Trang chủ    Quốc tế    “Vai trò trung tâm” của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Thứ năm, 25 Tháng 6 2020 13:41
58 Lượt xem

“Vai trò trung tâm” của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương

(LLCT) - Thế kỷ XXI đang định hình ngày càng rõ cấu trúc khu vực tại châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) với vai trò của các cường quốc và tổ chức khu vực. ASEAN là tổ chức của các nước đang phát triển được giới lãnh đạo và nghiên cứu quốc tế đánh giá là có khả năng đáp ứng “vai trò trung tâm” trong cấu trúc an ninh khu vực CA-TBD. Điều đó thể hiện qua vai trò của các cơ chế an ninh do ASEAN sáng lập. Là thành viên của ASEAN, năm 2020 Việt Nam đóng vai trò Chủ tịch luân phiên sẽ tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong việc phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các cơ chế hợp tác an ninh đa phương.

Từ khóa: vai trò trung tâm của ASEAN, cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

1. Kiến tạo “vai trò trung tâm” dựa trên nền tảng các cơ chế an ninh của ASEAN

Thứ nhất, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) - trụ cột ngoại giao

Đây là cơ chế hợp tác an ninh đa phương đầu tiên ở CA-TBD do ASEAN sáng lập năm 1993. ARF được tổ chức hằng năm, mang tính đối thoại rộng rãi, thu hút mạnh mẽ sự tham gia của nhiều nước trên thế giới, trong đó có hầu hết các cường quốc lớn. Trong bối cảnh khu vực CA-TBD chưa có được một cơ chế pháp lý về an ninh, ARF là một sáng kiến đặc sắc, tạo nên được một diễn đàn quốc tế để các nước tham gia bày tỏ chính kiến, trao đổi sự quan tâm, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, có ý nghĩa tạo nên sự cân bằng kiềm chế những nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định khu vực. ARF chứng tỏ là một hình thức hợp tác thích ứng với tình hình mới, phù hợp với khu vực CA-TBD và đã có những đóng góp đáng kể đối với an ninh khu vực.

Trung Quốc trước đây thờ ơ với các hoạt động hợp tác đa phương, Mỹ vốn chỉ chú trọng đến các quan hệ song phương do mình chi phối cũng đã chủ động tham gia vào ARF. Đáng chú ý là quốc gia như Bắc Triều Tiên vốn là một nước không hề có ý định tham gia bất cứ cơ chế an ninh nào cũng đã tham gia vào diễn đàn này. ARF được các bên tham gia chấp nhận bởi vì ARF đáp ứng được nhu cầu và lợi ích của họ. Trước hết là các nước mong muốn có một diễn đàn hoặc một cơ chế để giải quyết các thách thức mới về an ninh khu vực. Bên cạnh đó, các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc đều nhận thấy nhu cần cần thiết phải tham gia các cơ chế đa phương bên cạnh việc duy trì các mối quan hệ song phương tại Đông Á. Sáng kiến thành lập ARF do các nước vừa và nhỏ của ASEAN khởi xướng nên càng dễ dàng để các nước này đón nhận và tham gia hơn.

Trong giai đoạn trước, ARF đã cố gắng thông qua tiếp xúc và đối thoại mang tính xây dựng, tăng cường độ minh bạch trong chính sách ngoại giao và quốc phòng của các nước và những vấn đề khác để dần loại bỏ các nhân tố bất ổn xuất phát từ sự hiểu lầm, không tin tưởng nhau và sự chia rẽ trong lợi ích chiến lược ở khu vực. Trên cơ sở những thành quả có được của giai đoạn xây dựng lòng tin, ARF dựa vào các nguyên tắc về những hành vi chuẩn mực ở khu vực và quốc tế cũng như sức mạnh dư luận để ràng buộc hành động của các bên, đồng thời đưa ra dự báo sớm và ngăn chặn bùng nổ xung đột có thể xảy ra. Từ 2015 đến nay, ASEAN thông qua ARF đẩy mạnh việc chuyển giai đoạn từ xây dựng lòng tin sang ngoại giao phòng ngừa trong việc giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên trong khu vực. Năm 2019, tại ARF-26 (Thái Lan), 27 quốc gia thành viên đã kêu gọi thúc đẩy an ninh bền vững, dựa trên luật pháp quốc tế. Các Bộ trưởng Ngoại giao của 27 thành viên ARF đã thông qua kế hoạch hoạt động của giữa kỳ 2019 - 2020 về các vấn đề an ninh khu vực cả truyền thống và phi truyền thống. Trong đó, ARF khẳng định việc cần thiết sớm hoàn thành COC cũng  như tính hiệu lực, phù hợp của COC với luật pháp quốc tế. Về phía Việt Nam, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho rằng “vẫn còn những quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên thực địa, bao gồm các hành động đơn phương và sự cố nghiêm trọng đang diễn ra ở Biển Đông, đặc biệt là những hành động vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển”(1) làm ảnh hưởng đến việc hoàn tất COC.

Mặc dù có những khó khăn trong tiến trình hoạt động của ARF, song cơ chế và cách thức hoạt động của ARF cho thấy, đây là bước đột phá mới trong quyết tâm kiến tạo một cấu trúc an ninh mới do ASEAN làm trung tâm thể hiện ở một số điểm sau đây:

(1) Các văn kiện thành lập cũng như các cuộc họp định kỳ của ARF, đều khẳng định vị thế quan trọng của ASEAN. Tuyên bố thành lập ARF nhấn mạnh ARF đặt dưới sự chủ trì của ASEAN. Các nước lớn đều nhất trí ủng hộ vai trò của ASEAN là lực lượng chèo lái. ASEAN luôn là “nước chủ nhà” trong các hợp tác khu vực Đông Á. Các cuộc họp hội nghị thượng đỉnh hay thường niên của các cơ chế ARF, ASEAN+3, EAS, ADMM+ đều do 10 nước ASEAN thay phiên nhau tổ chức, do Chủ tịch luân phiên ASEAN chủ trì, các nước tham gia hội đàm cũng đều do ASEAN quyết định.

(2) Các nước thành viên của ARF đều chấp nhận những nguyên tắc của ASEAN đưa ra mà điển hình nhất là ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), chấp nhận quy tắc hợp tác chung cho khu vực chính là “Phương thức ASEAN” (ASEAN way). Để tạo dựng các quy chuẩn ứng xử giữa các nước thành viên nội khối cũng như với bên ngoài, ASEAN đã lựa chọn Hiệp ước TAC, Tuyên bố hòa bình, tự do, trung lập (ZOPFAN), Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANFWZ)... làm công cụ. Theo đó, ASEAN chủ trương không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt, mọi quyết định phải có sự đồng thuận của tất cả các thành viên.

(3) Xét về nội dung hợp tác, các cơ chế từ khi thành lập đến nay đều lấy ASEAN làm trung tâm, triển khai hợp tác quanh trục ASEAN và chủ yếu phục vụ ASEAN. Các lĩnh vực hợp tác đa phần đều do ASEAN xác định, được ASEAN triển khai và phục vụ nhu cầu của ASEAN. Các nước đối tác có thể đưa ra kiến nghị, đề xuất nhưng có được thông qua hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào ASEAN.

Như vậy, cơ chế ARF đã có những bước chuyển biến mới về nhận thức và hành động, thể hiện rõ được quyết tâm duy trì và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN tại khu vực. ASEAN đều đóng vai trò là bên đưa ra bộ quy tắc ứng xử áp dụng cho tất cả các nước tham gia. Điều này giúp ASEAN có thể kiểm soát, làm chủ các nguyên tắc và cơ chế hợp tác, biến ASEAN thành “cốt lõi”, “trung tâm” của hợp tác khu vực Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương.

Thứ hai, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+): trụ cột quốc phòng

Năm 2006, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN ra đời đánh dấu sự khởi đầu của cơ chế hợp tác quốc phòng chính thức, đầy đủ. Cơ chế này tạo khuôn khổ cho đối thoại và tham vấn cấp Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề chiến lược, quốc phòng - an ninh và là nền tảng để thúc đẩy hợp tác trên thực tế giữa lực lượng vũ trang các nước ASEAN. ADMM coi trọng hợp tác thực chất nhằm tạo ra khả năng, sức mạnh chung để đẩy lùi nguy cơ xung đột, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Năm 2010, các nước thành viên đã tiến hành thảo luận bản thảo“Tiềm năng, triển vọng và định hướng hợp tác thiết thực trong khuôn khổ ADMM+”, đồng thời thiết lập cơ chế Hội nghị Quan chức Quốc phòng cấp cao ASEAN mở rộng (ADSOM) và lập các Nhóm Công tác Chuyên gia về những vấn đề an ninh cùng quan tâm.

Cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) được thành lập năm 2010. Đây là cơ chế hợp tác cao nhất về quốc phòng khu vực từ trước đến nay. Lần đầu tiên trong lịch sử của ASEAN cũng như khu vực, 18 Bộ trưởng Quốc phòng các nước (gồm 10 nước ASEAN và 8 nước đối tác là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Australia và New Zealand) với trình độ phát triển cũng như tiềm lực quốc phòng khác nhau cùng thảo luận về quốc phòng an ninh. Đây là điều chưa có tiền lệ trong lịch sử khi các nước vốn không phải là đồng minh chiến lược của nhau lại có thể cùng nhau bàn bạc về các hợp tác an ninh chứ không phải là về chiến tranh hay xung đột. ADMM+ làm được những điều này bởi những đặc điểm chỉ có ở Hội nghị này: (i) Các thành viên khi tham gia đều có vị thế và vai trò bình đẳng như nhau; (ii) ADMM+ mang bản chất là một diễn đàn xây dựng và tăng cường lòng tin giữa các nước; (iii) ADMM+ là một diễn đàn công khai và minh bạch. Sự ra đời của ADMM+ đánh dấu nhận thức mới và bước chuyển biến quan trọng về hợp tác an ninh quốc phòng của ASEAN và các nước đối tác khác, nhất là các nước lớn. Thêm vào đó, diễn đàn này còn là một trong những phương tiện, công cụ hỗ trợ cho hiện thực hóa Cộng đồng an ninh - chính trị ASEAN (APSC), bổ sung cho các diễn đàn khu vực như ARF, EAS, các tiến trình ASEAN+ và Đối thoại Shangri-La, đóng góp một cách hiệu quả cho tiến trình xây dựng lòng tin và thúc đẩy hòa bình, ổn định cho khu vực. Ngoài ra, ADMM+ cũng giúp tăng cường hợp tác với ADMM và ACDFIM (Hội nghị không chính thức Tư lệnh Lực lượng quốc phòng/Tổng tham mưu trưởng Quân đội các nước ASEAN) từ đó thắt chặt mối quan hệ quốc phòng - an ninh với các nước thành viên trong ASEAN. Do ADMM+ là một cơ chế mở cả về thành phần lẫn nội dung hợp tác nên hiện nay đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nước muốn tham gia như Canada, Anh, Pháp, Mông Cổ... Điều này chứng tỏ sức hấp dẫn của các cơ chế do ASEAN sáng lập ra ngày càng tăng, từ đó càng củng cố thêm cấu trúc “ASEAN và các vòng tròn đồng tâm” tại Đông Á.

Năm 2019, diễn tập thực địa của 18 nước thành viên ADMM+ đã diễn ra thành công tại Singapore và Hàn Quốc. Trong khuôn khổ của ADMM+ (2019), các quốc gia thành viên đã hướng vào chủ đề “Tiềm năng, triển vọng và định hướng hợp tác thiết thực” với quyết tâm bảo đảm nền hòa bình khu vực. Hiện nay, ADMM+ đã có những đóng góp đáng kể cho nền an ninh khu vực, đặc biệt là về các vấn đề an ninh phi truyền thống. ADMM+ luôn nỗ lực tăng cường và đẩy mạnh hợp tác sâu rộng với nhau trên 5 lĩnh vực chủ yếu: hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa; an ninh biển; quân y; chống khủng bố và hoạt động gìn giữ hòa bình. Bước sang năm 2020, trong bối cảnh dịch Covid-19 được coi là một trong những vấn đề an ninh phi truyền thống đang diễn ra phức tạp, Hội nghị hẹp Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN đã đồng thuận đưa ra được Tuyên bố chung về hợp tác quốc phòng trong phòng chống dịch bệnh. Bên cạnh việc tạo ra một kỷ lục mới về sự nhanh chóng đạt được sự đồng thuận thì Tuyên bố này cũng chứng minh tinh thần gắn kết và chủ động thích ứng mà Việt Nam đưa ra trên cương vị là Chủ tịch ASEAN. Có thể trong tương lai, ADMM+ còn có khả năng đề xuất các lĩnh vực hợp tác mới đang là mối quan tâm chung của khu vực và quốc tế như an ninh mạng, công nghiệp quốc phòng, giáo dục - đào tạo...

Đối với cấu trúc khu vực CA-TBD, cơ chế ADMM+ đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò là diễn đàn quan trọng về quốc phòng - an ninh trong mối quan hệ tương tác với các cấu trúc an ninh khác như EAS, ARF. Cơ chế này được đánh giá là một trong những bộ khung làm nên vai trò trung tâm của ASEAN. Trước sự gia tăng thách thức an ninh khu vực và toàn cầu trong thập kỷ mới, ASEAN đã xác định mục tiêu xây dựng vị trí của mình như “một trục liên kết chính”, “một sân chơi chung kết nối” giữa các đối tác lớn trong khu vực và trên thế giới. Trong tiến trình xây dựng cấu trúc khu vực, ASEAN hướng đến đóng vai trò trung tâm, xây dựng một khu vực Đông Á mang tính mở. ASEAN đã phát huy hiệu quả và tăng cường củng cố mở rộng các cơ chế hiện có của mình để đóng góp tích cực vào giải quyết những vấn đề đang nổi lên vì mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng của toàn khu vực cũng như thế giới.

Thứ ba, Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) - trụ cột an ninh cấp thượng đỉnh

ASEAN tăng cường môi trường hòa bình, ổn định và củng cố mối quan hệ hợp tác tin cậy giữa các nước thành viên trong lĩnh vực an ninh - chính trị; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Á theo chiều hướng hữu nghị, ổn định lâu dài; hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ cả về song phương và đa phương. Trong khi cạnh tranh Trung Quốc - Nhật Bản ngày càng gia tăng, cơ chế EAS ra đời tháng 12-2005 tại Kuala Lumpur (Malaysia), bao gồm các thành viên của ASEAN+3 đã phần nào lôi kéo và tạo điều kiện để hai quốc gia này trở thành đối tác của nhau. Sự ra đời của EAS đã giúp các quốc gia Đông Á tạo được một cấu trúc mới cho khu vực của mình. Cơ chế này được coi như một vòng tròn đồng tâm lớn, nằm trong ARF nhưng lại nằm ngoài ASEAN+3 và ASEAN+1. Ngay từ Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ nhất, EAS đã xác định rõ về vai trò và mục đích như sau: (i) EAS sẽ là một diễn đàn đối thoại rộng rãi về các vấn đề chiến lược, chính trị và kinh tế, dựa trên lợi ích và các mối quan tâm chung, cùng hướng tới mục tiêu thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng Đông Á; (ii) EAS là một phần của cấu trúc khu vực, hỗ trợ các diễn đàn và tiến trình hiện có, nhất là với khuôn khổ hợp tác ASEAN+3; (iii) EAS sẽ là một tiến trình mở, thu nạp, minh bạch và hướng ngoại, với ASEAN giữ vai trò chủ đạo, trong đó các thành viên cố gắng đẩy mạnh các chuẩn mực toàn cầu và các giá trị đã được thừa nhận chung.

Thông qua EAS, ASEAN khẳng định tính trung lập, vai trò chủ đạo của mình, từ đó có thể tăng cường mối quan hệ hòa bình, ổn định và củng cố mối quan hệ hợp tác, tin cậy giữa các nước thành viên. EAS cũng là nơi để các nhà lãnh đạo gặp gỡ, trao đổi thẳng thắn và bình đẳng với nhau, tạo cơ sở nền tảng cho việc xây dựng lòng tin. Vấn đề thảo luận của EAS cũng mở rộng ra nhiều mối quan tâm khác hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh chính trị. EAS đã tạo dựng được mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Á theo chiều hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ cả về song phương lẫn đa phương. Sự có mặt thêm của Nga và Mỹ trong EAS từ năm 2010 cho thấy Đông Á không chỉ có tầm quan trọng về địa - chính trị mà còn về địa - chiến lược của thế giới. Sự hiện diện của Nga và Mỹ đã giúp mở rộng phạm vi của các vấn đề để EAS có thể giải quyết một cách toàn diện hơn(2). EAS từ đây đã hội tụ đủ các cường quốc của thế giới, có khả năng giải quyết các vấn đề nhạy cảm thông qua sự ủng hộ của ASEAN và các nước lớn. Việc quyết định mở rộng thành viên của cấp cao Đông Á, thêm Nga và Mỹ là một quyết sách có ý nghĩa chiến lược của ASEAN trong việc đưa EAS trở thành một diễn đàn hợp tác có tầm mức cao hơn và quy mô rộng lớn hơn ở khu vực, hài hòa lợi ích giữa các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc. Điều này giúp ASEAN thực hiện mục tiêu xây dựng một khu vực mở, năng động, hướng ra bên ngoài. Cấu trúc này tạo thêm những kênh mới. EAS đã tối đa hóa sự hiện diện của các nước lớn và các nước có quan hệ mật thiết với khu vực này. EAS được đánh giá là “diễn đàn đối thoại các vấn đề kinh tế, chính trị, chiến lược vĩ mô dựa trên mối quan tâm chung và lợi ích chính của các bên tham gia”(3). Thông qua EAS, ASEAN tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo và là hạt nhân gắn kết, hài hòa các lợi ích và nhu cầu hợp tác đan xen ở khu vực, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hợp tác cùng phát triển vì hòa bình, ổn định và phát triển.

Như vậy, bằng những nỗ lực của mình, ASEAN đã trở thành một điểm hội tụ trong liên kết khu vực, vừa là người trung gian hòa giải bất đồng giữa các cường quốc với mong muốn duy trì nền hòa bình ở Đông Á, kiềm chế tham vọng của họ không vượt qua lợi ích chung cho toàn khu vực.

Ngoài 3 cơ chế an ninh “xương sống” của ASEAN, các cơ chế an ninh khác như Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La - SLD), đây là diễn đàn an ninh liên Chính phủ thành lập năm 2002 đang được chú ý. SLD thu hút sự tham dự của các quốc gia, tổ chức quốc tế và các viện nghiên cứu có uy tín. Đặc biệt, SLD có sự tham dự của các Bộ trưởng Quốc phòng, các Bộ trưởng thường trực và các Tướng lĩnh quân đội từ khắp nơi trên thế giới. Đối thoại Shangri-La đã và đang khẳng định được uy tín của mình với danh nghĩa là một diễn đàn an ninh quan trọng bậc nhất khu vực. SLD (2018) ưu tiên thảo luận vấn đề cấu trúc an ninh đang định hình ở CA-TBD; đề xuất những giải pháp hợp tác giải quyết các thách thức chung; kêu gọi các bên tiếp tục xây dựng lòng tin, hành xử có trách nhiệm đối với vấn đề an ninh khu vực; yêu cầu các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng đối với các quốc gia; hòa bình và hợp tác. Trong bối cảnh tâm điểm của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, SLD (2019) đã đề cập tới các vấn đề như: không gian Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong tầm nhìn chiến lược của Mỹ; sự chuyển biến nhanh chóng của an ninh khu vực CA-TBD và những thách thức; an ninh hàng hải, hàng không trên Biển Đông; Trung Quốc trong hợp tác an ninh quốc tế... với mong muốn tìm được tiếng nói chung và đưa ra các giải pháp phòng ngừa xung đột an ninh trong khu vực, đặc biệt là khẳng định sự thích ứng của ASEAN với vai trò “trung tâm” trong cấu trúc khu vực CA-TBD.

Ngoài ra, ASEAN cũng chú trọng các cơ chế an ninh khu vực khác, như Hội thảo An ninh châu Á - Thái Bình Dương (APSEC), Thỏa thuận Quốc phòng 5 nước (FPDA)... Các cơ chế này góp phần nâng tầm vị trí của ASEAN đối với an ninh khu vực. Các cơ chế này tiếp tục kiểm soát những bước đi tiếp theo của ASEAN, đặc biệt trong việc ASEAN thúc đẩy mở rộng liên kết và kết nối ra toàn khu vực Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương thông qua các sáng kiến khu vực.

2. Việt Nam cần làm gì khi tham gia các cơ chế an ninh của ASEAN và vai trò Chủ tịch ASEAN 2020

Thứ nhất, Việt Nam cần tích cực, chủ động phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm trong việc xây dựng tình đoàn kết, thống nhất trong ASEAN và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các cơ chế hợp tác an ninh

đa phương.

Năm 2020, Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch ASEAN đang đứng trước nhiều thách thức của khu vực: tính hiệu quả của các hoạt động hợp tác trong Cộng đồng ASEAN, tranh chấp ở Biển Đông, các vấn đề an ninh phi truyền thống tại tiểu vùng Mekong, cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn tại Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương... đang là những thách thức cho tính đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN. Với chủ đề năm ASEAN 2020 “Gắn kết và chủ động thích ứng”, Việt Nam cần chủ động dẫn dắt ASEAN đoàn kết, thống nhất, tăng thêm uy tín ở khu vực và toàn cầu. Năm 2020 cũng là năm đầu tiên của nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, đây là trọng trách rất lớn, “trọng trách kép” cũng là cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam thúc đẩy việc tăng cường hợp tác giữa Liên Hợp quốc với các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, trong đó gồm cả ASEAN. Bên cạnh đó, việc xây dựng Cộng đồng ASEAN không thể thiếu sự ủng hộ và đóng góp của các nước đối tác và tổ chức khu vực và quốc tế. Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ đối tác - như tinh thần “gắn kết” của chủ đề năm ASEAN 2020; đẩy mạnh các cơ chế mà ASEAN tạo dựng cũng như dẫn dắt, đồng thời thúc đẩy quan hệ đối tác vì hòa bình và phát triển bền vững với các nước trên thế giới, phát huy vai trò và đóng góp của ASEAN trong cộng đồng quốc tế; mở rộng và nâng tầm quan hệ với các đối tác trên toàn cầu, góp phần định hình cấu trúc và luật chơi mới của khu vực và thế giới.

Đối với tiểu vùng Mekong, Việt Nam cần tích cực, chủ động hợp tác với các quốc gia tiểu vùng Mekong trong các vấn đề an ninh phi truyền thống. Đồng thời tích cực với vai trò kiến tạo cùng với Lào và Campuchia trong việc hình thành một Cộng đồng Mekong tương lai với ba trụ cột chính: (i) kiến tạo kết nối tiểu vùng; (ii) kiến tạo quá trình phát triển bền vững; (iii) kiến tạo bản sắc Mekong. Ngoài việc tiếp tục duy trì quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, Việt Nam có thể xem xét nâng cấp quan hệ với Thái Lan và Myanmar thành đối tác chiến lược.

Thứ hai, tại các cơ chế an ninh đa phương do ASEAN sáng lập, với vai trò điều phối trong năm 2020, Việt Nam tiếp tục tranh thủ các điểm tương đồng về mặt lợi ích, cách tiếp cận của ASEAN và các nước lớn trong vấn đề Biển Đông để bảo vệ lợi ích quốc gia và đề cao cách thức giải quyết tranh chấp trên Biển Đông theo hướng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế.

Hiện nay, Biển Đông đang là một trong những địa bàn cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc. Điều này tác động trực tiếp đến ASEAN và Việt Nam, đặc biệt, tác động mạnh mẽ đến môi trường hòa bình, ổn định mà Việt Nam đang cố gắng cùng ASEAN duy trì để hội nhập và phát triển. Mặt khác, Trung Quốc đang đẩy mạnh thực hiện “ba nhanh chóng” (bao gồm: nhanh chóng phát triển biên cương; nhanh chóng xây dựng cường quốc biển; nhanh chóng kết nối giữa “sáng kiến Vành đai và Con đường” với chiến lược phát triển của các nước Lào và Campuchia) cũng tác động mạnh đến môi trường khu vực. Điều này sẽ tạo ra những thách thức mới đối với sự phát triển và an ninh quốc gia của Việt Nam. Các nước ASEAN có mục tiêu chung là xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, song mỗi nước có lợi thế và lợi ích riêng, nên việc củng cố đoàn kết, hợp tác nội khối về những vấn đề chính trị nhạy cảm rất phức tạp, khó khăn, nhất là giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, ảnh hưởng đến “vai trò trung tâm” của ASEAN. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo gặp khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Việt Nam phải tính toán kỹ và xử lý đúng đắn các mối quan hệ với các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản và cả ASEAN.

Năm 2020, với vai trò chủ trì, điều phối trong các cơ chế ARF, ADMM/ADMM+, EAS, Việt Nam cần tiếp tục nhấn mạnh tính cấp thiết bảo đảm tự do hàng hải, hàng không, duy trì các hoạt động thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông; kêu gọi phi quân sự hóa và kiềm chế, không sử dụng vũ lực trong xử lý các tranh chấp trên Biển Đông; tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS- 1982), các nguyên tắc ứng xử của khu vực. Việt Nam cần tận dụng vai trò Chủ tịch ASEAN để xây dựng sự đồng thuận giữa các thành viên trong việc ủng hộ duy trì một “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Trong đó, Việt Nam cần nhận thức sâu sắc những tác động thuận và không thuận từ cách tiếp cận vấn đề “tự do và rộng mở” để chủ động thích ứng.

Thứ ba, cần tiếp cận hài hòa quan hệ Việt Nam với các nước lớn ở cả hai cấp độ: chiến lược và chuyên ngành và tiếp tục đa dạng hóa các mối quan hệ.

Do ảnh hưởng từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại khu vực, đồng thời là quốc gia thành viên của ASEAN, Việt Nam cần hài hòa trong các cấp độ ngoại giao, hạn chế các vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các nước lớn. Cần tiếp tục tạo thế đan xen về lợi ích, trong đó nhấn mạnh đến lợi ích về kinh tế thương mại và giá trị địa - chiến lược của quốc gia và khu vực. Do đó, hợp tác chuyên ngành không để tạo ra mất cân bằng chiến lược hoặc bị tác động không thuận đến an ninh quốc gia. Ngược lại, nếu không nắm bắt kịp thời cơ hội hợp tác (trong các lĩnh vực phát triển và nâng cao năng lực) thì sẽ bỏ lỡ cơ hội thúc đẩy lợi ích của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa các mối quan hệ, giảm nguy cơ phụ thuộc, coi trọng phát triển quan hệ với các trung tâm kinh tế, các nước lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các ban, bộ, ngành, trước hết là Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong tư vấn hoạch định và thực thi chính sách tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, nâng cao chất lượng dự báo chiến lược.

Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình, có vai trò quan trọng trong tư vấn và thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN. Do đó, các bộ này cần quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn việc tổ chức triển khai thực hiện, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước lớn, các cơ chế an ninh của ASEAN theo quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Để xây dựng chiến lược, chính sách phù hợp giúp Việt Nam phát huy tốt vai trò của mình khi tham gia các cơ chế an ninh ASEAN, nhất thiết phải nâng cao chất lượng dự báo chiến lược. Dự báo chiến lược là việc sử dụng kết hợp hài hòa các phương pháp nghiên cứu để tiên đoán về sự phát sinh, phát triển của các yếu tố bên ngoài và bên trong có khả năng tác động, chi phối sự phát triển bền vững của một quốc gia trong dài hạn, làm cơ sở cho việc hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, chiến lược xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và tiến bộ xã hội. Nội dung dự báo chiến lược cần phân tích, đánh giá xu hướng vận động, biến đổi và phát triển, những tác động thuận và không thuận đối với sự phát triển của thế giới, khu vực và đất nước. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu dự báo chiến lược là những người có kinh nghiệm thực tiễn, tư duy khoa học, có khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá và dự báo.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2020

(1) Lê Thanh: Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN kêu gọi xây dựng thực chất ở Biển Đông, https://news.zing.vn.

(2) The presence of Russia and the United States expands the range of issues that the EAS can address comprehensively, U.S. Joins East Asia Summit: Implications for Regional Cooperation, http://www.nbr.org.

(3) Nguyễn Lan Hương: Mỹ và trọng tâm chiến lược châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2011, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 9-2012, tr.39.

TS Nguyễn Văn Du

TS Trịnh Thị Hoa

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh