Trang chủ    Nhân vật - Sự kiện    Đóng góp của đồng chí Võ Chí Công trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng
Thứ ba, 27 Tháng 9 2022 14:01
253 Lượt xem

Đóng góp của đồng chí Võ Chí Công trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng

(LLCT) - Đồng chí Võ Chí Công là người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, nhà hoạt động cách mạng thực tiễn, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn thể hiện sự nhạy bén, quyết đoán của người đứng đầu, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết nêu bật những đóng góp của đồng chí trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng, từ đó tiếp tục khẳng định những đóng góp to lớn của đồng chí cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc

 

Đồng chí Võ Chí Công trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước với nhân dân huyện Phước Sơn trong chuyến thăm, làm việc tại tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, ngày 30-10-1989 - Ảnh tư liệu TTXVN

Đồng chí Võ Chí Công là người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, nhà hoạt động cách mạng thực tiễn, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn thể hiện sự nhạy bén, quyết đoán của người đứng đầu, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong 80 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng, dù ở cương vị nào, đồng chí đều dành trọn trí lực, tâm huyết và có nhiều đóng góp nổi bật trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng.

1. Góp phần xây dựng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II xác định đường lối cách mạng Việt Nam

Sau Hiệp định Giơnevơ, tại miền Nam địch ra sức đánh phá phong trào cách mạng rất khốc liệt, trên cương vị là Ủy viên Ban Thường vụ rồi Phó Bí thư Liên khu ủy V, đồng chí Võ Chí Công có nhiều trăn trở về vấn đề nhân lực và vũ khí nên đầu năm 1955, đồng chí ra Trung ương Đảng báo cáo tình hình, xin chủ trương và xin vũ khí, xin cán bộ quân sự, đặc công và một số phương tiện cần thiết nhưng gặp khó khăn bởi Hiệp định Giơnevơ được thực hiện chưa đầy một năm. Đồng chí nhận định: “Người ở lại chiến trường thì thấy thực tế, địch khủng bố ác liệt, không khí ngạt thở cho nên không tin tưởng sẽ có tổng tuyển cử, hòa bình”(1).

Sau khi nghiên cứu kỹ và đánh giá tình hình, cuối năm 1957, đồng chí Võ Chí Công bàn với đồng chí Trần Lương - Bí thư Liên khu ủy về con đường đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang và đề nghị đồng chí Trần Lương cử ra Hà Nội để báo cáo Trung ương Đảng. Đồng chí Võ Chí Công được gặp đồng chí Lê Duẩn hai lần và nhận thấy đồng chí Lê Duẩn đồng tình với quan điểm của mình; được xem bản Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo năm 1956.

Sau đó, đồng chí Võ Chí Công có cơ hội trình bày rõ hơn quan điểm của mình khi được gặp và báo cáo trực tiếp với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị về tình hình trước và sau tập kết ở các tỉnh và ở ba vùng của Liên khu V. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về khả năng và triển vọng tình hình sắp tới, đồng chí Võ Chí Công trình bày: “Nếu Bác cho đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang thì phong trào cách mạng của nhân dân Khu V cũng như miền Nam nhất định bùng lên, đánh địch sẽ mạnh hơn kháng chiến chống Pháp. Nếu không có đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị thì tình hình ở đồng bằng gặp nhiều khó khăn hơn”(2); “Cháu muốn thời kỳ đầu ta phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị, khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang thì có thể đánh bại địch. Cần kết hợp đấu tranh vũ trang và nâng cao mức độ đấu tranh vũ trang lên cùng với đấu tranh chính trị. Xin Bác cho bắt đầu kết hợp vũ trang tuyên truyền diệt ác ôn, hỗ trợ đấu tranh chính trị, bảo vệ phong trào quần chúng, bảo vệ Đảng, tiếp theo phát động quần chúng nổi dậy có vũ trang để hỗ trợ phá kìm kẹp, giành chính quyền làm chủ; xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang tiến lên từng bước ngày càng mạnh, kết hợp song song với đấu tranh chính trị”.

Những ý kiến của đồng chí Võ Chí Công là một trong những căn cứ quan trọng để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đưa ra kết luận: “Ta sẽ tiến hành kháng chiến chống Mỹ - Ngụy, giải phóng cả nước. Địch dùng bạo lực khủng bố cách mạng, ta muốn đánh thắng địch, giành chính quyền về tay nhân dân thì cũng phải dùng bạo lực, bạo lực là lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang”(3).

Trên cơ sở xem xét thực tế tình hình và lắng nghe những kiến nghị khẩn thiết của các tổ chức đảng và của cán bộ, đồng bào, chiến sĩ miền Nam, trong đó có các đồng chí lãnh đạo Liên khu V, đặc biệt là ý kiến của đồng chí Võ Chí Công, tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị (mở rộng) lần thứ 15 đã thông qua Nghị quyết 15 về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà.   Trên tất cả các cương vị công tác, đồng chí Võ Chí Công luôn thể hiện rõ tài năng lãnh đạo xuất sắc của mình và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nghiên cứu sâu sắc lý luận, có thực tiễn cách mạng sôi nổi và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 được ban hành, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, là nghị quyết có giá trị lịch sử sâu sắc, tạo nên sự chuyển biến căn bản của phong trào cách mạng miền Nam, đưa cách mạng miền Nam tiến lên, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng cách mạng, giáng đòn bất ngờ vào chiến lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Nghị quyết 15 là sản phẩm trí tuệ của tập thể Ban Chấp hành Trung ương, là trăn trở, suy tư của những chiến sĩ cộng sản kiên trung ngày đêm sống và chiến đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Những đề xuất, báo cáo của đồng chí Võ Chí Công với Trung ương Đảng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trên địa bàn Liên khu V và chứng kiến sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù. Những ý kiến, đề xuất của đồng chí đã góp phần cùng Trung ương Đảng xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường dùng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng của kẻ thù.

2. Đóng góp trong xây dựng Chỉ thị số 100-CT/TW về“Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp

Đồng chí Võ Chí Công là một trong những cán bộ lãnh đạo đóng góp quan trọng trong xây dựng và ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư ngày 13-1-1981 về Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp- Văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Đảng, với cách mạng và nhân dân ta trong những năm cả nước khó khăn trong công cuộc xây dựng CNXH; chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn quan trọng trên con đường tìm tòi đổi mới.

Chỉ thị 100 ra đời trong bối cảnh thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi cấp thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và ở Trung ương có nhiều ý kiến tranh luận, quyết liệt về vấn đề này. Trong những năm 1979-1982, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng phụ trách khối nông, lâm, hải sản, đồng chí Võ Chí Công đã sớm nhận thức đúng đắn những vấn thực tiễn đặt ra, nhận trách nhiệm xây dựng dự thảo, sau đó tổ chức thực hiện “thí điểm” để kiểm nghiệm tính đúng đắn trước khi ban hành.

Sau năm 1975, đất nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: các thế lực thù địch tiến hành bao vây, cấm vận; chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới; khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng sâu sắc; tích lũy trong nước giảm sút; nguồn vay và viện trợ từ bên ngoài càng ngày ít đi. Vấn đề cần đặc biệt quan tâm giải quyết là tạo động lực cho người lao động, khắc phục tình trạng nhiều nguồn lực xã hội bị bỏ phí, diện tích đất bị hoang hóa nhiều; xã viên chỉ chăm lo trên ruộng đất 5% mà bỏ bê phần ruộng của hợp tác xã. Đời sống của cán bộ và nhân dân ngày càng thiếu thốn, khó khăn trong thời gian dài là một trong những nguyên nhân dẫn tới những biểu hiện suy thoái về đạo đức như: lãng phí, tiêu cực, lợi dụng chênh lệch giá để tư lợi cá nhân; lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để sách nhiễu nhân dân…

Trước những vấn đề trên, lãnh đạo một số địa phương, đơn vị cơ sở mạnh dạn thí điểm thực hiện “khoán chui” trong nông nghiệp khác với chủ trương chung của Trung ương. Đa số các địa phương, đơn vị tiến hành thử nghiệm đều thu được một số kết quả tích cực đối với sản xuất, lưu thông, phân phối và nâng cao đời sống nhân dân. Trung ương đã cử một số đồng chí xuống trực tiếp các địa phương, cơ sở sản xuất để nghiên cứu, tìm giải pháp phù hợp.

Đồng chí Võ Chí Công đã dành nhiều công sức nghiên cứu thực trạng nông nghiệp trên cả nước, phát hiện ra những vấn đề cốt lõi cần giải quyết: “Có lẽ đánh giặc, cứu nước là động lực nên có tinh thần tích cực, còn trong lao động sản xuất phải chăng ta chưa tạo được động lực”(4) mà “nguyên nhân khách quan có nhiều, khó khăn khách quan là rất lớn, nhưng mọi người cũng cảm nhận thấy rằng chính sách kinh tế của Đảng ta có gì đó sai lầm, không phù hợp, không được lòng dân, vừa cản trở sản xuất, vừa gây khó khăn cho đời sống”(5). Để giải quyết được vấn đề này, cần tìm giải pháp để tạo được động lực cho người sản xuất.

Được giao trọng trách là người đứng đầu khối nông, lâm, hải sản, đồng chí Võ Chí Công ý thức rất rõ mình cần chịu trách nhiệm trực tiếp cao nhất trong việc giải quyết vấn đề này nên đã chủ động, sâu sát cơ sở, dám nghĩ dám làm: “… Không xuống tỉnh, không xuống huyện mà tôi đi thẳng xuống một số hợp tác xã. Phần lớn thời gian tôi gặp các đội trưởng, đội phó, đi vào một số gia đình xã viên hỏi thật kỹ, cụ thể cách làm của hợp tác xã và ruộng đất 5%, v.v., đi với đồng bào ra ruộng, xem cách làm, gợi ý cho họ phát biểu… đến một số nhà hỏi xem cách làm của họ”(6)

Gần dân, thương dân, lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng của dân, đồng chí Võ Chí Công khẳng định: “Tôi thấy phải khoán ruộng đất cho xã viên mới tạo được động lực và xóa được tiêu cực”(7). Sau khi tìm hiểu tình hình, đồng chí Võ Chí Công tổ chức thảo luận dân chủ và cuối cùng đa số tán thành phương án khoán đến người lao động. Đồng chí đã tổ chức thực hiện “khoán” thí điểm ở một số hợp tác xã và cho kết quả năng suất lao động tăng cao, người lao động có động lực làm việc và cống hiến. Tuy nhiên, để có thêm căn cứ thực tiễn, đồng chí Võ Chí Công trao đổi với lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phú - địa phương trước đây đã thực hiện “khoán chui”; đề nghị chọn hai xã làm thí điểm khoán đến người lao động và cho kết quả rất tốt. Sau đó, đồng chí cẩn trọng tiếp tục thực hiện thí điểm ở một số địa phương khác và đều đạt kết quả tốt.

Những kết quả đạt được của phong trào khoán mới và đặc biệt là sau khi nghe đồng chí báo cáo về kết quả khoán thí điểm ở Vĩnh Phú và Hải Phòng đã giúp Bộ Chính trị và Chính phủ có cơ sở để nghiên cứu, xem xét toàn diện vấn đề này. Sau nhiều phiên thảo luận, Bộ Chính trị và Thường vụ Chính phủ cơ bản nhất trí với khoán mới, nhưng khi bàn bạc những vấn đề cụ thể thì các thành viên còn có những ý kiến khác nhau. Đồng chí Võ Chí Công và đồng chí Lê Thanh Nghị được Trung ương phân công chuẩn bị dự thảo Chỉ thị 100: “Cuối cùng các anh giao cho anh Nghị và tôi trao đổi thêm, xây dựng dự thảo Chỉ thị 100. Anh Nghị bảo tôi dự thảo, anh sẽ góp ý kiến”(8). Giữa tháng 1-1981, Chỉ thị 100 được ban hành thực sự phù hợp “ý Đảng - lòng dân”, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân, tạo nên phong trào thi đua sản xuất sôi nổi trên cả nước.

Chỉ thị 100 được ban hành là thành quả chung của tập thể lãnh đạo nhưng đồng chí Võ Chí Công là cá nhân có đóng góp lớn. Đây là bước đột phá trên con đường tìm tòi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Việc khoán sản phẩm đến người lao động đã giải quyết được rất nhiều vấn đề đặt ra vào thời điểm đó: phân công lao động hợp lý; tài nguyên đất đai, vật tư, kỹ thuật được sử dụng hiệu quả; hạn chế được tiêu cực. Nhờ vậy, người lao động có động lực lao động mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua lao động, sản xuất… cho thấy khoán sản phẩm đến người lao động là phù hợp với quy luật khách quan.

3. Đóng góp trong xây dựng đường lối đổi mới của Đảng về kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực phân phối, lưu thông và giá - lương - tiền

Tháng 6-1986, đồng chí Võ Chí Công được Trung ương phân công làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thường trực, phụ trách phân phối, lưu thông và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Nhận nhiệm vụ mới, phức tạp và nặng nề, đồng chí chủ động bám sát thực tiễn, nghiên cứu sâu sắc lý luận, lắng nghe ý kiến của các đồng chí và nhân dân, đổi mới về tư duy kinh tế, góp phần quan trọng vào việc xây dựng đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng.     

Giai đoạn 1979-1985, Trung ương Đảng đã đề ra những chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến trên con đường đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta, vẫn còn đó tư tưởng bảo thủ, trì trệ, hạn chế năng lực lãnh đạo của Đảng.

Nhìn nhận vấn đề này, đồng chí Võ Chí Công chỉ rõ những nguyên nhân cơ bản kìm hãm quá trình đổi mới: “Tư duy đổi mới kinh tế chậm chạp trong nhận thức của một bộ phận khá đông cán bộ; còn tồn tại nhiều quan niệm lạc hậu, đã có những nhận thức giáo điều, máy móc, giản đơn về chủ nghĩa xã hội, về kế hoạch hóa, về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là có định kiến sai lầm đối với quan hệ hàng hóa - tiền tệ và quan hệ thị trường, tư duy kinh tế cũ bám rễ trong xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đặc biệt là trong một số người có trách nhiệm trực tiếp quản lý đã thành nếp nghĩ bảo thủ, tạo ra sức ỳ, e ngại đổi mới, coi nó như là một dấu hiệu xa rời chủ nghĩa xã hội”(9).

Bên cạnh đó, một số tư tưởng đổi mới mạnh mẽ hơn đã được nêu ra. Để khắc phục tình trạng mức lương không đủ tái sản xuất sức lao động và sự mất giá của đồng tiền, vấn đề giá - lương - tiền đã được xem là khâu đột phá.

Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN; chuyển tổ chức hoạt động ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh. Sau đó, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 10-8-1985 về việc phê chuẩn các phương án giá và lương, chủ trương phải làm từng bước, trải qua mấy bước, rồi tiến lên thực hiện đầy đủ các nguyên tắc mà Nghị quyết Trung ương 8 đề ra.

Tháng 9-1985, cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền được bắt đầu bằng việc đổi tiền, xóa bỏ hoàn toàn chế độ tem phiếu, chỉ giữ lại sổ gạo cho người làm công ăn lương. Song, do những khuyết điểm trong việc triển khai vấn đề giá - lương - tiền nên năm 1986 phải lùi một bước: thực hiện chính sách hai giá.

Từ tình hình thực tế trên, đồng chí Võ Chí Công cho rằng: “Phải hết sức tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật để xem xét cái đúng, cái sai và tìm ra nguyên nhân. Nghị quyết 8 của Trung ương, Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị là đúng nhưng khuyết điểm chính dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như nói trên là ở chỉ đạo thực hiện”(10). Đồng chí thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm như chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc quyết định tổ chức thực hiện các phương án giá - lương - tiền.

Tháng 6-1986, đồng chí Võ Chí Công được Trung ương tin tưởng phân công làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thường trực, phụ trách phân phối, lưu thông và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - một trọng trách nặng nề trong điều kiện nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn.

Trên cương vị công tác mới, đồng chí Võ Chí Công đã tiếp cận vấn đề một cách nhanh nhạy trên cơ sở vừa nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa trực tiếp thâm nhập thực tiễn ở các địa phương để đúc rút thành lý luận và làm căn cứ trong chỉ đạo thực tiễn. Trong bước đầu đổi mới, việc thực hiện phân phối, lưu thông rất phức tạp, nhất là vấn đề giá cả. Vấn đề này được tranh luận rất gay gắt trong nhiều cuộc họp, theo hai phương án: một bên là đi đến một giá, bên kia là nhiều giá. Đồng chí Võ Chí Công chỉ rõ: “Công cuộc đổi mới cần phải vận dụng quy luật của thị trường và quan hệ cung cầu, do đó phải vận dụng quy luật giá trị, giá cả xoay quanh giá trị. Ta đang chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh thì phải chuyển cơ chế giá cho phù hợp”(11).

Để thực hiện quản lý nhà nước về kinh tế hiệu quả, bảo đảm thực hiện những phương hướng, mục tiêu của kế hoạch kinh tế quốc dân, đồng chí Võ Chí Công cho rằng, Nhà nước cần sử dụng các đòn bẩy kinh tế cả trong kế hoạch hóa trực tiếp và kế hoạch hóa gián tiếp, sử dụng tốt các đòn bẩy kinh tế để kích thích sản xuất phát triển, lập lại trật tự, ổn định thị trường, phải có chính sách mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ tình trạng ngăn sông, cấm chợ, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính.

Đồng chí có quan điểm rất tiến bộ về phân phối, lưu thông trong nền kinh tế nhiều thành phần. Theo đồng chí, bên cạnh lưu thông hàng hóa thương nghiệp XHCN, còn có thị trường tự do bao gồm hoạt động mua bán trực tiếp của người sản xuất và người tiêu dùng trong dân cư và hoạt động lưu thông dịch vụ của những người kinh doanh tư nhân ở cả thành thị và nông thôn. Đồng chí khẳng định, không thể xóa bỏ thương nghiệp tự do theo ý muốn chủ quan bằng mệnh lệnh hành chính, mà chỉ có thể bằng sự thay thế tốt hơn của thương nghiệp XHCN và biết sử dụng họ trong những lĩnh vực mà thương nghiệp XHCN chưa làm được hoặc chưa cần kinh doanh. Thương nghiệp quốc doanh làm chủ trên thị trường với các mặt hàng hoàn toàn do kinh tế quốc doanh sản xuất hoặc nhập khẩu. Đối với những sản phẩm do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất, thương nghiệp quốc doanh nắm được sản phẩm qua chính sách giá cả và phương thức mua bán thích hợp theo nguyên tắc thỏa thuận, chủ yếu thông qua hợp đồng kinh tế với người sản xuất. Chính sách giá cả phải vận dụng phù hợp với các quy luật kinh tế, trong đó, quy luật giá trị có tác động trực tiếp. Giá cả phải phù hợp với giá trị, đồng thời phải phù hợp với sức mua của đồng tiền và tính đến quan hệ cung cầu.

Muốn ổn định giá cả thì “chính sách giá cả trước hết phải nhằm kích thích các cơ sở sản xuất và mọi người lao động làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa, hạ giá thành, hăng hái bán sản phẩm cho Nhà nước. Không thể ổn định giá cả bằng giữ giá một cách cứng nhắc, bất chấp sức mua của đồng tiền, bất chấp quan hệ cung cầu và sự biến động của các yếu tố hình thành giá cả; mặt khác phải có biện pháp tích cực trong khắc phục từng bước sự tự phát của giá cả thị trường tự do”(12). Theo đồng chí, cần cố gắng thi hành chính sách một giá, đó là giá kinh doanh thương nghiệp; gắn liền với cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN sẽ giúp đẩy mạnh sản xuất, lưu thông hàng hóa được mở rộng; thương nghiệp XHCNcó điều kiện thuận lợi chuyển sang kinh doanh, chiếm lĩnh và làm chủ thị trường.

Để chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, đồng chí Võ Chí Công khẳng định: “Trong nhận thức cần phải có sự đổi mới quan niệm và cơ chế xử lý giá cả. Vấn đề cơ bản hiện nay là chuyển sang cơ chế giá cả kinh doanh, còn gọi là cơ chế một giá. Đó là khâu quan trọng để chuyển toàn bộ hệ thống kế hoạch hóa, tài chính, ngân hàng… sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa”(13).

Về chính sách tiền lương, đồng chí cho rằng: “Chính sách tiền lương phải đáp ứng yêu cầu cấp bách là bảo đảm tiền lương thực tế của người ăn lương trong tình hình quỹ hàng hóa của Nhà nước chưa đủ và giá cả chưa ổn định”(14).

Ngoài chính sách về giá - lương, đồng chí Võ Chí Công cũng rất quan tâm tới vấn đề “xây dựng chính sách tài chính quốc gia theo hướng bảo đảm quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, kích thích mạnh mẽ kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế khác, phát triển sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, tạo ra nguồn tích lũy ngày càng tăng cho các đơn vị kinh tế và cho Nhà nước; điều tiết và phân phối hợp lý các nguồn thu nhập, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm quan hệ tích lũy và tiêu dùng”(15). Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa cần tăng cường xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như nông, lâm, thủy sản, trên tinh thần nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng hiệu suất thu ngoại tệ cho Nhà nước. Đồng chí chỉ rõ: “Hoạt động xuất nhập khẩu phải chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh. Trung ương thống nhất quản lý xuất nhập khẩu theo kế hoạch. Vấn đề quan trọng hàng đầu là đổi mới cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, cần có chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho các đơn vị làm hàng xuất khẩu theo sát được nhu cầu, thị hiếu, giá cả và các điều kiện kinh doanh khác trên thị trường thế giới. Cho phép các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu được trực tiếp giao dịch với bạn hàng nước ngoài, có sự quản lý của Bộ Ngoại thương”(16).

Với trí tuệ và tâm huyết của mình, đồng chí Võ Chí Công đã tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ và góp phần xây dựng các quan điểm, đường lối của Đảng, đóng góp quan trọng trên lĩnh vực lãnh đạo, chỉ đạo đối với nền kinh tế nói chung, nhất là vấn đề đổi mới phân phối, lưu thông và giá - lương - tiền, góp phần quan trọng trong xây dựng đường lối đổi mới kinh tế của Đảng.

Trên tất cả các cương vị công tác, đồng chí Võ Chí Công luôn thể hiện rõ tài năng lãnh đạo xuất sắc của mình và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nghiên cứu sâu sắc lý luận, có thực tiễn cách mạng sôi nổi và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong xây dựng đường lối, chủ trương quan trọng của Đảng. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ghi nhận: “Đồng chí Võ Chí Côngmột trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí luôn thể hiện phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, làm hết sức mình để giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; sống giản dị, khiêm tốn, được đồng chí, đồng bào tin yêu, quý mến; được bạn bè quốc tế trân trọng”(17).

PGS, TS ĐINH NGỌC GIANG

Vụ Quản lý khoa học, 

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS NGUYỄN HẢI YẾN

Học viện Chính trị khu vực I

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền