Trang chủ    Nhân vật - Sự kiện    Hồ Chí Minh với quá trình đàm phán Hội nghị Phôngtennơblô
Thứ tư, 19 Tháng 10 2016 11:09
3164 Lượt xem

Hồ Chí Minh với quá trình đàm phán Hội nghị Phôngtennơblô

(LLCT) - Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Pháp là chủ trương sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh để tránh một lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù và tranh thủ thêm thời gian hòa bình, xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ. Tuy nhiên, phía Pháp luôn trì hoãn thi hành những điều khoản đã ký và thường xuyên vi phạm Hiệp định.

(Quang cảnh Hội nghị Phôngtennơblô)
Ngày 24-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trên tuần dương hạm Emile Bertin ở vịnh Hạ Long bàn về tiến trình thi hành Hiệp định. Hai bên đã thống nhất ba điểm: Tháng 4-1946, phái đoàn Quốc hội Việt Nam sẽ sang thăm hữu nghị Quốc hội Pháp. Cùng thời gian đó, sẽ có một cuộc họp trù bị giữa hai đoàn đại biểu Pháp và Việt Nam. Sau phiên họp trù bị, nửa cuối tháng 5-1946, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ sang Pháp để tiến hành thương thảo tại Pari. Cũng nhân dịp này, Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp. Cao ủy D’Argenlieu muốn tổ chức các cuộc đàm phán ở Đông Dương để dễ bề kiểm soát và khống chế, còn Chính phủ ta yêu cầu hội nghị chính thức diễn ra ở Pari để tranh thủ sự hậu thuẫn của dư luận Pháp, nhất là lúc đó đảng Cộng sản Pháp khá mạnh, nhưng vẫn đồng ý địa điểm họp trù bị ở Đà Lạt để vừa tìm hiểu lập trường của Pháp, vừa kiềm chế Pháp, hỗ trợ cho đồng bào Nam Bộ. Hội nghị trù bị bắt đầu từ ngày 19-4-1946. Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam là Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ ngoại giao và Phó trưởng đoàn là đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng các nhân sĩ trí thức có ảnh hưởng như Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Xuân Hãn. Phía Pháp liên tục kiếm cớ gây khó dễ cho Đoàn Việt Nam, như việc thông báo D’Argenlieu là Trưởng đoàn nhưng sau lại thay đổi, không cho đại biểu Phạm Ngọc Thạch từ Sài Gòn lên nhập đoàn, ngăn đoàn ta dùng máy vô tuyến điện… Trong quá trình họp, phía Pháp tuyên bố không công nhận Việt Nam có quyền ngoại giao, không có quyền ký các hiệp ước quốc tế và đặc biệt muốn tách Tây Nguyên thành khu tự trị, không bàn đến vấn đề Nam Bộ. Vì những bất đồng căn bản giữa hai bên nên hội nghị kết thúc ngày 11-5-1946 mà không có kết quả.

Mặc dù hội nghị trù bị Đà Lạt đổ vỡ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn theo kế hoạch đã định, tiếp tục cử đoàn đại biểu sang Pháp đàm phán cùng với chuyến thăm chính thức nước Pháp của Người từ 31-5-1946. Khi phái đoàn Việt Nam sắp lên đường thì Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam bỏ trốn, mang theo toàn bộ kinh phí chuẩn bị cho đoàn đi Pháp, vì vậy đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Trưởng đoàn. Với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tham dự hội nghị nhưng Người luôn quan tâm theo sát quá trình đàm phán và giữ vai trò tác động quan trọng trong thương thảo và tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam. Sau khi đến Paris, ngày 25-6, Người gặp phái đoàn Việt Nam, tiếp Trưởng đoàn đàm phán Pháp và các nghị sĩ Đảng Cộng hòa bình dân của Thủ tướng Pháp đương nhiệm.

Ngày 26-6, Người đến thăm phái đoàn Việt Nam tại khách sạn và tổ chức chiêu đãi các đại biểu trong phái đoàn ta cùng một số thành viên Đảng Xã hội Pháp.

 Hội nghị đàm phán Pháp - Việt được tổ chức ở lâu đài Phôngtennơblô, cách Pari khoảng 60km. Phái đoàn Việt Nam gồm Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và các thành viên: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, Huỳnh Thiện Lộc, Phạm Khắc Hòe. Các chuyên viên gồm: Nguyễn Đệ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khanh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh, Nguyễn Đắc Khê. Trưởng phái đoàn Pháp là Max André (nguyên Giám đốc Nhà băng Đông Dương) cùng các thành viên: Pignon (cố vấn Cao ủy D’Argenlieu), Gonon, Torel (viên chức bộ máy thuộc địa), Mesmer (nguyên là công sứ), Bourgoin (quan chức kinh tế Đông Dương), Darcy, đô đốc Barjot, tướng Salan, các nghị viên Loseray và Juglas.

Sáng ngày 6-7-1946, lễ khai mạc hội nghị được tổ chức tại lâu đài Phôngtennơblô theo nghi lễ ngoại giao. Trong bài phát biểu mở đầu, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Chúng tôi lấy làm đau đớn mà phải nói rằng người Pháp ở Việt Nam không thi hành đúng theo những khoản trong Hiệp định. Họ đã không đình chiến lại tìm cách lấn thêm… Nhưng trước hết chúng tôi hết sức phản đối sự chia rẽ Tổ quốc của chúng tôi, hết sức phẫn nộ người Pháp ở Sài Gòn lập ra một nước mới và một chính phủ Nam bộ… Chúng tôi muốn cộng tác vì chúng tôi yêu mến Tổ quốc của chúng tôi, chúng tôi muốn cộng tác với nước Pháp trong một đại gia đình gồm những nước dân chủ tự do”

Trong quá trình đàm phán, Phái đoàn Việt Nam theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam, thể hiện lập trường Việt Nam hợp tác tự do và bình đẳng về mọi mặt với Liên hiệp Pháp, và mối liên hệ giữa Việt Nam và Liên bang Đông Dương chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và tài chính vì Liên bang Đông Dương không phải là một quốc gia. Tuy nhiên, phái đoàn Pháp chỉ xét Việt Nam là quốc gia tự trị hay độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp còn Liên bang Đông Dương là một liên hiệp các quốc gia tự trị tại Đông Dương trong Liên hiệp Pháp. Về ngoại giao, Pháp muốn Việt Nam chỉ quan hệ với Pháp, trong khi Việt Nam muốn thiết lập Bộ Ngoại giao riêng. Về vấn đề thống nhất Việt Nam, phía Pháp yêu cầu trước hết phải tái lập trật tự rồi sau đó mới mở cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về vấn đề sát nhập Nam Kỳ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thống nhất với Trung và Bắc Kỳ). Điểm gây nhiều tranh luận nhất là Chính phủ Pháp đã đơn phương tán thành việc thành lập Nam Kỳ quốc, tách rời miền Nam khỏi phong trào độc lập ở hai miền Bắc và Trung.

Ngày 12-7, sau khi hai đoàn thống nhất chương trình nghị sự và bắt đầu làm việc ở các tiểu ban: chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa và quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức họp báo khẳng định các nguyên tắc: Việt Nam độc lập, Nam Bộ là một bộ phận của Việt Nam, nước Việt Nam có quyền cử lãnh sự đi các nước, tham gia Liên hiệp Pháp, cộng tác kinh tế, văn hóa với Pháp, bảo hộ tài sản Pháp ở Việt Nam và ưu tiên dùng cố vấn Pháp… Đây là một động thái ngoại giao ngoài hội nghị để tranh thủ dư luận Pháp, tiếp thêm động lực tinh thần cho Phái đoàn Việt Nam trong Hội nghị.

Ngày 26-7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Phôngtennơblô và ăn trưa cùng hai phái đoàn Việt Nam và Pháp. Ngày 31-7, Người đến thăm trưởng đoàn Pháp Max André tại nhà riêng.

Ngày 1-8-1946, bất chấp sự can ngăn của Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp Moutel, D'Argenlieu vẫn triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương gồm đại diện Nam Kỳ, Tây Nguyên, Lào, Campuchia và Nam Trung Kỳ họp tại Đà Lạt. Trước hành động ngang ngược, khiêu khích đó, ngay hôm sau, ngày 2-8-1946, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Phạm Văn Đồng đã tuyên bố tạm ngừng Hội nghị cho đến khi phía Pháp giải thích về sự kiện ở Đà Lạt.

Ngày 8-8, Trưởng phái đoàn Pháp Max André gửi thông báo rằng Hội nghị Liên bang tại Đà Lạt chỉ để nắm bắt dư luận của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương về vấn đề Liên bang Đông Dương. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực dàn xếp, và đến ngày 19-8, Hội nghị được nối lại theo hình thức trao đổi văn kiện và họp nhóm trong phạm vi hẹp. Ngày 7-9, Đoàn Việt Nam yêu cầu phía Pháp tạm ngừng thảo luận về những vấn đề khác để tập trung bàn các vấn đề kinh tế, tài chính và thuế quan nhằm ký kết một tạm ước giữa hai bên về các vấn đề được nhất trí thông qua. Kết thúc phiên họp chiều cùng ngày, Trưởng phái đoàn Pháp Max André đến thăm và thảo luận với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến ngày 9-9, phía Pháp đưa ra dự thảo Hiệp định tạm thời với những điểm chưa được hai bên nhất trí và không đề cập vấn đề Nam Bộ.  Đoàn Việt Nam không chấp nhận dự thảo này. Chiều ngày 10-9, hai phái đoàn gặp nhau để ký Tạm ước Việt - Pháp. Trưởng phái đoàn Việt Nam yêu cầu Pháp ấn định chắc chắn thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ trước khi ký Tạm ước, tuy nhiên phía Pháp không đưa ra câu trả lời cụ thể, phái đoàn Việt Nam rời phòng họp.

Như vậy, Hội nghị Phôngtennơblô chính thức tan vỡ. Ba ngày sau, phái đoàn Việt Nam lên đường về nước. Để cứu vãn hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động gặp Thủ tướng Pháp Bidault và trực tiếp đàm phán với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet, trong ngày 14-9, hai bên cùng nỗ lực hoàn thiện văn bản chính thức cuối cùng.  

Trước đó, trong quá trình thăm và làm việc tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần cùng Moutet tham dự các sự kiện chính trị, ngoại giao, văn hóa - xã hội và 8 lần đến nhà riêng của Moutet để thảo luận. Đại diện Chính phủ Pháp Sainteny kể lại: “Hồ Chí Minh không về cùng với đoàn Việt Nam. Ông tỏ rõ thái độ muốn đi tới cùng. Cũng như Marius Moutet, ông muốn tránh sự đổ vỡ và đã cùng ký với Moutet bản Tạm ước nhằm cứu vãn tình hình. Tuy vậy, ông vẫn lo ngại điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Ông thấy trước khả năng có thể bùng nổ xung đột vũ trang và đã nói với tôi bằng thái độ kiên quyết: Nếu cần phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Một người các ông có thể giết chết mười người chúng tôi. Mười người chúng tôi sẽ giết một người của ông. Nhưng cuối cùng, chính các ông sẽ là người nản lòng bỏ cuộc”.

1h sáng ngày 15-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet đã ký một văn bản gồm 11 điều khoản mà về sau gọi là Tạm ước 14-9 với cam kết hai bên sẽ tiếp tục đàm phán, cùng ấn định thể thức trưng cầu dân ý và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ ở Nam Bộ.

Do phái thực dân ở Pháp vẫn điều hành chính sách thuộc địa nên mấy tháng sau, việc phá bỏ Tạm ước, gây nên cuộc chiến trên toàn Đông Dương là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc ký Tạm ước 14-9 vào thời điểm đó vẫn là một giải pháp chính trị linh hoạt, tài tình nhằm cứu vãn Hội nghị Phôngtennơblô và kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho Việt Nam, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

 

Đỗ Hoàng Linh

Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các bài viết khác