Trang chủ    Thực tiễn    Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay
Thứ sáu, 26 Tháng 8 2016 12:25
2060 Lượt xem

Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay

(LLCT) - Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp Thành phố phát triển nhanh so với các địa phươngkhác, đóng  góp trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và hơn 35% vào tổng sản phẩm vùng (GRDP), nhóm hàng công nghiệp đóng góp 74,3% giá trị xuất khẩu của thành phố, GDP bình quân tăng 9,6%/năm, gấp 1,66 lần mức tăng chung của cả nước, góp phần đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm lớn về kinh tế, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tuy nhiên thời gian qua, ngành công nghiệp hỗ trợ thành phố chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, còn tồn tại nhiều hạn chế như: hơn 80% nguyên - vật liệu, thiết bị và công nghệ phải nhập khẩu; sản xuất phục vụ sửa chữa, thay thế, gia công lắp ráp là chủ yếu. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) còn hạn chế trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, nếu có chủ yếu tham gia ở những công đoạn với công nghệ giản đơn, giá trị gia tăng thấp. Tồn tại trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó còn hạn chế về vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật công nghệ,… khó mở rộng sản xuất, nâng cấp trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ (CNHT) chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, các chính sách thay đổi quá nhanh và thiếu nhất quán, thiếu sự thông tin và tư vấn kịp thời, các chính sách này không trực tiếp và đặc thù đối với lĩnh vực CNHT nên chưa phát huy được tác dụng, các biện pháp ưu đãi cho CNHT chưa được doanh nghiệp tận dụng, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành CNHT còn yếu. Bên cạnh đó, nhận thức về CNHT ở các khâu hoạch định, thực thi chính sách và triển khai các chương trình hỗ trợ còn chưa thống nhất giữa cơ quan quản lý nhà nước, hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp.

Xác định phát triển CNHT là nội dung quan trọng và đóng vai trò then chốt cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả,góp phần thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp của cả nước. Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Tập trung phát triển Công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ…”.

Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, yếu kém về phát triển CNHT gắn với DNNVV, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển vào tiến trình hội nhập quốc tế và nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị Quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 – 2020), Thành ủy, chính quyền thành phố Hồ Chí Minhcầntập trung lãnh đạo thực hiện phát triển CNHT trên địa bàn thành phố với một số nhiệm vụ chủ yếu như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CNHT trong phát triển công nghiệp thành phố, góp phần thực hiện mục tiêu: “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của cả nước, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có vị trí chính trị - kinh tế - xã hội quan trọng của cả nước. Vì thế, việc phát triển CNHT là nội dung quan trọng và đóng vai trò then chốt cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện hiệu quả góp phần thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp của cả nước.

Thứ hai,tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan đầu mối thực hiện nhiệm vụ phát triển CNHT

Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển CNHT. Thường xuyên chỉ đạo các đơn vịrà soát, hệ thống lại các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, các văn bản chỉ đạo điều hành của Thành phố đã ban hành về việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường đầu tư, kinh doanh cho các doanh nghiệpCNHT; Chỉ đạo triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhóm giải pháp phát triển CNHTđối với các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên;  Theo dõi tiến độ thực hiện các chương trình, đề án về CNHT; Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả đạt được và đề xuất các nội dung cần triển khai thực hiện trong từng giai đoạn.

Kiện toàn bộ máy tổ chức, đầu tư nâng cấp Trung tâm Phát triển CNHT để thực hiện tốt chức năng nhiện vụ được giao là đơn vị đầu mối trong việc triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về CNHT theo Quyết định số 4123/QĐ-UBND ngày 26-8-2015 về thành lập Trung tâm phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, tạo điều kiện hỗ trợ cho các DNNVV có điều kiện phát triển trong lĩnh vực CNHT để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, lắp ráp của doanh nghiệp đầu cuối trong và ngoài nước.

Về mặt bằng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất phát triển công nghiệp hỗ trợ: Đầu tư hạ tầng xây dựng các khu nhà xưởng cao tầng tại các địa điểm với quy mô diện tích phù hợp cho nhu cầu của doanh nghiệp CNHT; hình thành các phân khu CNHT trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao nhằm thu hút doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT.Trong đó, cần tập trung rà soát, quy hoạch lại các KCN, Khu Công nghệ cao hiện có để bố trí các phân khu CNHT trong KCN để phát triển CNHT phù hợp cho từng giai đoạn; xây dựng mô hình cụm liên kết ngành phát triển CNHT, hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh để hình thành chuỗi cung ứng từng ngành trong phạm vi Thành phố và có tính đến mối liên kết với các địa phương trong và ngoài nước.Đồng thời, tiến hành rà soát và tổng hợp nhu cầu quỹ đất thực tế của doanh nghiệp CNHT đề xuất Ban chỉ đạo phát triển CNHT các giải pháp để phục vụ doanh nghiệp, đặc biệt quan tâm đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng CNHT về giải phóng mặt bằng, giá thuê đất và các chính sách ưu đãi khác.

Về hỗ trợ vốn doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất: hình thành các gói tín dụng ưu đãi lãi suất hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp CNHT đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cải tiến thủ tục cho vay đối với doanh nghiệp theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay để các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Kiện toàn các tổ chức hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp hiện có của Thành phố, đặc biệt là Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV, Quỹ phát triển khoa học công nghệ; tiếp tục nâng chất chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tranh thủ các nguồn vốn của đầu tư nước ngoài để phát triển CNHT.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, kết nối doanh nghiệp trong phát triển CNHT.

Các cấp ủy, chính quyền đẩy mạnhcập nhật thường xuyên chủ trương, chính sách của thành phố về phát triển CNHTcho doanh nghiệp. Đồng thời, tiếp thu ý kiến phản hồi cũng như nhu cầu của doanh nghiệp để tham mưu, đề xuất kịp thời các chính sách và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình phát triển CNHT. Trung tâm Phát triển CNHT Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối trong thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp từ công tác tư vấn, hỗ trợ thủ tục tiếp cận ưu đãi cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường.

Ủy ban nhân dân thành phố tích cực xây dựng chương trình truyền thông về công nghiệp và CNHT Thành phố trên các phương tiện báo, đài truyền hình, đài truyền thanh, mạng internet,… kết hợp với các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác để giúp doanh nghiệp nắm bắt, tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật, các chủ trương, chính sách mới của Chính phủ và của Thành phố về công nghiệp, CNHT. Nội dung truyền thông liên quan đến định hướng quy hoạch, cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh CNHT trên các khía cạnh đầu tư hạ tầng, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực quản lý chất lượng, thị trường, vốn, phát triển nguồn nhân lực.

Trong công tác kêu gọi, xúc tiến thương mại – đầu tư trong và ngoài nước, kết hợp thông tin, giới thiệu về năng lực và tiềm năng phát triển CNHT của doanh nghiệp Thành phố, các cơ chế, chính sách ưu đãi của Thành phố cũng như của Chính phủ dành cho lĩnh vực CNHT, nhằm thu hút các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư đến với Thành phố.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành CNHT của TP.HCM theo hướng kết nối cung cầudoanh nghiệp: cung cấpthông tin cơ bản về năng lực sản xuất, thông số chi tiết sản phẩm/linh kiện kèm theo hình ảnhcủa doanh nghiệpCNHT thành phố và thông tin về các doanh nghiệp FDI nhằm hình thành cơ sở dữ liệu chung về CNHT; tăng khả năng tiếp cận trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp sản xuất CNHT với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnhtrong và ngoài nước; thông tin xu hướng thị trường của sản phẩm CNHT.

Kết nối cơ sở dữ liệu chung về CNHTcủa Thành phố với Trung tâm CNHT quốc gia(do Bộ Công Thương quản lý) để mở rộng tính liên kết.

Quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu chung về CNHT của Thành phố theo hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, chia sẻ và cập nhật thông tin, đồng thời cũng phục vụ cho công tác nghiên cứu tham mưu chính sách của Ban chỉ đạo phát triển CNHT.

Thực hiện công tác hỗ trợ kết nối doanh nghiệp nâng cao năng lực, mở rộng thị trường, kết nối với các đối tác tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực nhằm từng bước tham gia chuỗi cung ứng trong nước và toàn cầu. Tranh thủ các lợi thế thương mại từ các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.

Thứ năm, thu hút các nhà đầu tư lớn, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) sản xuất đầu cuối để tạo động lực cho doanh nghiệp CNHT trong nước có điều kiện liên kết, hợp tác để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Xây dựng chương trình, kế hoạch thu hút doanh nghiệp FDI thông qua việc  tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, đặc biệt là đơn giản hoá thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất; phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng hình thành các cụm liên kết ngành để thu hút doanh nghiệp FDI phù hợp theo hướng tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực của Thành phố; tạo sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước với việc phát triển sản xuất, hỗ trợ thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, triển lãm, hội thảo, chương trình giới thiệu nhu cầu phát triển và sử dụng các sản phẩm CNHT.

Thứ sáu, hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao các kỹ thuật sản xuất thông qua hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp FDI với DNNVV của thành phố để nhanh chóng làm chủ công nghệ.

Xây dựng cơ chế khuyến khích nghiên cứu chuyển giao công nghệ theo liên kết giữa nhà nghiên cứu với doanh nghiệp, trên cơ sở hỗ trợ kinh phí nghiên cứu công nghệ cho các dự án khoa học có kết quả ứng dụng vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiêp, trong tâm hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu phát triển sản phẩm lên quan đến sản phẩm chủ lực, ngành ưu tiên nhằm nâng cao tỉ lệ  nội địa hóa sản phẩm và giá trị gia tăng; khai thác, sử dụng có hiệu quả tri thức, chất xám của các viện/trường vào hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học – công nghệ, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Thứ bảy, phát triển được đội ngũ nhân lực quản lý, kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển CNHT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp về đào tạo, đặc biệt là đội ngũ lao động trẻ có trình độ vào các ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp của thành phố như: điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo máy, thiết kế thời trang,… để làm chủ các công nghệ được chuyển giao… Khuyến khích và tạo điều kiện để các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia tích cực vào quá trình đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật. Kết nối doanh nghiệp – hiệp hội – trường viện xây các chương trình đào tạo gắn với thực thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Tranh thủ sự giúp hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực cho CNHT; đầu tư hợp tác trong và ngoài nước để nâng cao năng lực của mạng lưới cơ sở dạy nghề của thành phố. Củng cố, tăng cường phát triển hệ thống đào tạo nghề, nâng cao cơ sở vật chất để đảm bảo đào tạo nghề chất lượng cao trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Thứ tám, nghiên cứu hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước liên quan đến nhóm ngành CNHTđể tạo động lực phát triển kinh tế.

Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo quy trình ISO, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, minh bạch và công khai thủ tục hành chính và rút ngắn hơn nữa thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp CNHT…

Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ công chức; tăng cường tính phục vụ, hỗ trợ, tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp; tiến hành rà soát, bổ sung, thay thế các chủ trương, chính sách, văn bản của thành phố về hỗ trợ doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tế và định hướng phát triển thành phố trong giai đoạn hiện nay.

_______________

Tài liệu tham khảo:

1.  Nghị Quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020.

2.  Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 – 2020)

3.  Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ;

4.  Thông tư  số 55/2015 – BCT ngày 30/12/2015 của Bộ công thương về quy định trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc danh mục sản phẩm CNHT.

5.  Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của Bộ Công nghiệp;

6.  Quyết định 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ;

7.  Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26/8/2011 về Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển;

8.  Quyết định số 1556/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực vực công nghiệp hỗ trợ”;

9.  Quyết định số 4123/QĐ-UBND ngày 26 tháng 8 năm 2015 của ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh về thành lập Trung tâm phát triển CNHT

 

ThS Phạm Thành Kiên

Sở Công thương Tp. Hồ Chí Minh

 

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền