Trang chủ    Thực tiễn    Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Thứ hai, 15 Tháng 5 2017 10:45
4785 Lượt xem

Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi

(LLCT) - Xóa đói giảm nghèo là một trong nhữngvấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội và là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, xác định là một mục tiêu quan trọng phát triển đất nước.

Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải miền Trung, có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 13 huyện (6 huyện miền núi, 1 huyện trung du, 5 huyện đồng bằng, 1 huyện đảo); dân số hơn 1,2 triệu người, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Được sự quan tâm của Chính phủ, bộ, ngành nên công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:

Năng lực tổ chức, ý thức thực hiện XĐGN được nâng lên cả trong cán bộ, đảng viên và cộng đồng dân cư. Hầu hết các hộ nghèo DTTS, hộ ở các huyện miền núi đều được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách giảm nghèo của Nhà nước, các dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cơ bản.

Các chính sách XĐGN mới có tính đặc thù (Nghị quyết 30a,...), được triển khai đã tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS. Tỉnh ưu tiên bố trí các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, đầu tư xây dựng các công trình đã có tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người nghèo.

Nông thôn miền núi tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều thay đổi, cải thiện về nhà ở, các công trình trường học, trạm y tế, điện, giao thông, thủy lợi,... nâng cao mức độ hưởng thụ, trình độ dân trí cho người dân.

Hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất, như: giống, cây trồng, vật nuôi, phân bón; chuồng trại; được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; kiến thức sản xuất của người dân được nâng lên rõ rệt, giúp cho người dân dần thay đổi tập quán canh tác và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm.

Việc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống, xây dựng nông nghiệp, nông thôn. Chính sách tăng cường cán bộ về xã và đảm nhiệm vị trí lãnh đạo theo đề án 600 trí thức trẻ đã góp phần ổn định công tác cán bộ ở các xã nghèo, giúp xã tổ chức triển khai, thực hiện tốt hơn các chương trình mục tiêu, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn những hạn chế, tồn tại trong xóa đói giảm nghèo: tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn cao so với tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước (cuối năm 2016còn 13,06%, cả nước 5%). Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi vẫn còn cao: 25.392 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 41,93% tổng số hộ đồng bào dân tộc. Trong công tác xóa đói giảm nghèo, cơ chế quản lý, điều hành vốn các chương trình chưa đồng bộ giữa ngành và địa phương nên khó theo dõi thực hiện. Công tác chỉ đạo điều hành phối hợp chưa nhất quán, còn lúng túng, nhất là về tài chính nên chưa tự chủ xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện. Thực hiện chế độ thông tin báo cáo chưa kịp thời, do đó việc theo dõi chỉ đạo, đánh giá và tổng hợp báo cáo còn chậm. Chính sách về hỗ trợ đất sản xuất, về phương tiện và khoa học công nghệ áp dụng vào sản xuất cho đồng bào dân tộc chưa phát huy được hiệu quả. Việc lựa chọn các công trình đưa vào danh mục đầu tư với quy mô lớn nhưng thiếu vốn, do đó, việc lập các thủ tục chậm dẫn đến công tác giải ngân không kịp thời, phải điều chỉnh chuyển đổi danh mục đầu tư nhiều lần. Thực hiện cấp vốn sự nghiệp để mua cây, con giống hỗ trợ sản xuất cũng còn chậm, nguyên nhân do huyện còn lúng túng trong việc xây dựng phương án và nhu cầu hỗ trợ sản xuất để có cơ sở cấp vốn. Chưa có quy định, định mức cụ thể về hỗ trợ vốn sự nghiệp 30a. Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn thực hiện chưa tốt, thiếu tính thường xuyên, vì người dân ít tham gia đăng ký học. Nội dung, chương trình đào tạo nghề còn nặng về lý thuyết, chưa thực sự phù hợp với trình độ nhận thức của lao động dân tộc, còn một số quy định, định mức về hỗ trợ (tiền ăn, đi lại…) chưa phù hợp. Tỷ lệ hộ nghèo tuy có giảm nhưng chưa vững chắc, tình trạng lao động còn thiếu việc làm, nhất là lao động nông thôn; đời sống một bộ phận dân cư còn khó khăn, thu nhập thấp, còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn hạn chế.

Nguyên nhân của vấn đề này là do nhận thức của người DTTS về chính sách XĐGN chưa đầy đủ, bản thân người nghèo chưa nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo, hạn chế về ngôn ngữ, còn tâm lý tự ti, mặc cảm. Do nhiều chính sách hỗ trợ dẫn đến một số gia đình dân tộc ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Tâm lý bảo thủ, thích giữ một số phong tục tập quán lạc hậu, nạn tảo hôn, sinh nhiều con, mê tín… vẫn còn diễn ra. Mặt khác, các chính sách, dự án giảm nghèo chưa thật sự phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù. Công tác kiểm tra, rà soát, đánh giá chính sách chưa được thực hiện thường xuyên. Để công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện một cách hiệu quả đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi cần quán triệt một số giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, nhóm giải pháp chung giảm nghèo bền vững:

- Chú trọng tiếp cận địa bàn.Đảng uỷ, chính quyền các huyện cần tập trung chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các xã, thôn xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng hộ nghèo để tư vấn, giúp đỡ về mọi mặt, đến từng hộ để khảo sát, tìm hiểu kỹ về gia cảnh, động viên, thuyết phục họ nỗ lực phấn đấu vươn lên. Với xã có hộ nghèo chủ yếu là người đồng bào dân tộc thì cán bộ làm công tác giảm nghèo biết tiếng dân tộc là rất quan trọng, đây là điều kiện để cán bộ trực tiếp vận động các hộ nghèo, thuyết phục, động viên hiệu quả hơn. Đối với những xã không có đủ nguồn lực tài chính và xây dựng nội dung, chương trình trình cho cán bộ học tiếng dân tộc, huyện, tỉnh và Trung ương cần ban hành chính sách đào tạo phù hợp. Hơn nữa, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, nắm bắt thông tin đối với các hộ mới thoát nghèo là rất quan trọng để giảm thiểu tái nghèo.

- Nâng cao ý thức, ý chí phấn đấu thoát nghèo.Việc này không chỉ thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục thông thường. Thực tế, một bộ phận người dân khi còn được hưởng nhiều lợi ích của hộ nghèo vẫn muốn được ở diện hộ nghèo để tiếp tục thụ hưởng các hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra, có tình trạng hộ nghèo muốn tách hộ để trở thành nhiều hộ nghèo và được hưởng lợi nhiều hơn từ các chương trình giảm nghèo. Để người dân thực sự muốn thoát nghèo, đặc biệt đối với những hộ mới thoát nghèo, Nhà nước cần duy trì một số chính sách để họ được hưởng các lợi ích có được của hộ nghèo trong một thời gian nhất định để họ có điều kiện phát triển kinh tế giúp thoát nghèo bền vững. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, vận động, nhân rộng các mô hình, tấm gương thoát nghèo để các hộ nghèo khác phấn đấu và thấy được việc thoát nghèo là đáng tự hào. Nếu thực hiện tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân và tạo động lực cả về vật chất và tinh thần để họ phấn đấu đi lên.

- Đánh giá, rà soát phân loại hộ nghèo để có giải pháp cụ thể cho từng loại. Cụ thể:

Loại 1:đối với các gia đình già yếu, bệnh tật, thiếu lao động, không có khả năng thoát nghèo, cần vận động xã hội hỗ trợ và thực hiện chính sách xã hội để bảo đảm an sinh xã hội. Về lâu dài, xếp những đối tượng này vào diện bảo trợ xã hội thường xuyên.

Loại 2:Có nhân lực, có nhu cầu lao động nhưng thiếu tư liệu sản xuất, thiếu việc làm. Đây là nhóm có khả năng thoát nghèo cao. Đối với đối tượng này cần tập trung cho vay vốn, hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo việc làm để thoát nghèo. Tùy vào điều kiện từng xã của huyện có thể thực hiện các mô hình “2 hộ giàu giúp 1 hộ nghèo”, hay mỗi chi bộ, mỗi đoàn thể giúp 1 hộ thoát nghèo,…

Loại 3:Không chịu lao động, không biết tổ chức cuộc sống, sa vào các tệ nạn, nghiện ngập, ỷ lại, trông chờ. Đây là nhóm khó chuyển biến nhất. Do vậy, cần tuyên truyền vận động chuyển hoá thành hộ nghèo loại 2 trước khi hỗ trợ vốn, tư liệu sản xuất. Nếu không, các khoản hỗ trợ sẽ không có tác dụng, hiệu quả. Vì khi được hỗ trợ họ lại bán để lấy tiền tiêu dùng. Như vậy, họ vẫn nghèo.

Với những hộ có quá ít đất sản xuất, không có thu nhập thêm ngoài làm nông nghiệp đơn giản, cần nghiên cứu, hướng dẫn để họ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thổ nhưỡng và điều kiện sản xuất dược liệu,... Trong chuyển đổi cây trồng, cần phải có sự quan tâm của huyện, tỉnh với các đề án tổng thể và tầm nhìn dài hạn, phối hợp trên toàn địa bàn và thậm chí là phối hợp liên vùng.

Đối với những hộ nghèo, có lao động, nhưng không biết tiếng Kinh và không thể tự tìm việc, cần xây dựng kế hoạch dạy tiếng Kinh. Hơn nữa, chính quyền cần có kế hoạch hỗ trợ tìm kiếm, giới thiệu việc làm cho lao động nghèo. Tuyên truyền, vận động lao động trẻ sẵn sàng đi xuất khẩu lao động.

- Chú trọng công tác cán bộ.Cốt lõi cho mọi kế hoạch giảm nghèo là đội ngũ cán bộ trực tiếp tổ chức thực hiện. Thực tế ở cơ sở cho thấy, năng lực của cán bộ còn yếu, sự nhiệt tình, quan tâm tới đời sống của người dân chưa cao; không nhiều cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo thông thạo tiếng dân tộc là rào cản lớn trong công tác tuyên truyền, vận động. Do vậy, cần có kế hoạch cụ thể về công tác cán bộ. Một trong những giải pháp quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc để thuyết phục, hướng dẫn đồng bào thoát nghèo.

- Xây dựng một số chính sách đặc thù. Trong thời gian tới, việc XĐGN đối với các huyện miền núi phải thực hiện rà soát lại những nét đặc thù, xây dựng một số chính sách riêng cho từng địa phương trên cơ sở chính sách của Chính phủ.

Các chính sách hỗ trợ người nghèo vùng DTTS cần chuyển dần từ việc hỗ trợ trực tiếp thành việc hỗ trợ sinh kế là chủ yếu. Gắn trách nhiệm của người được hưởng lợi vào hiệu quả của các chương trình hỗ trợ. Việc xây dựng các chính sách, các chương trình mới cần quan tâm hơn đến vấn đề phối hợp ngay từ khâu thiết kế chính sách để tạo cơ sở phối kết hợp, lồng ghép trong tổ chức thực hiện, nhưng không làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như khả năng gọi vốn đầu tư nước ngoài của mỗi chương trình.

Hai là, nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; nâng cao thể chất lực lượng lao động; đào tạo nghề, việc làm, hỗ trợ sinh kế cho người nghèo. Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân nghèo đói không chỉ do môi trường, điều kiện địa lý mà còn do hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân, từng hộ gia đình, trong đó mấu chốt là vấn đề tri thức. Do vậy, cần xây dựng chương trình “xóa nghèo tri thức đối với người nghèo dân tộc thiểu sô”. Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đối với 100% trẻ em. Áp dụng giáo dục bắt buộc 9 năm miễn phí cho học sinh nghèo, được phát sách giáo khoa, tập vở miễn phí, được phụ cấp gạo mỗi tháng, miễn phí toàn bộ học phí. Sẽ hiệu quả hơn rất nhiều khi trình độ học vấn, tư duy nhận thức của trẻ em được nâng lên, các em sẽ cùng với cộng đồng tác động làm thay đổi tư duy những người trưởng thành là ông, bà, cha mẹ.

- Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số: Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, không để các trạm y tế quá xa khu dân sinh sống, người dân đến cấp cứu, thăm khám được kịp thời, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, điều trị nội trú của nhân dân cũng như của người nghèo. Đa dạng hóa các hình thức khám chữa bệnh miễn phí, giảm phí, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho người nghèo, đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em như xây dựng chương trình dinh dưỡng đối với trẻ em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ… Tiếp tục thực hiện kéo dài thời hạn điều động luân chuyển cán bộ y tế các tuyến trên về công tác có thời hạn ở cơ sở. Có chính sách thỏa đáng để khuyến khích các bác sĩ đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc.

Ba là, các giải pháp hỗ trợ sinh kế, nâng cao thu nhập cho người nghèo:

- Thực hiện các biện pháp phát triển rừng, nghề rừng, nông – lâm kết hợp và các hoạt động kinh tế khác để thực hiện đanh canh, định cư, ngăn chặn nạn đốt phá rừng.

- Thực hiện hỗ trợ người nghèo dân tộc biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro, như: hỗ trợ vật chất trực tiếp cho người nghèo trong những rủi ro đột xuất do thiên tai, dịch bệnh…, hỗ trợ một phần giúp người nghèo tham gia các hoạt động kinh tế: giống cây trồng, giống con nuôi, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu… cùng với những hỗ trợ về vật chất cho người nghèo trên cơ sở hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế tùy theo điều kiện gia đình.

- Bố trí cán bộ khuyến nông cơ sở để giúp người dân áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và lựa chọn được giống cây, con và mô hình sản xuất thích hợp. Từng bước hướng dẫn người nghèo sản xuất được hàng hóa tập trung và tiếp cận thị trường để có những sản phẩm có giá trị cao trên thị trường.

Bốn là, nhóm giải pháp nâng cao nhận thức, phối hợp tổ chức thực hiện chính sách của các cấp, các ngành và người dân.

- Đổi mới cơ chế quản lý và thực hiện XĐGN. Phối hợp lồng ghép các chính sách hỗ trợ người nghèo trong chương trình phát triển KT-XH của địa phương để hỗ trợ tốt nhất khả năng tự vươn lên thoát nghèo, làm giàu cho các hộ dân trong mỗi cụm dân dư. Huy động sự tham gia của người dân vào hoạt động XĐGN bằng cách: Nhà nước đầu tư, hỗ trợ xây dựng, người dân tham gia đóng góp bằng lao động và các vật liệu sẵn có tại địa phương. Thực hiện phân cấp quản lý linh hoạt phù hợp với trình độ và khả năng của mỗi cấp, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan. Xây dựng các chính sách hỗ trợ nhóm hộ cận nghèo, nhóm hộ mới thoát nghèo để họ cũng được tiếp tục hưởng chính sách trợ giúp về tín dụng, về khuyến nông – lâm, học nghề trong một thời gian nhất định để có đủ tiềm lực và vững vàng hơn khi tự vươn lên thoát nghèo, bỏ xa ngưỡng nghèo, tránh tình trạng bị rơi xuống dưới ngưỡng nghèo hoặc tái nghèo khi gặp rủi ro (thiên tai, đau ốm, tai nạn,….).

- Đẩy mạnh tuyên truyền để người nghèo chủ động vượt khó, có ý thức thoát nghèo. Nội dung tuyên truyền phải thiết thực, cụ thể để người dân hiểu được vì sao phải xóa đói giảm nghèo và trách nhiệm mỗi người.

- Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và truyền thông bằng tiếng DTTS

Nâng cao năng lực cho đài phát thanh - phát lại truyền hình huyện và đài truyền thanh của các xã: Tìm hiểu nhu cầu thông tin của người DTTS, cải thiện các chương trình phát thành, làm hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu thông tin của người dân. Tập huấn thực hiện các chương trình phát thanh DTTS hiện đại; Tập huấn, tham quan học tập việc thực hiện các chương trình phát thanh tương tác.

Năm là, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, bất cập để có sự điều chỉnh kịp thời hoặc có các biện pháp xử lý, chỉnh đốn thực hiện nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chính sách để phù hợp với thực tế; có cơ chế khuyến khích các tổ chức đoàn thể, hộ nghèo là người đồng bào dân tộc tham gia vào quá trình giám sát thực hiện chính sách.

- Thường xuyên đánh giá chính sách để tìm ra những mô hình tốt nhất. Từ đó đưa ra các chính sách linh hoạt, phát huy được tính chủ động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương ở các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộcvới những đặc điểm, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tập quán và dân trí rất khác nhau.

Với truyền thống cần cù, chịu khó cùng với sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự triển khai đồng bộ các giải pháp cơ bản nêu trên sẽ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện tốt chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

                                                                     ThS Đào Văn Quang

                                                               Trường Chính trị Quảng Ngãi

 

Các bài viết khác