Trang chủ    Quốc tế    Quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng
Thứ năm, 26 Tháng 7 2018 17:20
379 Lượt xem

Quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng

(LLCT) - Trong những năm qua, Việt Nam, Lào, Campuchia đã tích cực triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, song vẫn dành ưu tiên cao cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa ba nước. Những kết quả đạt được trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng thời gian qua là sự nỗ lực của ba nước trong việc tìm kiếm mô hình phát triển và hợp tác liên kết. Để đẩy mạnh hợp tác, liên kết lên tầm cao mới, cần tiếp tục củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt, tăng cường phối hợp giữa ba nước trong triển khai các chương trình hợp tác song phương và đa phương.

Hợp tác, liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia được đẩy mạnh trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX. Đây là thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới cũ sang trật tự mới, theo xu thế đa cực hóa, đa trung tâm hóa. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực đời sống, hội nhập quốc tế, hình thành xu thế mới, thu hút sự tham gia của nhiều nước, các dàn xếp, thỏa thuận liên kết, hội nhập quốc tế, trong đó có  ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.

1. Hợp tác, liên kết song phương

Quan hệ đặc biệt Việt - Lào

Trong bối cảnh chiến tranh lạnh kết thúc, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam và Lào mất chỗ dựa về vật chất và tinh thần to lớn. Tuy nhiên, cả hai nước đều tiếp tục tiến nhanh trên con đường đổi mới, giữ vững định hướng chính trị, ổn định an ninh quốc gia, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa. Do đó, bên cạnh việc mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, quan hệ hợp tác Việt - Lào trên lĩnh vực ngoại giao được đẩy mạnh trên ba phương diện: đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Thông qua các cuộc gặp cấp cao, hai bên đã trao đổi những kinh nghiệm quý báu của mình trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam và Lào vẫn bị các thế lực thù địch tìm cách chống phá. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch, đặc biệt là lực lượng phản động trong số Việt kiều ở nước ngoài luôn tìm mọi cách “chuyển lửa về quê hương”, hoạt động mạnh nhất là tổ đưa các nhóm vũ trang về nước, trong đó có con đường qua biên giới Việt - Lào. Tại Lào, các lực lượng thù địch tiếp tục hoạt động diễn biến hòa bình, lôi kéo, chuyển hóa, kích động một số phần tử tiêu cực trong học sinh, sinh viên, trí thức và cán bộ; tổ chức tuyên truyền, kích động chia rẽ các bộ tộc, kêu gọi sự giúp đỡ của các tổ chức tôn giáo quốc tế và tìm kiếm sự can thiệp quốc tế... Trước tình hình đó, hợp tác về an ninh giữa Việt Nam và Lào là nhu cầu cấp bách. Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, chính phủ, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) của hai nước đã ký kết hiệp định, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh. Hai bên coi trọng việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm, như: xây dựng lực lượng, chống xâm nhập, chống bạo loạn và vô hiệu hóa các hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Việt Nam luôn chủ động và đảm nhiệm công việc khó khăn với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng chính là an ninh của mình”. Việt Nam đã giúp Lào củng cố và xây dựng lực lượng an ninh, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của tình hình mới.

Bộ Quốc phòng Việt Nam chú trọng giúp bạn xây dựng chiến lược quốc phòng dài hạn, đường lối quốc phòng toàn dân, toàn diện. Việt Nam đã giúp Lào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn. Quân đội Lào được xây dựng theo hướng chính quy và hiện đại, có sức chiến đấu cao, đủ khả năng làm chỗ dựa cho thế trận chiến tranh nhân dân. Các lực lượng bộ đội địa phương, dân quân ở cấp bản, lực lượng dự bị động viên... được chú ý xây dựng, củng cố và luyện tập thường xuyên. Việt Nam còn giúp Lào xây dựng chiến lược phòng thủ đất nước trong từng thời kỳ và ở từng vùng. Hợp tác an ninh, quốc phòng giữa hai nước không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về huấn luyện, đào tạo. Hai bên tiếp tục phối hợp triển khai tốt các thỏa thuận hợp tác an ninh, quốc phòng.

Hai bên đã hoàn thành dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào. Đồng thời, hai bên đã ký Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào; tiếp tục đẩy mạnh triển khai Thỏa thuận giữa hai chính phủ về giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú ở vùng biên giới Việt Nam-Lào. Công tác tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ, quân tình nguyện Việt Nam được triển khai tốt. 

Quan hệ Việt Nam - Campuchia

Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam - Campuchia không ngừng phát triển và thu được nhiều thành tựu. Việt Nam và Campuchia trong những năm qua đã duy trì thường xuyên các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao. Qua đó khẳng định quyết tâm vun đắp mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước mà Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni phát biểu tại cuộc hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam tháng 9-2012: “Campuchia và Việt Nam là hai nước không thể tách rời, mối quan hệ quý báu giữa hai nước cần được phát huy trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước”. Giao lưu giữa các Bộ, ngành, ngoại giao nhân dân giữa Việt Nam và Campuchia cũng được tăng cường, đã tạo mối quan hệ gắn bó, nhất là những tỉnh giáp biên giới.

Quân đội Việt Nam và Campuchia thường xuyên trao đổi đoàn quân sự cấp cao, ký kết nhiều văn bản hợp tác. Qua đó khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Campuchia nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ và xây dựng đất nước. Đến nay, hai nước đã hoàn thành hơn 84% khối lượng công tác phân giới, cắm mốc(1) và quyết tâm sớm hoàn thành nhằm đưa biên giới hai nước thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững vì lợi ích chung của nhân dân hai nước.

Quan hệ Campuchia - Lào

Từ năm 1991 đến nay, quan hệ hai nước được điều chỉnh và đổi mới theo hướng mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác, kết hợp ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế theo phương châm: “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết, hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài”.

Trong những năm qua, hai bên duy trì cuộc gặp hằng năm giữa các lãnh đạo Nhà nước, Bộ, ban, ngành, các đoàn thể nhân dân, quan hệ và hợp tác hai nước trong khuôn khổ Đảng, Chính phủ và cơ quan lập pháp đã được tăng cường và liên tục mở rộng. Chuyến thăm hữu nghị cấp Nhà nước của Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith tới Vương quốc Campuchia từ ngày 22 đến ngày 23-2-2017 là sự kiện quan trọng đánh dấu sự tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa hai nhà nước. Trong chuyến thăm, Chủ tịch Bounnhang Vorachith đánh giá cao những thành tựu hiện nay của Campuchia và việc tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm giữa hai nước; Thủ tướng Campuchia Samdech Hun Sen cũng nhấn mạnh ý nghĩa của việc kết nối giữa Campuchia và Lào, đặc biệt giữa khu vực phía Nam của Lào và Đông Bắc Campuchia(2). Các chuyến thăm thường xuyên của hai bên đã tạo được sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau, tăng cường hiệu quả hợp tác song phương, đa phương trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư,... Hiện nay, hai nước đang đẩy mạnh công tác phân giới, cắm mốc và quyết tâm sớm hoàn thành công tác này nhằm đưa biên giới hai nước thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

2. Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế 

Sau Chiến tranh lạnh, Việt Nam - Lào - Campuchia đã nhanh chóng cải thiện quan hệ với các nước ASEAN và đều gia nhập ASEAN (Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, Lào năm 1997 và Campuchia năm 1999). Quan hệ hữu nghị và hợp tác không chỉ dừng lại ở cấp độ song phương, ba nước còn hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Ba nước đã tham gia những cơ chế, giải pháp hữu hiệu, có khả năng ngăn ngừa xung đột, tạo điều kiện thuận lợi xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước thành viên ASEAN. Từ đó, góp phần thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế mỗi nước, củng cố độc lập chủ quyền quốc gia và thúc đẩy liên kết khu vực trên các lĩnh vực. Đến nay, ba nước cùng các nước ASEAN thực hiện tương đối hiệu quả nhiều thỏa thuận, như: “Tuyên bố về ZOPFAN” (1971), “Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á- TAC”, “Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN” (1976), “Tuyên bố về Biển Đông” (1992), “Diễn đàn khu vực - ARF”(1993), “Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân - SEANWFZ” (1996), “Tầm nhìn ARF 2020”, Đối thoại Shangri - La; Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Tư lệnh quốc phòng không chính thức ASEAN, Hội nghị cấp tư lệnh quân chủng ASEAN... Ba nước đã tham gia 26 tổ chức/diễn đàn đa phương về an ninh, như: Hội nghị những người đứng đầu cơ quan an ninh các nước ASEAN (MACOSA), Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC), Hiệp hội Cảnh sát quốc gia Đông Nam Á (ASEANPOL)... “Tuyên bố về ứng xử Biển Đông - DOC” (2002) và Tuyên bố ASEAN II (10-2003) với “Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015”, trong đó có sáng kiến xây dựng Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC) và Hiến chương ASEAN năm 2007. Ba nước cũng tham gia những văn kiện quan trọng hàng đầu của hiệp hội, tạo khung pháp lý và thể chế hỗ trợ ASEAN gia tăng liên kết khu vực và xây dựng Cộng đồng ASEAN (AC). Tuyên bố nguyên tắc sáu điểm của ASEAN về Biển Đông (tháng 7-2012) đã thể hiện quan tâm chung và cách tiếp cận chủ đạo của Hiệp hội đối với các vấn đề trên Biển Đông, đồng thời cũng cho thấy các nước thành viên ASEAN đồng thuận trong xây dựng, thúc đẩy đối thoại và hợp tác về tất cả các nội dung trao đổi trong khu vực. Tháng 8-2017, Việt Nam, Lào, Campuchia cùng với các nước liên quan đến biển Đông đã ký thỏa thuận tiến tới ký kết một bộ quy tắc ứng sử (COC) để đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Ngày 18-11-2012 tại Campuchia, ba nước cùng với các nước ASEAN đã ký “Tuyên bố Nhân quyền ASEAN - AHRD” nhằm tạo khuôn khổ tăng cường hợp tác và thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.

Những nỗ lực hợp tác chính trị - an ninh của ba nước cùng cộng đồng  ASEAN trong giai đoạn hiện nay được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau : 1) Tăng cường hợp tác trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông; 2) Củng cố ARF thành công cụ hiệu quả bảo đảm an ninh khu vực; 3) Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên; 4) ASEAN tiến hành sửa đổi TAC, cố gắng đưa các nước lớn vào khuôn khổ khu vực; 5) Hợp tác phòng chống buôn bán ma túy xuyên biên giới ba nước, thực hiện mục tiêu một ASEAN không ma túy, kiên định lộ trình hướng tới tầm nhìn xây dựng Cộng đồng ASEAN không ma túy sau năm 2020 và coi đây là mục tiêu ưu tiên cao của cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Ngoài ra, ba nước còn tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên hợp tác về thực thi pháp luật, hợp tác tư pháp, giảm cầu ma túy, giảm lây nhiễm HIV/AIDS, phát triển thay cây và huy động các nguồn lực(3); củng cố, tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các văn phòng liên lạc qua biên giới (BLO) và hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cơ quan chuyên trách, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng của các bên trong việc đi lại qua biên giới; 6) Việt Nam - Lào - Campuchia cùng với các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN (ASC - 2015), với mục tiêu chính là nâng hợp tác an ninh và chính trị ASEAN lên tầm cao mới, bảo đảm các nước ASEAN chung sống hòa bình với toàn thế giới trong môi trường công bằng, dân chủ và hài hòa, góp phần đưa ASEAN từ một Hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ chặt chẽ với mức độ liên kết cao, trên cơ sở pháp lý của Hiến chương chung.

Sự hợp tác đặc biệt Việt Nam - Lào - Campuchia trên lĩnh vực chính trị - an ninh, quốc phòng, biên giới  có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố tình đoàn kết hữu nghị và tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN, góp phần củng cố những nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ giữa các nước ASEAN vì sự nghiệp hòa bình và phát triển thịnh vượng của Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam - Lào - Campuchia cũng có sự phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế như: Liên Hợp quốc, Tổ chức Pháp ngữ, Phong trào không liên kết...

3. Phương hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng  

a. Phương hướng

Một là, thúc đẩy và đa dạng hóa các hoạt động trong khuôn khổ hợp tác chính trị - ngoại giao. Trong quan hệ ba nước không được hạ thấp, coi nhẹ các mối quan hệ quốc tế khác. Quan hệ Việt Nam - Lào -Campuchia cần duy trì và phát triển nhưng phải bảo đảm nguyên tắc: vừa giữ đúng những quy định, thông lệ quốc tế vừa ưu tiên hoàn cảnh riêng. Đặc biệt, phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, tự nguyện, cùng có lợi. Phương hướng nhiệm vụ hợp tác trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao bao gồm: duy trì bền vững mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt - Lào - Campuchia; phát triển sâu sắc và toàn diện quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có ở cấp lãnh đạo của ba nước, mở rộng và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị đoàn kết tại các địa phương, cơ sở, nhất là thế hệ trẻ. Đồng thời, tăng cường giao lưu nhân dân và thanh niên giữa ba nước và các nước ASEAN; mở rộng quan hệ đối ngoại, coi trọng quan hệ bạn bè truyền thống v.v.

Hai là, tiếp tục trao đổi ý kiến về những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm; tăng cường hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển thịnh vượng; khẳng định tiếp tục hợp tác và phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, như: Liên Hợp quốc, Tổ chức Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, ASEM, Tiểu vùng Mêkông, Hành lang Đông Tây, Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia...

Ba là,tăng cường phối hợp, trao đổi kinh nghiệm và thông tin về an ninh - quốc phòng, chống lại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, chia rẽ quan hệ ba nước. Chú trọng hơn nữa công tác chuyên gia, tham mưu về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tổ chức, quản lý, xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích và quân dự bị động viên với bạn. Giúp nhau xây dựng vững chắc thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Cần bố trí phối hợp chặt chẽ lực lượng biên phòng ba nước, đặc biệt là kinh nghiệm truy bắt tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm ma túy. Đẩy mạnh hợp tác mọi mặt giữa các tỉnh có chung biên giới, cùng nhau xây dựng đường biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia thành đường biên giới hữu nghị, hợp tác, phát triển toàn diện, bền vững lâu dài.

b. Một số giải pháp

Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương

Việt Nam - Lào - Campuchiacần bổ sung, sửa đổi các chính sách, luật lệ để khuyến khích và tạo thuận lợi cho quá trình hợp tác ba nước. Bên cạnh việc quan tâm đến hiệu quả cụ thể, ba nước cần chú trọng đến những vấn đề chiến lược lâu dài, trước mắt cần quan tâm đến hiệu quả tổng hợp (lấy đại cục làm trọng). Về chính trị, ba nước tiếp tục duy trì định kỳ các cuộc tiếp xúc cấp cao; khuyến khích việc giao lưu giữa các ngành, các cấp, các địa phương; phối hợp trao đổi lý luận và thực tiễn về phát triển và bảo vệ đất nước trong bối cảnh mới. Về đối ngoại, ba nước cần tăng cường các cuộc hội đàm, ủng hộ lẫn nhau trên những diễn đàn khu vực và quốc tế, tiếp tục phối hợp chặt chẽ ở các diễn đàn đa phương, nhất là các hoạt động tại Liên Hợp quốc, ASEAN, Tiểu vùng Mekong, nhóm công tác phát triển 3 vùng biên giới và các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương, khu vực, quốc tế.

Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế

Ba nước cần thống nhất trong quyết tâm chung và hành động mạnh mẽ nhằm hoàn thành đúng hạn và hiệu quả các kế hoạch hợp tác trên cả ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh kết nối ASEAN và thúc đẩy phát triển đồng đều, bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển; đồng thời, tăng cường ý thức và hành động vì một Cộng đồng chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau giữa chính phủ và người dân các nước trong khu vực. Việt Nam - Lào - Campuchia đẩy mạnh hợp tác và hỗ trợ trong khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, như: Liên Hợp quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Chương trình phát triển tiểu vùng Mêkông (GMS), hợp tác 3 dòng sông (ACMECS); hợp tác 4 nước (Lào - Campuchia, Việt Nam - Mianma) và các dự án khu vực khác trong khuôn khổ ASEAN như đường sắt, đường bộ xuyên Á, chương trình “Tam giác phát triển Việt Nam -Lào - Campuchia”...

Việt Nam - Lào - Campuchiagiữ vững các nguyên tắc cơ bản, đoàn kết, thống nhất song song với chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề, nhất là các thách thức đối với hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển ở khu vực. Các tiến trình đối thoại về xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử và ngăn ngừa xung đột cần được tiếp tục thúc đẩy. Các cam kết đã được quy định trong các văn kiện, như: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)... cần thực hiện nghiêm túc, các khác biệt tranh chấp cần được giải quyết hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và tinh thần đoàn kết ASEAN.

Việt Nam - Lào - Campuchiakhông ngừng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với các đối tác bên ngoài. Chủ động tạo điều kiện và khuyến khích các đối tác tham gia xây dựng và đóng góp tích cực vào các mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực cũng như hỗ trợ thiết thực cho ASEAN xây dựng cộng đồng, tăng cường liên kết và kết nối, ứng phó với các thách thức đang đặt ra. Để giữ vững được vai trò trung tâm và vị thế của hiệp hội ở khu vực, Việt Nam - Lào - Campuchiacùng với ASEAN cần chú trọng củng cố đoàn kết, duy trì lập trường, tiếng nói chung trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm và có lợi ích.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) “Campuchia tiếp tục phát triển vì lợi ích của nhân dân”, http: vov.vn.

(2) “Campuchia và Lào tăng cường hợp tác song phương”, http: nhandan.com.vn.

(3) “Tăng cường chia sẻ thông tin phối hợp bắt giữ tội phạm ma túy”, http: nhandan.com.vn.

 

PGS, TS Nguyễn Thị Quế

ThS Nguyễn Thị Minh Thảo

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác