Trang chủ    Quốc tế    Xu hướng phát triển mới của nền kinh tế thế giới và những điều chỉnh của các nhà nước quốc gia
Thứ tư, 19 Tháng 6 2013 14:46
2936 Lượt xem

Xu hướng phát triển mới của nền kinh tế thế giới và những điều chỉnh của các nhà nước quốc gia

(LLCT)-Thế giới và Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải giải quyết nhiều vấn đề lớn, phức tạp, kéo dài và liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cả cấp vĩ mô và vi mô. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm gần đây càng tạo thêm sức ép và bộc lộ cơ hội giải quyết những vấn đề yếu kém hiện tồn. Nằm trong khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thế giới, Việt Nam không thể không chịu tác động của những xu hướng phát triển kinh tế quốc tế. Những xu hướng này tạo ra nhiều cơ hội, song có cả những thách thức to lớn cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế.

1. Thế giới sau khủng hoảng 2008 và những xu hướng phát triển mới

Gần 5 năm kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bắt đầu (2008), hiện trạng của nền kinh tế toàn cầu vẫn ảm đạm. Các biện pháp, chính sách được thực thi, song bức tranh kinh tế thế giới vẫn hiện hữu với gam màu xám chủ đạo. Tiến trình phục hồi của các nền kinh tế phát triển tiếp tục trì trệ, còn các nền kinh tế mới nổi và các nước thu nhập thấp tuy vượt qua khủng hoảng kinh tế tương đối nhanh nhưng lại rất dễ bị tổn thương do các cú sốc kinh tế từ bên ngoài. Kinh tế Mỹ phục hồi chậm và chưa thấy rõ chiều hướng tăng trưởng được cải thiện, trong khi cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đang tiếp tục bào mòn lòng tin của giới đầu tư. Nguy cơ một cuộc suy thoái mới thậm chí còn tồi tệ hơn cuộc khủng hoảng đã qua vẫn còn hiện hữu.

Cùng với gam màu xám chủ đạo trong bức tranh kinh tế thế giới là tình trạng bất ổn chính trị - xã hội đang có chiều hướng gia tăng. Có thể nói, hệ lụy từ cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu diễn ra từ 2008 đến nay là vô cùng lớn; mức độ tác động, ảnh hưởng của nó tới mỗi quốc gia, khu vực là chưa thể lường hết.

Trong báo cáo về triển vọng kinh tế thế giới được công bố ngày 22-5-2012, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cảnh báo, khủng hoảng tại Eurozone đang đe dọa nền kinh tế thế giới. OECD dự đoán, kinh tế Eurozone không tăng trưởng trong năm 2012 mà thậm chí còn giảm 0,1% và là nguy cơ lớn nhất đe dọa tăng trưởng của kinh tế thế giới(*).

Các số liệu thống kê cho thấy, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Eurozone đã giảm liên tiếp trong hai quý cuối năm 2011 và quý đầu năm 2012, lần lượt ở mức 0,3% và 0,2%. Trong khi đó, nợ công của 17 nước thuộc
Eurozone đã tăng lên 87,2% GDP, mức cao nhất kể từ năm 1999. Theo cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat), tỷ lệ thất nghiệp tại
Eurozone hiện ở mức 10,9%, cao nhất kể từ khi đồng euro được đưa vào sử dụng năm 1999. Trong đó, tính đến tháng 4-2012 là tháng thứ 12 tỷ lệ này tăng liên tiếp, khoảng 17,4 triệu lao động nam và nữ tại Eurozone ở trong tình trạng thất nghiệp.

Là nền kinh tế lớn nhất thế giới nhưng kinh tế Mỹ chỉ đạt mức tăng trưởng 1,9% trong ba tháng đầu năm 2012. Bộ Lao động Mỹ cho biết số việc làm chỉ tăng nhẹ trong tháng 4-2012 và lượng đơn xin nhận trợ cấp thất nghiệp đã gia tăng đáng kể. Điều này rất có thể là khởi nguồn cho sự suy thoái lớn trong thị trường việc làm kể từ mốc tăng trưởng mạnh hồi đầu năm 2011. Trong khi nợ của Chính phủ vẫn tiếp tục tăng lên thì khu vực tư nhân đã hoàn trả phần lớn các khoản nợ và giúp kéo chậm lại tốc độ tăng của nợ chính phủ. Tổng nợ đã được giảm từ mức 373% GDP xuống còn 336% GDP. Nợ ở mức thấp là cần thiết cho tăng trưởng, nhưng nợ ở mức quá cao sẽ làm tổn hại nền kinh tế. Nợ tăng sẽ làm giảm tăng trưởng trong dài hạn và thậm chí tạo nên bong bóng trong ngắn hạn.

Đối với Trung Quốc, cho dù kiểm soát lạm phát thành công nhưng nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này vẫn có nhiều khả năng “tụt dốc”. Mặc dù kinh tế vẫn tiếp tục phát triển, nhưng công nhân xây dựng vẫn thất nghiệp hàng loạt và chỉ số tiêu dùng tháng 5-2012 giảm xuống 3% - mức thấp nhất trong hơn 3 năm qua. Lượng đầu tư vào bất động sản ở mức thấp nhất kể từ năm 2001. Thống kê của Chính phủ cho thấy giá nhà của hơn 50% trong tổng số 70 đô thị lớn tại Trung Quốc đều đã sụt giảm. Kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 8,1% trong quý I/2012, giảm so với quý IV/2011.

Kinh tế Nhật Bản trong quý I năm nay tăng trưởng nhanh hơn dự báo. Chính phủ Nhật Bản đã điều chỉnh nhịp độ tăng trưởng trong quý I/2012 (so với quý trước đó) từ 1% ban đầu lên 1,2%. So với cùng kỳ năm ngoái, kinh tế Nhật Bản tăng 4,7%, cao hơn con số 4,1% dự báo trước đó nhờ nhu cầu trong nước tăng và xuất khẩu ô tô phục hồi. Tuy vậy, động lực chủ yếu cho quá trình phục hồi của kinh tế Nhật Bản hiện nay chính là các chương trình chi ngân sách của Chính phủ cho việc tái thiết các khu vực bị động đất - sóng thần tàn phá.

Tác động ở mức nguy hiểm của khủng hoảng ở Eurozone đối với châu Á là do những quan hệ tài chính và thương mại chặt chẽ giữa hai khu vực. Các nền kinh tế châu Á mới nổi vẫn phải đối mặt với nguy cơ từ các dòng vốn quá biến động hoặc quá mạnh, hoặc kết hợp cả hai hiểm họa này. Nếu các thị trường liên ngân hàng toàn cầu bị tê liệt và các ngân hàng châu Âu bị rối loạn thì nguồn cung tín dụng cho châu Á sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, các nền kinh tế châu Á cũng phải đối mặt với biến động về giá cả hàng hóa và lương thực. Căng thẳng địa chính trị có thể đẩy giá dầu tăng cao và điều này tác động đến các nền kinh tế châu Á phụ thuộc vào nhập khẩu dầu. Giá dầu sẽ tác động đến giá các hàng hóa khác và giá lương thực, dẫn đến lạm phát cao ở hầu hết các nền kinh tế châu Á. Tuy nhiên, theo dự báo, các nền kinh tế châu Á cũng sẽ có được động lực phát triển mới vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013. Dự báo này dựa trên cơ sở phối hợp giữa tốc độ tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế mới nổi ở châu Á và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn của các quốc gia có nền kinh tế công nghiệp phát triển của châu lục này.

Từ bối cảnh trên, khi nhận định tổng quát về nền kinh tế thế giới tính đến thời điểm
năm 2012 và dự báo cho năm 2013, Giáo sư
N. Roubini (New York, Mỹ), đã cảnh báo nền kinh tế thế giới đang đứng trước những nguy cơ mới: "Hiện đã thấy rõ những dấu hiệu của sự suy yếu, trong khi các nước tiếp tục đi trên con đường gia tăng nợ của nhà nước và của tư nhân. Chậm nhất là vào năm 2013, tất cả các khoản nợ nần này sẽ cho thấy hậu quả của nó. Cơn bão kinh tế toàn diện có thể đổ ập xuống kinh tế thế giới vào năm 2013"(1). Theo IMF, các nước phát triển vẫn phải tiếp tục đối mặt với “núi nợ” do tỷ lệ nợ/GDP năm 2013 được dự báo là sẽ chạm mức 109% - tỷ lệ cao nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. 

Như vậy, có thể thấy rằng kinh tế thế giới hiện đang và sẽ tiếp tục chịu tác động của những yếu tố tiêu cực, trong đó có quá trình tái cấu trúc nợ ở châu Âu, tốc độ tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc và những vấn đề tài chính khó khăn của Mỹ.

 Hiện thực trên được nhìn nhận ở nhiều phương diện khác nhau và cũng được lý giải với nhiều căn nguyên, song đều có những nhìn nhận khá căn bản rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi phát từ cuối năm 2007, đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay là hiện thân của sự bất ổn nghiêm trọng mang tính cấu trúc của nền kinh tế thế giới và mô hình phát triển kinh tế thị trường thiên lệch, kém bền vững mà hầu hết các nước đang theo đuổi lâu nay. Thế giới dường như đang chứng kiến một sự thất bại "kép" của cơ chế kinh tế thị trường và nhà nước với chức năng quản lý kinh tế.

Từ hiện trạng trên cho thấy sự tất yếu của những thay đổi trong xu hướng phát triển nền kinh tế thế giới và xu hướng đó có thể ở những khía cạnh sau:

- Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đương đại, các nền kinh tế thế giới có xu hướng gắn kết nhau cùng phát triển, theo đó duy trì đối thoại mở được cho là có hiệu quả với tất cả các quốc gia, các nền kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế thế giới phục hồi và phát triển bền vững.

-  Ưu tiên tạo việc làm là lựa chọn mà các quốc gia, khu vực và toàn thế giới hướng đến. Bởi hiện tại, thất nghiệp đang là thách thức lớn nhất đối với mọi nền kinh tế trong bối cảnh hơn 200 triệu người trên thế giới thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của người ở lứa tuổi thanh niên là đặc biệt nghiêm trọng. Nếu không giải quyết được thách thức này sẽ khó thúc đẩy sản xuất, phục hồi kinh tế và tạo sự ổn định cho phát triển.

- Còn có những tranh luận xen lẫn những bất đồng trong các chương trình nghị sự khu vực, quốc tế và có cả những mâu thuẫn địa chính trị - kinh tế ở từng khu vực, cũng như thế giới. Song, các quốc gia, các nền kinh tế đều trực tiếp hoặc gián tiếp kỳ vọng hình thành một thể chế quốc tế mà thể chế đó có thể "thiết kế" một chiến lược mang lại lợi ích cho cả hiện tại lẫn tương lai và có lợi cho sự ổn định và tăng trưởng.

- Để có sự ổn định và tăng trưởng cho nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng thì việc thiết lập các thể chế quốc tế mới đang là một đòi hỏi khách quan và thể chế quản trị toàn cầu mới sẽ là một tổ chức quốc tế hoạt động độc lập, không chịu sự chi phối của bất kỳ một thế lực kinh tế, chính trị nào. Thể chế đó hướng đến mục tiêu một nền kinh tế thế giới phát triển trong sự phụ thuộc lẫn nhau, ổn định, bền vững và hiệu quả trên tinh thần hợp tác cùng phát triển. Phối hợp điều tiết kinh tế giữa các nhà nước sẽ là hoạt động phổ biến chi phối vai trò điều tiết kinh tế của các nhà nước quốc gia, nhưng ở thế cân bằng, bình đẳng và hài hòa hơn trong quan hệ giữa các nước, trong đó sự phối hợp Đông - Tây trong quản trị toàn cầu sẽ được tăng cường thay dần vị trí độc tôn quản trị thế giới của phương Tây.

- Trải qua những diễn biến của khủng khoảng và phân tích căn nguyên của nó, các thể chế kinh tế quốc tế đang thúc đẩy mạnh mẽ những cải tổ mạng an toàn tài chính quốc tế mà chính cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính vừa qua đã làm nó suy biến. Đồng thời, bản thân mỗi nền kinh tế quốc gia cũng đang hướng tới những cải tổ cần thiết đối với hệ thống tài chính quốc gia nhằm đảm bảo sự ổn định và an toàn cần thiết.

- Qua khủng hoảng, cả thế giới đều có chung nhận thức rằng, để phát triển ổn định, bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thế giới cần khu vực tài chính mạnh và an toàn hơn thông qua các quy chế hợp tác tốt hơn, cũng như cần phối hợp thực hiện hiệu quả hơn các thỏa thuận đã đạt được trong các lĩnh vực thiết yếu như quy chế dẫn xuất, giải quyết hiệu quả hoạt động của các ngân hàng xuyên biên giới.

- Để phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng, mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia sẽ có những cách thức riêng, song mỗi nền kinh tế đều ít nhiều phải quan tâm tới 5 vấn đề: một là, cần thận trọng thúc đẩy chính sách tài chính khắc khổ do phục hồi kinh tế vẫn mong manh và thất nghiệp còn cao; hai là, thiết lập chính sách tạo thêm việc làm và thúc đẩy thay đổi cơ cấu nhằm duy trì tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn; ba là, xây dựng các thỏa thuận về quy mô, tốc độ và thời điểm nới lỏng các chính sách tài chính để xử lý một cách linh hoạt có hiệu quả trong điều kiện mất cân bằng kinh tế thế giới; bốn là, các nước đang phát triển cần đảm bảo đủ các nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển lớn; năm là, các nền kinh tế lớn cần tìm ra các biện pháp để thúc đẩy phối hợp chính sách hiệu quả và tin cậy vì sự phát triển chung của kinh tế toàn cầu.

2. Nhà nước quốc gia với những đối sách chiến lược

Sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế đều trực tiếp hoặc gián tiếp được quyết định bởi nhà nước, quốc gia, sự quyết định đó được thực hiện qua những chính sách, chiến lược mà mỗi quốc gia xây dựng nên trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển. Thực tế đối phó với các cuộc khủng hoảng kinh tế hay khi đất nước phải đối diện với những vấn đề lớn, giải pháp trước tiên được áp dụng một cách phổ biến ở hầu hết các quốc gia là sự can thiệp của nhà nước. Nhà nước can thiệp ở các cấp độ khác nhau - cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.

Ở cấp độ quốc gia, các nhà nước thường nỗ lực thực hiện vai trò của mình thông qua những chính sách điều tiết vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, đầu tư hoặc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho từng lĩnh vực theo các mức ưu tiên hoặc phối hợp các điều tiết đó. Mục tiêu mà những điều tiết của nhà nước hướng đến trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế là tạo điều kiện tiên quyết cho sự ổn định của nền kinh tế quốc gia trên cơ sở những điều chỉnh cục bộ hay điều chỉnh tổng thể và những cải cách đối với nền kinh tế. Một mặt, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế, mặt khác, chấn chỉnh cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng bền vững.       

Ở cấp độ khu vực, nhiều quốc gia đề xuất những ý tưởng phối hợp với nhau để tạo thành một sức mạnh tổng hợp vượt qua khủng hoảng. Phương châm xử thế của các nước trong những thiết chế khu vực (như EU, ASEAN) là tự cứu mình trước. Vì vậy, thông thường khi phải đối diện với các cuộc khủng hoảng, ý tưởng về những thể chế tài chính - tiền tệ cho khu vực hoặc những thoả thuận song phương hay giữa các bộ trưởng kinh tế về những quan hệ kinh tế trong phạm vi khu vực sẽ được hình thành. Chẳng hạn, nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997,  các tổ chức Quỹ tín dụng châu Á, Ngân hàng thanh toán bù trừ đa biên ASEAN đã được thành lập, bên cạnh đó còn có thoả thuận giữa các bộ trưởng tài chính các nước ASEAN về khuyến khích sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán các giao dịch thương mại nội bộ ASEAN...  Đồng thời với những nỗ lực trên là các cố gắng khác nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế nội khối, khu vực để giảm bớt các khó khăn do khủng hoảng gây ra như trao đổi hàng lấy hàng, thúc đẩy hợp tác đầu tư trong khu vực, xúc tiến hình thành các cơ chế giám sát, trao đổi thông tin, tư vấn kỹ thuật... giữa các cơ quan tài chính - tiền tệ của khu vực.

Ngoài ra, các quốc gia trong khu vực, có thể không nằm trong các thiết chế khu vực song do những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau cũng thường đóng góp về những khoản tài chính hoặc những hỗ trợ kỹ thuật nhằm góp phần ổn định của khu vực. Thí dụ, trong khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997, Trung Quốc đã triển khai những cải cách và giải pháp “tự vệ” và nhiều lần cam kết “không phá giá đồng nhân dân tệ” để bớt đi một nguy cơ tiềm tàng làm bùng nổ làn sóng phá giá mới trong khu vực; Nhật Bản cũng có những động thái nhằm cứu vãn hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn của họ, mở cửa từng bước thị trường hàng hoá và tài chính nhằm tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước và khu vực...

Ở cấp độ quốc tế, tùy vào vị trí, vai trò của mình mà các nhà nước có thể tham gia vào các diễn đàn hợp tác quốc tế ở những mức độ khác nhau. Các ứng phó khủng hoảng thường được thực hiện bởi sự hỗ trợ tài chính khẩn cấp và to lớn của cộng đồng quốc tế thông qua vai trò tổ chức, điều phối và giám sát của các tổ chức quốc tế như IMF, WB, OECD..., sự hỗ trợ này thông thường có hiệu lực tức thì và khá mạnh nhằm chế ngự khủng hoảng, tránh sự đổ vỡ lan rộng và hậu quả kéo dài cả ở trong và ngoài mỗi nước. Cả khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á và khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, IMF đã nổ lực hết mình để thực hiện vai trò “giải cứu” nền kinh tế thế giới.

Vai trò của các nhà nước ở cấp độ quốc tế còn là việc tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế thông qua những thoả thuận về việc hoãn nợ, đảo nợ, đảm bảo nợ nhằm cải thiện tình trạng nợ nần của quốc gia trong hoàn cảnh đất nước đang trong khủng hoảng. Bên cạnh đó là nỗ lực để mở rộng thị trường xuất khẩu đến các nước khác nhằm cải thiện cán cân xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán và thu nhập ngoại hối.

Trong bối cảnh hiện nay, để tìm giải pháp phục hồi đi vào ổn định và phát triển hiệu quả sau khủng hoảng trong điều kiện toàn cầu hóa, mỗi nền kinh tế, ngoài việc phát huy những nguyên tắc can thiệp ở các cấp độ, mỗi nhà nước quốc gia cần thực hiện sứ mệnh của mình trên các phương diện như: đảm bảo ổn định vĩ mô; thiết lập một hệ thống thể chế và chính sách vĩ mô hữu hiệu phù hợp với xu hướng phát triển mới của thế giới; đảm bảo sự vững chắc của ngân sách quốc gia, coi chính sách ngân sách như một công cụ quan trọng để điều chỉnh kinh tế vĩ mô; chính sách tiền tệ - tín dụng, ngân hàng trung ương, công cụ lãi suất sẽ là những công cụ chính trong điều chỉnh kinh tế vĩ mô; kiểm soát, giám sát và dự báo ngày càng trở nên quan trọng hơn với các nhà nước quốc gia.

3. Gợi ý lựa chọn điều chỉnh cho Việt Nam

Thế giới và Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải giải quyết nhiều vấn đề lớn, phức tạp, kéo dài và liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cả cấp vĩ mô và vi mô. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm gần đây càng tạo thêm sức ép và bộc lộ cơ hội giải quyết những vấn đề yếu kém hiện tồn. Nằm trong khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thế giới, Việt Nam không thể không chịu tác động của những xu hướng phát triển kinh tế quốc tế. Những xu hướng này tạo ra nhiều cơ hội, song có cả những thách thức to lớn cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế.

Những cơ hội Việt Nam có được là: bối cảnh địa kinh tế - chính trị hiện nay bảo đảm môi trường đối ngoại hòa bình để Việt Nam có thể tập trung các nguồn lực trong nước cho công cuộc phát triển kinh tế, tăng khả năng đẩy nhanh tốc độ, nâng cao hiệu quả và giảm chi phí thực hiện quá trình CNH, HĐH đất nước; sẽ có cơ hội tham gia bình đẳng và nâng cao vị thế đất nước trong các giao lưu và quan hệ kinh tế quốc tế, tiếp cận, nắm bắt các công nghệ tiên tiến để hiện thực hóa mục tiêu đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách tụt hậu; phát triển trong hội nhập quốc tế, sẽ là điều kiện thúc đẩy quá trình cải thiện sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp của toàn bộ nền sản xuất Việt Nam lên mức cao hơn; thị trường quốc gia cũng sẽ được mở rộng hơn; sự tương tác giữa thể chế, chính sách nền kinh tế thị trường quốc gia với các chuẩn mực khu vực, quốc tế sẽ giúp hoàn thiện thể chế thị trường quốc gia theo những chuẩn mực và thông lệ khu vực và quốc tế, giúp thể chế nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trở nên mạnh hơn, hiệu quả hơn.

Bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng phải đối diện với không ít thách thức. Thách thức lớn nhất và đang trực diện là nguy cơ tụt hậu ngày càng xa giữa Việt Nam với các nước. Việt Nam dường như chưa có được sự rõ ràng, quyết liệt và một chiến lược mang tính khoa học và thiết thực nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu. Cơ hội để vượt lên và “tăng tốc” sau khủng hoảng dường như là “chia đều” với mọi quốc gia, song trên thực tế thì Việt Nam đang rất bị động trong ứng phó với các ảnh hưởng, tác động từ khủng hoảng, dường như chưa có sự chuẩn bị, sẵn sàng chủ động vượt qua khủng hoảng, cũng như để xúc tiến mạnh hơn công cuộc chuyển đổi nền kinh tế. Trong khi đó, nền kinh tế vẫn vận hành một cách “yếu ớt” với bộn bề những khó khăn và những vấn đề mới nảy sinh. Hiện thực này, nếu đem so với những gì mà các nước có nền kinh tế chuyển đổi khác ở Đông Á, Đông và Trung Âu đã đạt được, so với những nước đang phát triển Mỹ Latinh đang vươn tới, thì bức tranh toàn cảnh về nguy cơ tụt hậu càng rõ nét hơn.

Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức to lớn khác là cùng một lúc phải đối diện với ba vấn đề cấp bách, thực chất là ba yếu kém, là: pháp luật và năng lực thể chế; hệ thống kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực. Việc kiểm soát tăng trưởng và bảo đảm an toàn trong hội nhập cũng là một thách thức mới và ngày càng trở nên quan trọng trong tương lai. Do vậy, để bước đường phát triển tiếp theo của đất nước có được những kết quả như kỳ vọng - cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 và hướng đến mục tiêu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại và mang tính định hướng XHCN, thiết nghĩ, Đảng và Nhà nước cần có những quan tâm thỏa đáng trên các khía cạnh sau:

Một là, phải có những điều chỉnh thích hợp các cân đối vĩ mô của nền kinh tế (cân đối tích lũy - đầu tư và tiêu dùng, thu và chi ngân sách, cân đối đầu tư sản xuất và đầu tư phát triển; nợ nước ngoài và nợ trong nước, cơ cấu mỗi loại nợ), cũng như các quan hệ chính trị - xã hội.

Hai là, cần có những điều chỉnh các quan hệ đối ngoại (cả kinh tế và chính trị) phù hợp lợi ích chiến lược của quốc gia, đồng thời tiệm cận với những chuyển dịch về tương quan lực lượng kinh tế - chính trị thế giới, chú ý đến các xu hướng phát triển.

Ba là, từng bước hình thành một cách rõ ràng và chủ động lộ trình phát triển và hội nhập của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, các phương diện. Tránh tình trạng mọi thứ đều chung chung và tình trạng khi phát sinh vấn đề cụ thể, cục bộ thì bị động, lúng túng và hệ quả là nguy cơ mất kiểm soát hệ thống, tổng thể.

Bốn là, trong định hướng chiến lược phát triển đất nước ngoài việc chủ động trong hội nhập cần tiến đến đạt mục tiêu phát triển bền vững với một nền kinh tế xanh, sạch, hiệu quả và vì mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

 

(1) Roubini: Năm 2013 kinh tế thế giới đi về đâu, http://www.baotintuc.vn

(*) Các số liệu trong bài viết dẫn theo Tạp chí Tài chính và Phát triển, số tháng 6 - 2012 của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

 

PGS, TS Phạm Thị Túy

GS, TS Phạm Quốc Trung

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác