Trang chủ    Quốc tế    Chủ nghĩa xã hội ở các Kibbutz của Israel
Thứ hai, 28 Tháng 11 2016 09:25
1236 Lượt xem

Chủ nghĩa xã hội ở các Kibbutz của Israel

(LLCT) - Cho đến nay, mô hình Liên Xô đã chấm dứt vai trò lịch sử trong xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực. Nhưng vẫn còn một thực tế khác, hiện đang tồn tại và có thể coi là phiên bản khá thành công của CNXH. Đó là các kibbutz của Israel.

 

Kibbuttz theo tiếng Hebrew (ngôn ngữ phổ thông của Israel) nghĩa là vùng định cư, để giúp cho người Do Thái khắp thế giới trở về, sinh sống trên đất nước Israel của họ từ 14-5-1948(1).

Kibbutz hiện nay là những cộng đồng kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn Israel được tổ chức theo các nguyên tắc: dân chủ tự quản, cộng đồng sở hữu tư liệu sản xuất và tài sản, bình đẳng trong lao động “làm theo năng lực” và phân phối công bằng “hưởng theo nhu cầu”. Kibbutz là một phần quan trọng của lịch sử Israel, với vai trò là những trung tâm định cư, là những cơ sở quốc phòng và là một kiểu phát triển của quốc gia này. Thành công của kiểu tổ chức cộng đồng kibbutz đã mang lại cho từ này một hàm nghĩa mới: công xã.

Vì sao mô hình XHCN lại xuất hiện ở các kibbutz của Israel?

Vấn đề này có những nguyên nhân từ lịch sử hiện đại sau đây:

Từ đầu thế kỷ XX, những người sáng lập ra kibbutz đầu tiên ở Palestine là những người Do Thái mang tư tưởng XHCN. Kibbutz đầu tiên có tên là Degania, nằm ở phía Tây Nam của biển Galilee được lập ra vào năm 1909(2). Josheph Baratz, một trong những người sáng lập kibbutz Degania đã viết: “Hạnh phúc là được cày cấy... song chúng tôi không mong một đất nước mà người Do Thái ở tầng lớp trên và người Arab làm thuê. Có lẽ không nên trở thành ông chủ hay thuê mướn gì cả. Phải có biện pháp tốt hơn”(3). Từ khi đất nước Israel được thành lập, nỗ lực tạo ra một xã hội bình đẳng, cộng đồng dựa trên các nguyên tắc của CNXH đã được người Do Thái hiện thực hóa ở các kibbutz.

Nhiều người Israel có thiện cảm với chế độ XHCN. Hồng quân Liên Xô đã cứu người Do Thái khỏi họa diệt chủng của chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ II. J.Stalin đã ủng hộ việc thành lập nhà nước của người Do Thái và được họ coi như nhà lập quốc. Từ khi Nhà nước Israel được thành lập, người Do Thái từ khắp thế giới trở về nước. Trong số đó có nhiều người từng xây dựng CNXH và thụ hưởng những giá trị tích cực của CNXH ở Liên Xô (hiện nay Israel có trên 1 triệu người từng là công dân Liên Xô). Những lớp người đầu tiên từ Liên Xô trở về đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Israel noi theo mô hình CNXH Xô viết.

Thêm một lý do chính trị khác: “Công đảng Israel (Labour Party- Đảng Lao động) có thiên hướng XHCN, được sáng lập năm 1948 bởi những người Do Thái từ Liên Xô trở về. Giai đoạn 1948-1977, Công đảng từng có vai trò chi phối hệ thống chính trị Israel”(4). Trong khá nhiều đề xuất về mô hình phát triển của đất nước, Davide Ben Gurion (1886 - 1973) người góp phần sáng lập và phát triển Nhà nước Israel và là vị Thủ tướng đầu tiên của Israel đã khẳng định rằng: “Hàng ngàn bài diễn văn, hàng trăm đại hội bàn về các cách phục hưng đất nước cũng không bằng lập được một làng cộng đồng kibbutz”(5).

Với những lý do lịch sử hiện đại như vậy, từ ban đầu các kibbutz ở vùng nông thôn Israel đã được tổ chức theo mô hình nông trang tập thể ở Liên Xô và còn đến hiện nay. Hiện tượng kibbutz đã làm cho đất nước Israel có một thể chế kinh tế khá thú vị - gần giống như “một nước, hai chế độ”: Ở vùng nông thôn, nông nghiệp, các kibbutz được tổ chức theo nguyên tắc XHCN; còn ở vùng đô thị thì lại hoạt động theo nguyên tắc kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

2. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của kibbutz

Sở hữu công cộng cả về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Hiện nay, 80% diện tích đất nông nghiệp của Israel do các kibbutz (công xã) và moshav (hợp tác xã) phụ trách theo nguyên tắc công hữu ruộng đất.

Những quy định ban đầu về sở hữu của các kibbutz thể hiện rõ sắc thái cộng sản chủ nghĩa: công hữu toàn bộ tư liệu sản xuất và tiêu dùng. Hình thái sở hữu duy nhất của kibbutz hồi mới thành lập là công hữu mọi thứ, từ tư liệu sản xuất đến tiêu dùng đều là của chung. Đất đai và các công cụ sản xuất, nhà cửa, thiết bị sản xuất và sinh hoạt,v.v.. đều thuộc sở hữu của cả cộng đồng. Ở kibbutz không có sở hữu tư nhân vì khi gia nhập, các thành viên đã tự nguyện chuyển tất cả tài sản của họ cho cộng đồng. “Kibbutz là nơi tinh thần cộng đồng rất cao, mọi người sống và làm việc hết mình vì nhau, ở đó không ai có tài sản riêng”(6). Nguyên tắc cộng đồng, “cùng làm, cùng hưởng” được đề cao. Lối sống cộng đồng thấm đẫm từ trẻ em đến mọi kibbutznic (xã viên). Tất cả là chung, không chỉ về tư liệu sản xuất và tiêu dùng mà còn là lối sống: sức khỏe của thành viên là tài sản của cộng đồng, trẻ em được giáo dưỡng để xã hội hóa nhân cách, các bà mẹ có thể cho con của người khác bú, một số quà tặng cho cá nhân cũng được tập thể cùng chia sẻ...

Ngày nay, theo sự biến chuyển của thời đại, sở hữu của kibbutz tuy vẫn lấy phương thức cộng đồng làm chủ đạo, song một số lĩnh vực đã khoán hoặc trao quyền sử dụng cho các thành viên. Gia đình xã viên được trao quyền sử dụng đất đai của kibbutz để sản xuất (như khoán hộ ở Việt Nam).

Quản lý, tổ chức tự quản, dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên

Các hoạt động quản lý trong kibbutz dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và tự quản. Tự nguyện, nhưng không phải ai muốn cũng được gia nhập kibbutz. Khi đã gia nhập thì xã viên cần phải mang một tinh thần mới và lối sống mới. Họ phải trải qua một thời gian học hỏi - tập sự, khi hết hạn mới được Hội nghị kibbutz xem xét chấp nhận hay không. “Kibbutz là một xã hội dựa trên sự tham gia tự nguyện của các thành viên, nó có trách nhiệm đảm bảo cho các nhu cầu của thành viên suốt đời họ. Đó là một xã hội phấn đấu để các cá nhân phát triển tối đa tiềm năng, mặt khác nó cũng đòi hỏi từ mỗi người trách nhiệm và cam kết đóng góp cho phúc lợi của cộng đồng”(7)

Đại hội các xã viên là thiết chế quyền lực cao nhất của một kibbutz được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ, tập trung. Việc hoạch định chính sách, bầu cán bộ, ủy quyền quản lý ngân sách hay phê duyệt thành viên mới đều phải thông qua đại hội. Lãnh đạo kibbutz là một hội đồng, do xã viên trực tiếp bầu ra trong đại hội. Hội đồng sẽ bầu chọn chủ nhiệm - người chịu trách nhiệm điều phối mọi hoạt động của kibbutz trong nhiệm kỳ 4 năm. Các vị trí thư ký, quản lý quỹ và điều phối viên, theo quy định, hoạt động toàn thời gian, các thành viên khác hoạt động bán thời gian. Những vấn đề thường nhật như tài chính - thuế, sản xuất, nhà ở, y tế và văn hóa giáo dục... được hội đồng xử lý kịp thời, công khai, công bằng và được giám sát chặt chẽ. Hội đồng còn là diễn đàn để mọi thành viên nêu vấn đề hoặc bày tỏ quan điểm. Tính dân chủ, minh bạch và khoa học trong tổ chức và hoạt động đã giúp cho mô hình tự quản này ổn định và phát triển khá thịnh vượng.

Cơ quan điều hành (The kibbutz movement) là đại diện cao nhất của tất cả các kibbutz trên cả nước. Với cấu trúc gần giống như một “chính phủ” nhỏ và quản lý khá độc lập, cơ quan trung ương này đại diện cho tất cả các kibbutz. Những cuộc họp của Cơ quan điều hành gần giống như cuộc họp quốc hội của một nhà nước. Nó có trách nhiệm giải quyết với Chính phủ và chính quyền địa phương các vấn đề của các kibbutz trong quốc gia(8). Chẳng hạn, kế hoạch phát triển các kibbutz, hỗ trợ cho từng kibbutz về những vấn đề cơ bản. Các hoạt động của Cơ quan điều hành nhằm phát triển các cộng đồng kibbutz cả về kinh tế, xã hội và tư tưởng trên toàn quốc. Phương châm là xây dựng một cộng đồng mạnh, phát triển hài hòa về kinh tế, giáo dục, văn hóa, phúc lợi xã hội bảo đảm tương lai của các thành viên và phát triển các kibbutz.

Phân phối công bằng và đang thực hiện ở mức độ nhất định “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” cho mọi thành viên

Công bằng trong lao động là nguyên tắc của kibbutz. Đối với thành viên kibbutz, lao động là vinh quang và không có công việc nào là thấp kém. Các thành viên được bố trí công việc phù hợp với năng lực bản thân trong sản xuất, dịch vụ. Những việc thường nhật như dọn vệ sinh, bếp núc, nhà ăn... được thực hiện theo nguyên tắc lần lượt, xoay vòng. Không có sự phân biệt nào về vị trí làm việc của mọi người, dù là quản lý, chuyên gia hay là dịch vụ. Tất cả đều không có lương, mà chỉ được hưởng một mức phụ cấp như nhau, tùy theo khả năng tài chính của mỗi kibbutz. Mọi người cũng không phải đóng thuế thu nhập cá nhân cho nhà nước vì kibbutz sẽ đóng thuế cho họ.

Những người vốn xuất thân từ kibbutz nay đi làm những công việc ở thành phố, vẫn theo quy ước chung, đều đặn gửi toàn bộ lương và thu nhập về cho kibbutz của mình. Kibbutz sẽ phân phối lại và thỏa mãn những yêu cầu theo đặc thù công việc của những thành viên đó.

Không thuê mướn nhân công ngoài cũng là một đặc điểm của kibbutz truyền thống. Với nguyên tắc “tự lực trong lao động” họ cho rằng thuê mướn là dấu hiệu của bóc lột! Vấn đề thiếu nhân lực của các kibbutz có khi được giải quyết bằng các tình nguyện viên(9).

Về nguyên tắc, phụ nữ kibbutz bình đẳng trong công việc với nam giới. Những thế hệ trước đây, phụ nữ kibbutz còn tìm cách chứng minh sự bình đẳng bằng việc đảm nhận cả những công việc nặng của đàn ông. Phụ nữ kibbutz ngày nay tham gia nhiều hơn trong giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ.

Thành viên được kibbutz đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của cuộc sống mọi người: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, việc làm và các nhu cầu tinh thần hoặc chữa bệnh... Kibbutz mang lại an sinh xã hội, tương trợ cộng đồng.

Đời sống, sinh hoạt ở kibbutz

Trung bình mỗi Kibbutz có khoảng 300-400 xã viên cùng những người trong gia đình họ. Các gia đình thường có nhiều thế hệ chung sống.

Các kibbutz có thiết kế khá giống nhau, thường theo kết cấu vòng tròn đồng tâm. Trung tâm thường là nhà ăn tập thể và nhà máy giặt, đây cũng là nơi dành cho các sinh hoạt động cộng đồng. Cùng đó là khu vực sân chơi cho trẻ em và khu trường học. Bao xung quanh trung tâm là khu nhà ở của các gia đình với diện tích hiện nay khoảng 100m2 mỗi hộ. Khu nhà ở điển hình cho một kibbutz bao gồm nhà cửa và vườn cây, nhà mẫu giáo, sân chơi cho mọi lứa tuổi và các công trình công cộng như nhà ăn, thư viện, giảng đường, bể bơi, cửa hàng bách hóa, trạm y tế,... Tất cả các dịch vụ cho cuộc sống của kibbutznic đều miễn phí. Phía xa và ngoài rìa là những khu trồng trọt, chăn nuôi với những trang trại nuôi gà, cá, bò lấy sữa và các nhà máy sản xuất...(10) Kết cấu vòng tròn đồng tâm này cũng rất hữu ích trong công việc phòng vệ của những kibbutz gần biên giới.

Về ăn, hiện nay nhiều kibbutz vẫn duy trì ăn sáng và trưa cho tất cả mọi người. Nhà ăn tập thể được tổ chức hiện đại với chế độ ăn tự chọn. Ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa đến nơi quy định để cho “tổ bếp núc” rửa. Người lớn đi làm, trẻ em đi học. Buổi tối cả nhà về ăn cùng nhau.

Kibbutz xây dựng và cấp miễn phí nhà ở cho các gia đình xã viên. Khi cần xây dựng mở rộng và cải tạo, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sẽ có đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu, kibbutz thanh toán chi phí. Kibbutz cung cấp miễn phí toàn bộ tiền điện, nước, gas cho các gia đình. Ở kibbutz Mashabbe Sade, nhà ở xã viên là những biệt thự đầy đủ tiện nghi.

Tất cả các Kibbutz, việc giặt quần áo cho các gia đình xã viên được tổ chức thành một tổ chuyên phục vụ giặt giũ. Công việc này hiện nay được làm bằng máy từ giặt đến sấy khô.

Về đi lại, xã viên không cần phải sắm ô tô riêng vì kibbutz đã có bãi xe dùng theo nhu cầu, người dùng không phải chi trả khoản xăng dầu, sửa chữa.

Giáo dục từ phổ thông đến học nghề đều được kibbutz miễn phí. Trẻ em phải trở thành con người mang tinh thần xã hội và truyền thống dân tộc Do Thái là mục tiêu của giáo dục. Hầu hết các em đều trưởng thành từ “trường làng” nhưng đều là những cơ sở giáo dục rất tốt. Các gia đình Israel ở thành phố thường gửi con về các trường ở kibbutz để cùng với kiến thức, được giáo dục tình cảm quê hương, ý thức cộng đồng và những kỹ năng sống. Kibbutz cũng chi trả học phí cho những thành viên đi học đại học, cao đẳng ở thành phố.

Xã viên Kibbutz được nghỉ hưu theo quy định chung ở tuổi 69 đối với nam giới, 67 đối với nữ giới. Nhưng nếu muốn, xã viên có thể tiếp tục làm việc.

Các nhu cầu chữa bệnh, dưỡng lão của thành viên cũng được thỏa mãn chu đáo, theo tinh thần “sức khỏe thành viên là tài sản của cả cộng đồng”.

Ở Israel, từ chính khách cho đến các trí thức, doanh nhân, ai cũng tự hào rằng mình có nguồn gốc là một kibbutznic!

Kibbutz hiện nay là một tổ hợp nông- công nghiệp hiện đại và có năng lực sản xuất cao và khá nhanh nhạy với cơ chế thị trường

Trình độ sản xuất cao cắt nghĩa cho khả năng phúc lợi xã hội lớn của kibbutz. Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, kibbutz có quan hệ rất gắn bó với khoa học và công nghệ từ các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu và trường đại học. Nhiều thành tựu khoa học nông nghiệp của Israel xuất phát hoặc được ứng dụng trong các kibbutz. Israel có công thức: nông nghiệp là 95% khoa học và công nghệ cộng với 5% sức lao động.

Nhà nước đầu tư ban đầu lớn và thường xuyên hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp ở các kibbutz. Israel đứng đầu thế giới trong đầu tư cho phát triển nông nghiệp, thường khoảng 100 triệu USD/năm. Một nửa trong số đó là từ ngân sách (50 triệu USD), từ hợp tác quốc gia 12 triệu USD, từ các tổ chức nông nghiệp 6 triệu USD, từ tư nhân 25 triệu USD...

Trong khi vẫn lấy nông nghiệp làm ngành kinh tế quan trọng, ngày nay nhiều kibbutz mở rộng hoạt động sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Sản phẩm công nghiệp đa dạng, nhưng thường là cơ khí, nhựa và chế biến thực phẩm. Hầu hết cơ sở công nghiệp ở quy mô nhỏ và vừa (chưa đến 100 công nhân).

“Kinh tế đối ngoại” của các kibbutz hoàn toàn theo cơ chế thị trường. Nông nghiệp Israel được gọi là “vườn rau của châu Âu mùa Đông” với gần 4 tỷ USD nông phẩm xuất khẩu năm 2014. Về hiệu quả kinh tế, kibbutz đóng góp 33% sản phẩm nông nghiệp và 6,3% sản phẩm công nghiệp vào tổng sản phẩm của Israel, trong khi dân số chỉ chiếm 2,5%(11).

Người ta cho rằng, sức sống của kibbutz nằm ở khả năng luôn sẵn sàng chuyển đổi theo kịp bối cảnh và những nhu cầu mới. Để thích nghi với hoàn cảnh mới, các kibbutz hiện nay đã chuyển đổi theo 3 dạng:

(1) Sử dụng cơ chế thị trường trong một số dịch vụ (điện, truyền hình cáp...) hoặc thuê mướn nhân công bên ngoài. Nhiều trường ở kibbutz, vốn có chất lượng giáo dục tốt, đã mở cửa đón trẻ em từ thành phố về học. Nhóm học sinh này phải đóng học phí.

(2) Tiến hành trả lương “theo lao động” chứ không phụ cấp bình quân như trước đây. Một số lao động trình độ cao như giám đốc, bác sĩ, giáo viên, kỹ sư... được trả lương khá cao.

(3) Các xã viên được sở hữu nhà cửa và có cổ phần, được chia lợi tức; kibbutz cho phép các thành viên chuyển nhượng hoặc để thừa kế hai loại tài sản này trong thời gian nhất định(12).

Cho dù có những lo ngại rằng, những chuyển đổi trên sẽ làm kibbutz dần xa rời lý tưởng và nguyên tắc cộng đồng của mô hình này. Nhưng lịch sử đã cho thấy, chính sự chuyển hóa nhanh nhạy là bí quyết sinh tồn của người Do Thái. Sức sống và sự hấp dẫn của kibbutz vẫn rất lớn. Số lượng các kibbutz và dân số vẫn tăng đều đặn trong thập niên gần đây.

Theo số liệu 2014, ở Israel có 273 kibbutz, với số dân 152.900 người(14).

Có người cho rằng “Kibbutz là mô hình tổ chức nông - công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới, chỉ có tại Israel”. Chúng tôi cho rằng, kibbutz là một trường hợp nghiên cứu thú vị, vì những lẽ sau:

- Nông dân, nông nghiệp và nông thôn luôn là vấn đề lớn trong phát triển của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển theo định hướng XHCN. Mô hình kibbutz ở Israel có thể được xem là một điển hình cần tham chiếu để phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại.

- Vấn đề công hữu tư liệu sản xuất và sản xuất tập thể trong nông nghiệp, gần đây thường bị coi là kém hiệu quả. Kibbutz đã phản chứng bằng thực tế thành công của nó. Công hữu tư liệu sản xuất nếu được tổ chức quản lý tốt, được hỗ trợ từ nhà nước và xã hội, tạo ra được năng suất lao động cao thì vẫn là một hướng phát triển có tính bền vững cả về kinh tế và xã hội.

- Sức sống và sự hấp dẫn của lý tưởng XHCN và cộng sản chủ nghĩa thật mạnh mẽ, và đôi khi nó tìm đến một biểu hiện rất độc đáo. Thực tiễn đã xác nhận hiệu quả và vai trò tích cực của các kibbutz ở Israel - một phiên bản thành công của mô hình Liên Xô. Về lý luận, có thể xem kibbutz như những nhân tố XHCN trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay .

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2016

(1) Sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi xung đột vũ trang ngày càng gia tăng giữa người Do Thái và người A rập ở Palestine, khi những nỗ lực quốc tế để hòa giải không thành công, Nghị quyết 181 (II) của Liên Hợp quốc, ngày 29-11-1947, đã chia Palestine thành hai quốc gia: một của người A rập và một của người Do Thái. Vùng đất của người Do Thái chiếm khoảng 55% diện tích và vùng đất của người A rập khoảng 45%. Ngày 14- 5-1948, trước khi hết thời hạn ủy trị của Anh tại Palestine, Nhà nước Israel đã được Quốc hội của người Do Thái tuyên bố thành lập. Dẫn theo: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

(2) Việt Trung: “Israel và phong cách “nồi áp suất”, Báo Sài Gòn giải phóng, bản điện tử, 5-12-2011. Một cụ già là kibbutznic trả lời phỏng vấn: “Kibbutz đầu tiên ra đời trước cả Nhà nước Nga Xô viết... Những người lập nên kibbutz đầu tiên chính là những người từng sinh sống ở Nga những năm đầu thế kỷ trước”.

(3) Theo Việt Anh: “Giấc mơ bắt sa mạc nở hoa”, Tạp chí Tia sángđiện tử, 2-5-2007.

(4) TS Hoàng Anh Tuấn: “Tìm hiểu Israel và dân tộc Do Thái”, nghiencuuquocte.net.

(5) Trần Thu Hương: “Kibbutz - Mô hình làng cộng đồng trong sự nghiệp kiến quốc của Israel”, Tạp chí Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, số 7/2014.

(6) (12) Việt Trung: “Kibbutz - những nông trang tập thể”, sggp.org.vn .

(7) (13) Amnon Rubinstein: “Return of the kibbutzim” (Sự phục hồi của các kibbutz) Jerusalem Post, Bộ Ngoại giao Israel, 10-7-2007. 

(8) Theo Trần Thu Hương: Sđd, Cơ quan điều hành kibbutz có các Ban Kinh tế, Ban Điều phối khu vực, Ban Công tác quốc gia, Ban Hợp tác xã, Ban Tăng trưởng nhân khẩu, Ban Y tế và Phúc lợi, Ban An ninh Kibbutz và các phòng như Phòng Giáo dục, Phòng Nhân sự, Phòng Pháp chế, Phòng Phát triển cá nhân, Phòng Xúc tiến sự tiến bộ của phụ nữ, Phòng Văn hóa và Phòng Phụ trách các tình nguyện viên đến từ nước ngoài...

(9) Những năm 60 - 70 thế kỷ XX, từ sức hấp dẫn của mô hình này, trên thế giới có một phong trào “Tình nguyện viên kibbutz”. Có tới hàng chục nghìn thanh niên ở các nước đã đến đây và làm việc. Nhiều người đã ở lại Israel. www.kibbutzvolunteers.org.il.

(10) Nguyễn Đại Phượng: “Kibbutz - mô hình kinh tế “made in Israel”, Tiền phong điện tử 6-6-2005.

(11) Nguyễn Xuân Thủy: “Kỳ tích nông nghiệp Israel - Kibbutz hợp tác xã kiểu Israel”, báo Nông nghiệp Việt Namđiện tử, 25-9-2014 .

(14) Tổng cục thống kê Israel: “Báo cáo số liệu về phân bố dân cư Israel năm 2014”, cbs.gov.il.

 

PGS,TS Nguyễn An Ninh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác