Trang chủ    Quốc tế    Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em và kinh nghiệm thực thi của một số nước
Thứ ba, 02 Tháng 2 2016 09:35
4646 Lượt xem

Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em và kinh nghiệm thực thi của một số nước

(LLCT) - Đến những năm cuối thế kỷ XX, các chương trình về bảo vệ trẻ em của UNICEF mới bắt đầu tiếp cận theo “nhóm đối tượng” để đáp ứng nhu cầu của các nhóm trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, trong đó tập trung vào một số nhóm trẻ em bị những hình thức gây tổn hại chính là: bóc lột, ngược đãi, bỏ rơi và bạo lực. Đến năm 2003, việc tiếp cận bảo vệ trẻ em theo “nhóm đối tượng” được chuyển hướng sang hình thức bảo vệ theo cách “tiếp cận hệ thống” - nghĩa là giải quyết đồng bộ các vấn đề liên quan đến tất cả các nhóm trẻ em, trong đó việc xây dựng môi trường an toàn, thân thiện với trẻ em và thúc đẩy “hệ thống bảo vệ trẻ em” được coi là ưu tiên hàng đầu.

1. Quyền được bảo vệ của trẻ em trong Công ước quốc tế

“Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai” - đó là một thông điệp đã và đang là phương châm hành động của nhân loại tiến bộ. Từ xa xưa, con người đã ý thức được rằng trẻ em cần được bảo vệ che chở đặc biệt khỏi mọi sự xâm hại bởi chúng còn non nớt về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa xuất phát từ góc độ quyền mà xuất phát từ góc độ nhân đạo.

Trong nhiều thế kỷ, quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến. Cuộc chiến thế giới thứ I (1914 - 1918) đã đẩy hàng triệu trẻ em vào hoàn cảnh cùng khổ. Năm 1919, một số tổ chức cứu trợ trẻ em đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển. Năm 1924, khi Tuyên bố Giơnevơ về quyền trẻ em được Hội Quốc liên thông qua thì vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cập.

Trong Tuyên bố này, vấn đề quyền trẻ em được liệt kê cụ thể theo 5 nhóm quyền như: (1) Trẻ em phải được phát triển một cách bình thường cả về thể chất và tinh thần; (2) Trẻ đói phải được cho ăn, trẻ ốm phải được chữa trị, trẻ lạc hậu phải được giúp đỡ, trẻ phạm tội phải được giáo dục, trẻ mồ côi và lang thang phải có nơi trú ẩn và phải được chăm sóc; (3) Khi xảy ra tai họa, trẻ em là người đầu tiên được cứu trợ; (4) Trong đời sống, trẻ em phải có quyền được kiếm sống và phải được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột; (5) Trẻ em phải được nuôi dưỡng theo nhận thức rằng, tài năng của chúng phải phục vụ cho đồng bào mình(1).

Năm 1948, Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, trong đó đã khẳng định “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và quyền tự do, mà không có bất kỳ sự phân biệt nào, như về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, gốc gác dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc bất cứ một thực trạng nào khác”. Trẻ em được thừa nhận là chủ thể được thừa hưởng đầy đủ các quyền con người, được bình đẳng như các thành viên trong xã hội khác.

Năm 1959, Liên Hợp quốc ra Tuyên bố thứ hai về quyền trẻ em. Tuyên bố năm 1959 kế thừa và phát triển nội dung của Tuyên bố Giơnevơ năm 1924, khẳng định rằng: Trẻ em, do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ về pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh. Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất. Tuyên bố năm 1959 kêu gọi các bậc cha mẹ, đàn ông và phụ nữ với tư cách là những cá nhân, kêu gọi các tổ chức tình nguyện, giới cầm quyền địa phương và chính phủ các nước công nhận những quyền của trẻ em và phấn đấu để thực hiện bằng luật pháp và những biện pháp khác theo 10 nguyên tắc và những nguyên tắc này như là 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ em(2).

Năm 1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em (CRC). Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một văn bản quốc tế đề cập toàn diện về quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em trên tất cả các lĩnh vực đã được CRC ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả; được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội. CRC gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế theo dõi và thực hiện, trong đó, Công ước thể hiện tập trung ở bốn nhóm quyền, ba nguyên tắc và một tiến trình theo công thức 4-3-1.

Không chỉ đề cập đến trẻ em nói chung, CRC còn đề cập đến việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (gồm: trẻ em tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang...). Đồng thời, CRC xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, ảnh hưởng của chất ma túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang... CRC được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay. Để bổ sung cho CRC, Liên Hợp quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc cấm sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và cấm buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (Việt Nam đã phê chuẩn 2 Nghị định thư này). Đến nay, đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em được ban hành để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em như: Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên, gọi tắt là Hướng dẫn Riát (1990); Quy tắc của Liên Hợp quốc về Bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990); Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em (1990). Tuyên bố về chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại (1996); Chương trình hành động chống việc bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại (1996); Công ước 182 về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và Khuyến nghị 190 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999); Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nhận con nuôi quốc tế (1993);...

Như vậy, đến những năm cuối thế kỷ XX, các chương trình về bảo vệ trẻ em của UNICEF mới bắt đầu tiếp cận theo “nhóm đối tượng” để đáp ứng nhu cầu của các nhóm trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, trong đó tập trung vào một số nhóm trẻ em bị những hình thức gây tổn hại chính là: bóc lột, ngược đãi, bỏ rơi và bạo lực. Đến năm 2003, việc tiếp cận bảo vệ trẻ em theo “nhóm đối tượng” được chuyển hướng sang hình thức bảo vệ theo cách “tiếp cận hệ thống” - nghĩa là giải quyết đồng bộ các vấn đề liên quan đến tất cả các nhóm trẻ em, trong đó việc xây dựng môi trường an toàn, thân thiện với trẻ em và thúc đẩy “hệ thống bảo vệ trẻ em” được coi là ưu tiên hàng đầu.

2. Thực tiễn bảo vệ trẻ em ở một số quốc gia

Một số quốc gia như Thụy Điển, Na Uy, Nga, Úc, Anh, Đức đặc biệt quan tâm đến xây dựng khuôn khổ pháp lý thân thiện với trẻ em và xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội, mạng lưới công tác xã hội mang tính chuyên nghiệp. Thông thường cứ 2 nghìn - 3 nghìn dân có một cán bộ xã hội chuyên nghiệp và 4 - 5 cộng tác viên và cứ 30 nghìn - 50 nghìn dân có một trung tâm công tác xã hội. Việc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được thực hiện chủ yếu bởi các trung tâm công tác xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và một phần công việc sẽ được ủy quyền cho các tổ chức phi chính phủ(3).

Các quốc gia châu Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Philippin,...) tùy theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia mà việc bảo vệ trẻ em được thực hiện theo những mô hình khác nhau. Ngày nay, hầu hết các quốc gia này đều hướng tới việc xây dựng “hệ thống bảo vệ trẻ em”; hình thành đội ngũ cán bộ xã hội và các cơ sở bảo trợ trẻ em, xây dựng mô hình gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Malaixia và Hồng Kông (Trung Quốc) đặc biệt quan tâm tới mô hình gia đình chăm sóc thay thế, trung tâm công tác xã hội với trẻ em; trung tâm trẻ em đường phố, trung tâm phục hồi trẻ em nghiện ma túy. Thái Lan và Philíppin lại chú trọng nhiều hơn vào các mô hình trợ giúp trẻ em và hỗ trợ gia đình có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt(4).

Luật Trẻ em và người trẻ tuổi của Xinhgapo năm 1993 (Children and Young Persons Act Chapter 38) có nội dung chủ yếu đề cập đến vấn đề bảo vệ trẻ em quy định trẻ em là người dưới 14 tuổi, với 9 nhóm đối tượng cần sự bảo vệ đặc biệt, gồm: (i) trẻ không có bố mẹ hoặc người bảo hộ; (ii) trẻ em bị bỏ rơi; (iii) cha, mẹ, người bảo hộ không phù hợp, không có khả năng chăm sóc, sao nhãng làm cho trẻ em rơi vào tình trạng có những mối quan hệ xấu, đe doạ đến đạo đức hoặc không thể chế ngự được; (iv) trẻ đã bị hoặc có nguy cơ cao bị đối xử tồi tệ; (v) trẻ em cần được khám, điều trị để bảo đảm sức khoẻ hoặc sự phát triển nhưng cha, mẹ hoặc người bảo hộ sao nhãng hoặc từ chối làm những công việc đó; (vi) trẻ có hành vi và nhân cách gây nguy hiểm cho bản thân người khác mà cha, mẹ, người bảo hộ không thể hoặc không muốn hoặc thất bại trong việc hỗ trợ trẻ; (vii) trẻ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những mâu thuẫn dai dẳng giữa trẻ và cha, mẹ, người bảo hộ hoặc giữa cha, mẹ hoặc người bảo hộ hoặc những mâu thuẫn, đổ vỡ trong gia đình dẫn đến thương tổn về tình cảm; (viii) trẻ sống trong môi trường hoặc có liên quan, bị ảnh hưởng bởi người phạm tội hoặc những hành vi phạm tội; (ix) trẻ sống lang thang không nơi ở, không nguồn sống, trẻ xin ăn, hát rong, bán xổ số, bán hàng rong, đánh bạc, sử dụng các thuốc kích thích.

Luật Trẻ em của Malaixia (Act 611 Child Act 2011) không định nghĩa trẻ em nhưng lại quy định cụ thể độ tuổi của trẻ em khi gửi đến các dịch vụ, trung tâm, trường học. Thí dụ: trẻ em dưới 10 tuổi thì không được đưa vào các trường giáo dưỡng; trẻ em dưới 14 tuổi thì không được đưa vào trường cách ly hoặc giam giữ trẻ em vi phạm pháp luật.

Luật của Malaixia phân loại các nhóm trẻ em cần được bảo vệ theo các nhóm mức độ gây tổn hại cho trẻ, gồm: (i) Nhóm có nguy cơ cần được chăm sóc bảo vệ, gồm trẻ có nguy cơ bị tổn hại về thể chất, tinh thần, tình cảm; trẻ bị sao nhãng, không được chăm sóc đầy đủ; trẻ không nơi nương tựa; trẻ mâu thuẫn với cha mẹ, người bảo hộ và gia đình; trẻ sống trong môi trường phạm tội, môi trường mại dâm; trẻ xin ăn, hát rong, bán xổ số; (ii) Nhóm trẻ cần được bảo vệ và phục hồi: trẻ tham gia vào các hoạt động tình dục; trẻ liên quan hoặc sống trong các nhà chứa, trong đó có nhóm trẻ cần được bảo vệ khẩn cấp là những trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ mang thai, sinh con hoang đã được thông báo và xác nhận; (iii) Nhóm trẻ vượt quá tầm khống chế: trẻ có các hành vi vượt quá tầm khống chế của cha mẹ, người bảo hộ; (iv) Nhóm trẻ em bị buôn bán, bắt cóc(5).

3. Một số kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam

Những kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt rất phong phú và đa dạng, xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội và những đặc điểm riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, có những kinh nghiệm mang tính phổ biến cần tham khảo, vận dụng cho công tác bảo vệ trẻ em Việt Nam.

Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách hướng đến phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em

Công tác bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam đã ngày càng được quan tâm hơn và điều đó được thể hiện là Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22-01-2011. Tuy nhiên, việc chuyển hướng sang hình thức bảo vệ theo cách “tiếp cận hệ thống” cần được luật hóa trong văn bản luật về trẻ em (Luật Trẻ em). Luật Trẻ em không chỉ quy định về quyền, bổn phận của trẻ em, quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền trẻ em mà rất cần những quy định cụ thể những biện pháp, cách thức bảo vệ trẻ em theo hệ thống, đặc biệt là bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, các chính sách về bảo vệ trẻ em cũng cần thiết được xây dựng theo hình thức hệ thống bảo vệ trẻ em.

Thứ hai, xây dựng và phát triển hệ thống công tác xã hội về trẻ em

 Phát triển hệ thống công tác xã hội về trẻ em bao gồm phát triển nguồn nhân lực và phát triển hệ thống cơ sở công tác xã hội về trẻ em. Cán bộ công tác xã hội về trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đây là lực lượng trực tiếp và quan trọng nhất thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, kết nối cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở cộng đồng và trực tiếp quản lý trẻ em, xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp trẻ em, gia đình và phát triển cộng đồng. Hệ thống các cơ sở công tác xã hội về trẻ em được hình thành để thực hiện cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ bị xâm hại...

Thứ ba, xác định nhóm trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định 10 nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay có một số nhóm trẻ em cần được nghiên cứu và bổ sung vào nhóm những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để được hưởng chế độ bảo vệ đặc biệt như là trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích,… Việc xác định đúng các đối tượng trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt được xem xét dựa trên các yếu tố và mức độ gây tổn hại cho trẻ. Đồng thời, việc xác định này cũng gắn với trách nhiệm và loại hình dịch vụ bảo vệ và phục hồi cho trẻ.

Thứ tư, xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em

Hệ thống pháp luật Việt Nam đang dần được điều chỉnh, bổ sung để đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền trẻ em và phù hợp với thực tiễn nước ta. Tuy nhiên, giữa quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện còn có “khoảng cách”. Pháp luật đã quy định về việc “xử lý chuyển hướng” đối với trẻ em tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em vi phạm pháp luật hoà nhập cộng đồng, tránh được sự kỳ thị của cộng đồng và xã hội nhưng thực tế triển khai còn hạn chế. Chúng ta còn thiếu các quy trình và thủ tục can thiệp, trợ giúp, bảo vệ trẻ em trong trường hợp trẻ em bị xâm hại; Quy trình điều tra, xét xử thân thiện với trẻ em cũng chưa được xác lập;... Điều này đòi hỏi Việt Nam phải dần dần xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em từ việc tiếp nhận, xử lý thông tin đến việc điều tra, truy tố, xét xử mang tính thân thiện với trẻ em phù hợp với điều kiện của Việt Nam và hài hòa với pháp luật quốc tế.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015

(1)Tuyên bố của Giơnevơ về quyền trẻ em (1924) (www.unicief.org/vietnam).

(2) Tuyên bố của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (1924) (www.unicief.org/vietnam).

(3) Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em, Báo cáo xây dựng Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015, năm 2010.

(4) Xem Nguyễn Hải Hữu: Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em(treem.molisa.gov.vn).

(5) Xem Đặng Hoa Nam: Chuyên đề nghiên cứu: Pháp luật Malaysia và Singapore về dịch vụ bảo vệ trẻ em.

 

ThS Lã Văn Bằng

Ban Thanh tra,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền