏi hơn mình, tiến bộ hơn mình. Đặc biệt đối với người lãnh đạo, người đứng đầu đơn vị, người làm công tác tổ chức cán bộ càng phải coi trọng vấn đề này. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là rộng lớn, bao la, không chỉ trong xây dựng Đảng mà trên tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh thần, xã hội, trong các mối quan hệ, vì vậy không thể một lúc, một thời gian ngắn mà chúng ta có thể học được tất cả tư tưởng đạo đức của Người. Học tập tư tưởng đạo đức của Người phải học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, trong mọi việc làm của mình.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.289, 289.

(3), (10), (11), (12), (14), (15), (16), (17), (18) Sđd, t.5, tr.289, 117, 307, 309, 322, 317, 318-319, 313, 320.

(4), (13)  Sđd, t.11, tr.604, 601.

(5), (8) Sđd, t.13, tr.273, 67.

(6), (9) Sđd, t.6, tr.16, 16.

(7) Sđd, t.10, tr.588.

 

PGS, TS TRƯƠNG THỊ THÔNG

Phó Giám đốc

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền