Trang chủ    Thực tiễn    Phát triển đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thứ sáu, 22 Tháng 12 2017 11:47
897 Lượt xem

Phát triển đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

(LLCT) - Trong sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đang ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng, quyết định. Tuy vậy, sự phát triển của công nhân Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu; trong đó vấn đề đội ngũ công nhân lành nghề vẫn đang là một điểm “nghẽn” của sự phát triển. Vì vậy, xác định những giải pháp nhằm phát triển đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Sau hơn 30 năm đổi mới, đặc biệt là trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH từ Đại hội VIII (1996) đến nay, giai cấp công nhân nước ta đã có bước phát triển nhanh, có nhiều chuyển biến tích cực về mọi mặt, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển đất nước. Vì vậy, quan tâm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh là yêu cầu của sự nghiệp phát triển toàn diện đất nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ mới.

1. Vị trí, vai trò của đội ngũ công nhân lành nghề trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

C.Mác - Ph.Ăngghen khẳng định: Giai cấp công nhân hiện đại là sản phẩm và là chủ thể của nền “đại công nghiệp”: “Giai cấp vô sản là do cách mạng công nghiệp sinh ra”(1); “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy… Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”(2). Nền công nghiệp đã rèn luyện tác phong công nghiệp, lối sống và nhiều phẩm chất như: hợp tác, đoàn kết, kỷ luật, vị tha cho giai cấp công nhân; tạo tiền đề cho một giai cấp cách mạng và làm chủ trong tương lai.

Sản xuất vật chất là yếu tố quyết định tồn tại xã hội. Do gắn liền với quá trình sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp, giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất và là giai cấp quyết định quá trình phát triển của xã hội hiện đại. Giai cấp công nhân ở chế độ chính trị nào cũng là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp mang tính chất xã hội hóa cao, tạo ra nhiều của cải, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Qua đó, họ tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời xã hội mới. Từ vị thế của mình, giai cấp công nhân thông qua cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội hóa mạnh mẽ để tăng năng suất lao động và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Mang đặc trưng chung của giai cấp công nhân thế giới, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong quá trình hình thành và phát triển nền sản xuất công nghiệp, gắn liền với phương thức sản xuất tiên tiến. Vì vậy, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò đầu tầu trong sự phát triển đất nước.

Đảng ta luôn coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ công nhân lành nghề. Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” xác định: Giai cấp công nhân là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh(3). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Bổ sung, phát triển năm 2011)khẳng định: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4).

Trước đổi mới, số lượng công nhân nước ta là 3,7 triệu người; năm 2013 gần 11 triệu người: 2 triệu công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, 1,6 triệu công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số còn lại là trong các doanh nghiệp tư nhân. Tuy chỉ chiếm khoảng 23% lực lượng lao động xã hội, công nhân Việt Nam đang nắm giữ những cơ sở vật chất quan trọng nhất và có tính quyết định tới phương hướng phát triển kinh tế - xã hội. Hằng năm, công nhân và công nghiệp tạo ra khoảng 70% tổng giá trị sản phẩm trong nước, bảo đảm khoảng 60% nguồn thu của ngân sách nhà nước(5). Giai cấp công nhân Việt Nam, trong đó bộ phận đội ngũ công nhân trí thức, công nhân lành nghề đang ngày càng khẳng định vai trò, vị trí to lớn của mình trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta đang bước vào giai đoạn mới với nhiều cơ hội, thuận lợi, nhưng không ít khó khăn, thử thách. Đảng ta xác định: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(6). Nhiệm vụ CNH, HĐH trong giai đoạn tới là “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”(7). Quá trình này yêu cầu giai cấp công nhân phải phát triển về mọi mặt, nhất là trình độ học vấn và tay nghề để thực sự là những người lao động có tay nghề cao, đáp ứng tốt nhất yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất. Như vậy, vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, trong đó có đội ngũ công nhân lành nghề trong việc hình thành, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước rất quan trọng.

2. Thực trạng đội ngũ công nhân lành nghề ở nước ta hiện nay

Một trong các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm, giai đoạn 2016-2020 là: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.

Cùng với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, “Công nhân nước ta đang tiếp tục tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu theo ngành nghề và thành phần kinh tế. Trong đó, số công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh và chiếm tỷ lệ ngày càng lớn”(8). Số lượng công nhân trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp năm 2013 tăng 1,66 lần so với năm 2005. Trong đó, công nhân trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 2,43 lần; công nhân trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,5 lần. Bộ phận công nhân khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã xuất hiện và phát triển nhanh trong thời kỳ mới. Nếu như năm 2005 có gần 99 nghìn doanh nghiệp với 2,8 triệu công nhân thì đến năm 2010 có gần 269 nghìn doanh nghiệp với gần 6 triệu công nhân; năm 2013, khu vực này tăng lên 359.794 doanh nghiệp với 6.854,8 nghìn công nhân. Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng bộ phận công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2005, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thu hút được 1.220,6 nghìn công nhân, lao động trong 3.697 doanh nghiệp. Năm 2010 tăng lên 2.156,1 nghìn công nhân, lao động trong 7.248 doanh nghiệp. Năm 2013 tăng lên 2.050,9 nghìn công nhân, lao động trong 10.220 doanh nghiệp. Năm 2013, cả nước có 289 khu công nghiệp, trong đó 190 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, thu hút 2,1 triệu công nhân lao động(9).

Trong sự nghiệp CNH, HĐH gắn với nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức. Đây là lực lượng lao động đã qua quá trình đào tạo cơ bản, có trình độ năng lực cao, năng động, sáng tạo, tiếp cận nhanh với khoa học - công nghệ tiên tiến, thích ứng với cơ chế thị trường được bổ sung vào giai cấp công nhân, tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp. Nhờ đó, một số ngành kinh tế mũi nhọn, như: điện lực, dầu khí, điện tử, tin học, viễn thông, ngân hàng, du lịch dịch vụ… phát triển. Giai cấp công nhân nước ta đã có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề; là lực lượng sản xuất cơ bản, đang trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vận hành và sử dụng các công cụ sản xuất, bao gồm cả các phương tiện sản xuất hiện đại, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống; một bộ phận công nhân chậm thích thi nghi với cơ chế thị trường.

Sự phát triển của công nhân nước ta đang vấp phải trạng thái tới hạn(11)của nguồn nhân lực. Phát triển về lượng (ở tầm vĩ mô), chưa thực sự là một quá trình được điều tiết hợp lý và chủ động kiểm soát. Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó trọng tâm là sản xuất công nghiệp, tạo ra một số lượng lớn lực lượng công nhân, nhưng lại sử dụng không hợp lý, thậm chí còn “lãng phí”. Bên cạnh đó, một lượng lớn công nhân nước ta hiện nay vẫn đang làm việc trái với nghề được đào tạo.

Số lượng công nhân nước ta tăng tương đối chậm so với các nước khác có cùng thời điểm đẩy mạnh CNH. Để tăng lượng lao động công nghiệp lên khoảng 50% trong tổng số lao động xã hội, Nhật Bản (những năm 50 và 60 của thế kỷ XX) và Hàn Quốc (những năm 70 của thế kỷ XX) chỉ mất khoảng 10 - 15 năm… Trong khi đó, ở Việt Nam nếu như năm 2005 giai cấp công nhân nước ta là khoảng 7 triệu người, chiếm 9,14% dân số, 17,49% lực lượng lao động xã hội thì sau gần 10 năm, năm 2013, tổng số công nhân nước ta mới có khoảng 11,5 triệu người, chiếm 12,9% dân số, 21,7% lực lượng lao động xã hội.

Về chất lượng, hiện nay, đa số công nhân nước ta có trình độ tay nghề, kỹ thuật thấp. Hiện nay, chúng ta thiếu nhiều công nhân tay nghề cao và lành nghề. Hạn chế rõ nhất là khả năng cập nhật công nghệ và tính chuyên sâu còn thấp. Nhiều công nhân ở nước ta dù có thời gian lao động lâu năm nhưng chưa thành thục về tay nghề. Do công nhân không có trình độ kỹ thuật, người sử dụng lao động đã chia nhỏ các công đoạn kỹ thuật ra thành các khâu đơn giản nhất để thu hút được nhiều lao động rẻ. Bởi vậy, có nhiều công nhân trong một dây chuyền công nghiệp sau nhiều năm làm việc nhưng chỉ thuần thục một công đoạn nhỏ. Năng lực kỹ thuật của công nhân, vì vậy, khó có điều kiện hoàn thiện.

Những hạn chế đó làm cho vai trò đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế của giai cấp công nhân còn nhiều khó khăn. Những bất cập, hạn chế trên vừa cản trở vừa mâu thuẫn với vị thế, vai trò của giai cấp công nhân nước ta trước sứ mệnh lịch sử to lớn.

3. Một số biện pháp nhằm phát triển đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ nhất, nhất quán quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Từ đó, tạo động lực để giai cấp công nhân phát triển, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Đối với người lao động, động lực trực tiếp là lợi ích vật chất và tinh thần như: việc làm, thu nhập, đời sống, mức độ thụ hưởng chính trị, văn hóa, tinh thần... Do đó, cần môi trường lao động bền vững, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho công nhân. Đảng ta đã xác định: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,… để đảm bảo quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân”(11). Đây là điều kiện tạo sự lan tỏa mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để xây dựng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thứ hai, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng kịp thời trình độ phát triển của khoa học - công nghệ.

Mục tiêu xuyên suốt của công tác đào tạo nghề là chuyển hóa lao động giản đơn thành lao động trình độ cao. Theo đó, đào tạo nghề cho công nhân cần hướng vào nâng cao trình độ công nghệ, tạo ra bề rộng về mặt xã hội(12). Giải quyết vấn đề thang giá trị của công nhân chưa được coi là một chuẩn mực của giá trị xã hội. Phải định hướng nhận thức xã hội về lao động sản xuất vật chất, công nhân là nghề nghiệp được tôn vinh, là lĩnh vực lao động mà người lao động có thể sống khá giả và làm giàu chính đáng. Cần nhân rộng nhóm công nhân của một số ngành như: dầu khí, điện lực, bưu chính - viễn thông...

Đào tạo nghề cho công nhân hiện nay cần chú ý một số vấn đề: (i) Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách hướng nghiệp sớm cho người lao động. Thực hiện chính sách này tốt sẽ giúp cho thanh niên, học sinh định hướng được đúng đắn việc chọn nghề và hiểu rõ ý nghĩa của việc gia nhập đội ngũ công nhân, tạo điều kiện phát triển đội ngũ công nhân trẻ có trình độ cao. (ii) Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề một cách đồng bộ. Cần đổi mới hệ thống dạy nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế, nhằm bảo đảm sự cân đối ngay trong hệ thống giáo dục - đào tạo, giữa hệ thống giáo dục - đào tạo với phát triển kinh tế, giữa đào tạo và sử dụng, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao, trong đó đào tạo đáp ứng tốt đội ngũ công nhân lành nghề là yêu cầu trước nhất. (iii) Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho công nhân tự học, tự đào tạo, để không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ. Xây dựng, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo nghề hợp lý tiếp cận dần với chuẩn nghề chung của thế giới. Gắn đào tạo lý thuyết với thực hành, gắn đào tạo nghề với nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về ý thức hệ giai cấp công nhân và rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, tinh thần sáng tạo, đổi mới trong lao động sản xuất.

Thứ ba, chú ý việc xây dựng môi trường lao động hiện đại cho công nhân.

Môi trường lao động hiện đại là môi trường mà ở đó người lao động có cơ hội phát triển toàn diện, không chỉ gắn với hoạt động sản xuất mà còn được người sử dụng lao động và xã hội quan tâm đến các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm một môi trường lao động an toàn, thân thiện, hướng đến giá trị nhân bản, nhân văn cao đẹp. Vấn đề xây dựng một môi trường lao động hiện đại cho công nhân là yêu cầu quan trọng trong sự phát triển bền vững. Hiện nay, một số yêu cầu tối thiểu về môi trường lao động cho công nhân chưa được bảo đảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội chưa được giải quyết. “Tình trạng việc làm của công nhân, lao động không ổn định, thời gian làm việc kéo dài và cường độ làm việc rất cao, điều kiện làm việc ít được cải thiện, nên tai nạn lao động gia tăng... điều kiện sinh hoạt tinh thần cũng rất thiếu thốn...”(13), đến nay vẫn chưa được khắc phục. Để có môi trường lao động hiện đại là nỗ lực của nhiều tổ chức, bộ, ngành có liên quan đến quá trình sản xuất: luật pháp, cơ chế, giáo dục...

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2017

(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.457, 612.

(3) Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Trung ương 6, khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.15-16.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.80.

(5) Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014, tr.263.

(6), (7), (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.76, 90, 160.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.29.

(9) Xem Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2013, 2014, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2014- 015.

(10), (12) Xem Nguyễn An Ninh: Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.200, 213.

(13) Cù Thị Hậu: “Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh”(Tham luận tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X), Báo Lao động,ngày 20-4-2006.

 

tThS Nguyễn Văn Điều

Trường Chính trị Nghệ An

Các bài viết khác