Trang chủ    Quốc tế    Việt Nam cần làm gì khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN
Thứ năm, 27 Tháng 2 2020 16:40
309 Lượt xem

Việt Nam cần làm gì khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN

(LLCT) - Từ khi gia nhập tổ chức ASEAN, Việt Nam đã chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào các hoạt động chung của ASEAN góp phần tạo dựng, phát huy các khuôn khổ bảo đảm an ninh cho khu vực, như: Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố Bali về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi,... Trong thời gian tới, để Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò của mình khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, bài viết đưa ra 3 khuyến nghị về chính sách.

Sau hơn 5 thập kỷ xây dựng và phát triển, ASEAN đã chuyển hóa căn bản về chất mà bằng chứng rõ rệt nhất là sự ra đời Cộng đồng ASEAN vào ngày 31-12-2015 dựa trên ba trụ cột: cộng đồng chính trị - an ninh (APSC), cộng đồng kinh tế (AEC) và cộng đồng văn hóa - xã hội (ASCC). Các nước ASEAN thống nhất rằng, vai trò trung tâm của tổ chức trong cấu trúc khu vực là điều kiện cần thiết để bảo đảm độc lập, chủ quyền, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phát triển cho các nước trong khu vực. Để có thể phát huy vai trò đó, ASEAN cần phải là một tổ chức thống nhất, có thực lực và có tiếng nói chung mạnh mẽ. Tuy không phải là thành viên sáng lập, nhưng từ khi gia nhập tổ chức khu vực này, Việt Nam đã ngày càng trưởng thành, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào các hoạt động chung của ASEAN với tinh thần trách nhiệm, được các nước đánh giá cao. Trong ASEAN, Việt Nam góp phần tạo dựng, phát huy các khuôn khổ bảo đảm an ninh cho khu vực, như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố Bali về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi,...

Trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, Việt Nam cần:

Một là, chủ động phát huy vai trò nòng cốt, đi đầu trong ASEAN cùng các thành viên thúc đẩy bản sắc và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang hình thành.

Trong thời gian qua, cộng đồng quốc tế đã chứng kiến sự chuyển đổi đáng kể trong sự phát triển của ASEAN. Việc xây dựng cộng đồng ASEAN, xây dựng vị thế của ASEAN trong khu vực và toàn cầu cũng luôn có sự đóng góp đáng kể và quan trọng của Việt Nam. Trong những năm gần đây, ASEAN đứng trước nhiều khó khăn, thách thức liên quan đến sự cạnh tranh của các nước lớn, sự khác biệt trong nhận thức, lợi ích và ứng xử, Việt Nam đã nỗ lực củng cố đoàn kết, thống nhất vai trò của ASEAN trong các vấn đề khu vực và xử lý những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cũng như những vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các đối tác; đồng thời thúc đẩy hợp tác thực tiễn trong các cơ chế, diễn đàn khu vực quan trọng do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như EAS, ADMM+... ASEAN luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Năm 2020, Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch ASEAN trong bối cảnh có sự nhiều thay đổi trong khu vực: cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc, tranh chấp ở Biển Đông... Các vấn đề nội khối và ngoại khối cùng các lo ngại an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng đang là những thách thức cho tính đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN. Do đó, những công việc nội bộ trong nước và trong Cộng đồng mà Việt Nam cần làm là: tích cực, chủ động trong công tác chuẩn bị, đặc biệt là tham khảo ý kiến giới chuyên gia, nghiên cứu giới hoạch định chính sách về các sáng kiến thúc đẩy bản sắc và vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực; xây dựng và củng cố đồng thuận giữa các bộ, ngành trong công tác chuẩn bị cho Năm Chủ tịch ASEAN 2020; tìm hiểu các cơ hội thúc đẩy kết nối, trao đổi, hợp tác giữa các bộ, ngành Việt Nam với các đối tác chủ chốt của ASEAN trong việc tăng cường vai trò của ASEAN và Việt Nam. Hoạt động này còn giúp nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam, tạo đồng thuận xã hội trong nước để thúc đẩy những nỗ lực mới về xây dựng Cộng đồng ASEAN. Nói cách khác, Việt Nam cần chủ động dẫn dắt để ASEAN không những vững mạnh về mặt nội bộ, mà còn phải tăng thêm uy tín ở khu vực và toàn cầu. Năm 2020 cũng là năm đầu tiên của nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, đây là trọng trách rất lớn, “trọng trách kép” cũng là cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam thúc đẩy việc tăng cường hợp tác giữa Liên Hợp quốc với các tổ chức khu vực, tiểu khu vực trong đó gồm cả ASEAN. Do đó, nếu trong năm 2020, Việt Nam đưa ra tuyên bố giúp định rõ tầm nhìn của ASEAN, cho thấy sự khác biệt và tương đồng với hai sáng kiến Vành đai Con đường của Bắc Kinh (BRI) và Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Washington (IPI) thì sẽ thu hút các đối tác tăng hợp tác với Hiệp hội và giúp tăng cường vai trò của ASEAN, đồng thời qua đó đóng góp hiệu quả vào việc đề cao vai trò chủ nghĩa đa phương đối với hòa bình, an ninh khu vực.

Hai là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các ban, bộ, ngành, trước hết là Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong tư vấn hoạch định và thực thi chính sách tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, nâng cao chất lượng dự báo chiến lược

Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an với chức năng, nhiệm vụ cụ thể, có vai trò quan trọng trong tư vấn và thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN. Do đó, các bộ này cần quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn việc tổ chức triển khai thực hiện, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước lớn, các cơ chế an ninh của ASEAN theo quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về chức năng quản lý nhà nước tại lĩnh vực công tác được phân công; là chủ thể, lực lượng trực tiếp xử lý các mối quan hệ đối ngoại, kể cả trong những tình huống chiến lược, những vấn đề phức tạp nảy sinh khi Việt Nam tham gia các cơ chế an ninh ASEAN.

Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chính sách, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước; xây dựng chương trình, kế hoạch; cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác tham mưu; đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ xác định quan điểm, chủ trương, giải pháp xử lý các mối quan hệ đối ngoại khi Việt Nam tham gia các cơ chế an ninh ASEAN để mang lại hiệu quả cao nhất. Theo chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cần có biện pháp kiểm soát các hoạt động của các cơ quan đại sứ quán, người nước ngoài mua đất, mua nhà, nhập tịch, sống và làm việc, du lịch ở Việt Nam, bảo đảm đúng pháp luật, không để họ lợi dụng gây rối tình hình. Thực hiện tốt biện pháp chống gián điệp, bảo đảm an ninh, bí mật quốc gia. Phát huy vai trò của các đại sứ quán, lãnh sự quán, những cơ quan, tổ chức và người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm Việt Nam đảm nhiệm các cương vị quan trọng. Trong đó, đặc biệt là ở các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới và khu vực như Liên Hợp quốc, WTO có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với các cơ chế an ninh ASEAN..., cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước; nắm chắc tình hình; thực hiện tốt “vận động hành lang”, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sự giúp đỡ của các chính giới từ các nước lớn, hạn chế sự tác động tiêu cực, tạo thuận lợi cho đất nước trong điều phối, xử lý các vấn đề nảy sinh.  Việt kiều, trí thức, lưu học sinh, lực lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước lớn, là lực lượng quan trọng trong mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN. Do đó cần có biện pháp phát huy tốt vai trò của lực lượng này.

Để xây dựng chiến lược, chính sách phù hợp giúp Việt Nam phát huy tốt vai trò khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, nhất thiết phải nâng cao chất lượng dự báo chiến lược. Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta nhận định: “Công tác dự báo, hoạch định và lãnh đạo tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý phát triển xã hội còn nhiều bất cập”; chỉ rõ “năng lực dự báo còn hạn chế, cho nên một số chủ trương, chính sách, giải pháp đề ra chưa phù hợp”. Do đó, cần nâng cao chất lượng công tác dự báo tình hình(1). Tại Đại hội, Đảng tiếp tục xác định phải tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời có chủ trương, chính sách xử lý hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, nâng cao chất lượng công tác dự báo tình hình và tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại(2).

Vì vậy, các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ này cần nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác dự báo chiến lược trong tình hình mới, đẩy mạnh nghiên cứu, kịp thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cho Đảng và Nhà nước xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng dự báo, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ làm công tác này yên tâm, toàn tâm, toàn ý học tập, công tác, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ. Cần tạo ra sự thống nhất và chuyển biến mạnh, mang tính đột phá về nhận thức trong toàn lực lượng, trước hết là nhận thức của đội ngũ cán bộ cấp ủy, chỉ huy, cán bộ tham mưu và lực lượng trực tiếp làm công tác nghiên cứu dự báo chiến lược về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu dự báo chiến lược.    

Hiện nay, đổi mới tư duy dự báo chiến lược là vấn đề quan trọng hàng đầu vì mỗi thời đại phát triển đều đặt ra yêu cầu phải có hệ thống tri thức, lý luận mới và tinh thần sáng tạo tương ứng. Việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo chiến lược đòi hỏi phải đào tạo, bồi dưỡng nhân tài quốc phòng, an ninh, đối ngoại, là cơ sở trực tiếp để đổi mới công tác dự báo chiến lược, đáp ứng nhu cầu của thời kỳ mới. Việt Nam cần quan tâm đẩy nhanh quá trình xây dựng các hoạt động các khu công nghệ cao; chủ động tham gia vào quá trình này với các công viên sử dụng phần mềm là giải pháp chiến lược có hiệu quả thiết thực để sớm tiếp cận với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó phát hiện và đào tạo nhân tài cho công tác dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Nội dung dự báo chiến lược cần phân tích, đánh giá xu hướng vận động, biến đổi và phát triển, những tác động thuận và không thuận đối với sự phát triển của thế giới, khu vực và đất nước; qua đó, dự báo những gì có thể xảy ra làm thay đổi tình hình, cục diện chính trị, an ninh của khu vực và thế giới; các nhân tố sẽ chi phối an ninh khu vực và thế giới; các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống sẽ nổi lên ở từng khu vực và trên thế giới có tác động đến an ninh, lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước, nhất là các nước lớn. Đó là cơ sở khoa học để các cấp, các ngành đánh giá chính xác, dự báo đúng tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước có đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để đất nước bị động, bất ngờ, nhất là trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm. Đồng thời, tập trung chỉ đạo công tác tổ chức, nắm bắt và phân tích, tổng hợp tình hình, dự báo tình hình quốc tế và khu vực, nhất là sự điều chỉnh chính sách, chiến lược của các nước lớn, các nước láng giềng tác động tới lợi ích và an ninh quốc gia của Việt Nam; các yếu tố quốc tế và trong nước tác động đến công tác bảo vệ an ninh, trật tự, nhất là âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; tình hình an ninh, trật tự ở các vùng chiến lược, các thành phố lớn, khu vực biên giới, biển, đảo; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tình hình tội phạm và các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống. Những nội dung dự báo ấy sẽ góp phần quan trọng tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng giải pháp chủ động ứng phó, giải quyết kịp thời, tháo gỡ mọi khó khăn, thách thức để bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.

Nâng cao năng lực bộ máy và đội ngũ cán bộ dự báo chiến lược. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu dự báo chiến lược phải là những người có kinh nghiệm thực tiễn, tư duy khoa học, có khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá và dự báo. Do đó, các cơ quan tham mưu cần mở rộng quan hệ với các cơ quan nghiên cứu chiến lược của các nước, các trung tâm nghiên cứu quốc tế độc lập để tham khảo, học tập kinh nghiệm, trao đổi thông tin, đánh giá tình hình kinh tế, chính trị, an ninh thế giới, khu vực. Đồng thời, kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ, năng lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan chuyên trách nghiên cứu chiến lược về an ninh, trật tự. Nghiên cứu dự báo chiến lược tạo ra sản phẩm có giá trị về lý luận - thực tiễn, giúp cho Đảng, Nhà nước hoạch định kịp thời, chính xác các chủ trương, chính sách ở tầm vĩ mô. Thường xuyên tổ chức tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác nghiên cứu dự báo chiến lược; phát huy tối đa vai trò, tiềm lực của các cấp, các ngành, địa phương trong công tác này. Có chính sách thỏa đáng để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn lực mới, nhất là nguồn lực trí tuệ chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại và nguồn nhân lực trẻ ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Xây dựng cơ chế phối hợp triển khai công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược để huy động sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đặc biệt là giữa các Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính... Chỉ khi các bộ, ngành liên quan đồng thời vào cuộc, phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình thì mới có thể đưa ra những dự báo chuẩn xác, kiến nghị các giải pháp thỏa đáng, chính sách mang tầm vĩ mô, chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong việc bảo đảm gắn kết các chủ trương, chính sách, chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đồng thời, trong dự toán ngân sách hằng năm của Chính phủ cần dành một tỷ lệ thỏa đáng cho công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược để phân bổ cho các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường phối hợp với các cơ quan nghiên cứu chiến lược của các ban, bộ, ngành, địa phương có liên quan để trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin, phát huy trí tuệ các chuyên gia vào quá trình nghiên cứu dự báo chiến lược. Khắc phục tình trạng “mạnh ai người ấy làm”, mỗi bộ, ngành, cơ quan dự báo một kiểu, nhất là về tình hình chung, gây nhiễu, rối thông tin và dữ liệu dự báo.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của Việt Nam trong các mối quan hệ song phương, đa phương, thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế, cùng ASEAN làm tốt vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh, hợp tác khu vực ở châu Á - Thái Bình Dương.

Phát huy các mối quan hệ song phương của Việt Nam với các nước là yêu cầu, biện pháp quan trọng, tạo nên sức mạnh, vị thế, uy tín của Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Việc phát huy đó phải góp phần “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(3). Do đó, Việt Nam cần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược đối với sự phát triển kinh tế và an ninh của đất nước; đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào thực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác.

Trong khuôn khổ các cơ chế an ninh của ASEAN, ngoài quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam cần quan hệ tốt với các nước lớn như Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, EU. Hiện nay, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản và EU đang có sự điều chỉnh chiến lược, đã và đang có quan hệ tốt với ASEAN và Việt Nam. Trong những năm tới, cần tiếp tục thực hiện chính sách cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, làm tăng thế và lực của ASEAN và Việt Nam trước xu hướng vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau giữa các nước lớn. Trong đó, Việt Nam cần tập trung hơn trong xử lý quan hệ với Trung Quốc và Mỹ.

Trong hợp tác về các vấn đề khu vực và đa phương, Việt Nam cần tăng cường phối hợp tại các diễn đàn khu vực như APEC, ARF, ADMM+, EAS, trong đó có các vấn đề khu vực như an ninh, an toàn hàng hải, củng cố đoàn kết ASEAN, đề cao vai trò trung tâm của ASEAN, triển khai Đối tác chiến lược Mỹ - ASEAN... và các vấn đề toàn cầu như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, ứng phó với biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng và nguồn nước, chống tội phạm xuyên quốc gia.

ASEAN là đối tác không thể thiếu trong cơ chế hợp tác của các nước lớn cũng như các tổ chức kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong quan hệ với các nước lớn, ASEAN là đối tác quan trọng hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là khu vực phát triển năng động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI. ASEAN thực sự được lựa chọn là cơ chế trung gian trong giải quyết các vấn đề mang tính khu vực. Hầu hết các nước lớn ở châu Á - Thái Bình Dương đều tham gia các cơ chế của ASEAN, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị ASEAN với các đối tác (ASEAN+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (Đối thoại Sangri La),... và coi đây là “bộ khung” để xây dựng cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện nay, các đối tác của ASEAN trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước lớn, Trung Quốc và Mỹ, đều mong muốn ASEAN phát huy vai trò trung tâm và chủ động như là một động lực chủ chốt trong một cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể phát huy “trọng trách kép” trong năm 2020.

Việt Nam cần chủ động hơn trong việc phát huy hiệu quả các cơ chế quan hệ của ASEAN với các nước lớn. Đó là: cơ chế ASEAN+1 với 10 đối tác đối thoại chính thức. Đây là cơ chế chính thức lâu đời nhất, đầy đủ nhất, quan trọng và hiệu quả nhất của ASEAN trong việc xử lý quan hệ với từng nước lớn, từng đối tác, tạo cho ASEAN đối thoại bình đẳng, ngang hàng với các nước lớn, tranh thủ nhiều nguồn lực cho phát triển, trên hầu hết các lĩnh vực; nhận được sự tôn trọng của các nước lớn; và có thể áp đặt ý chí của mình lên các nước lớn; Cơ chế ASEAN+3 - cơ chế đối thoại và hợp tác giữa ASEAN với 3 nước lớn ở Đông Bắc Á gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; Cơ chế Cấp cao Đông Á (EAS), về bản chất cũng là một cơ chế ASEAN+ gồm 8 nước lớn; Cơ chế thành lập các Ủy ban ASEAN tại thủ đô của các nước lớn nhằm phối hợp hành động và xử lý quan hệ với các nước này.

_______________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2019

(1), (2) Xem: ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.150, 156.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.153. 

PGS, TS Thái Văn Long

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Huệ

Học viện Chính trị khu vực I         

 

Các bài viết khác