Trang chủ    Thực tiễn    Kết quả xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Sơn La
Thứ năm, 04 Tháng 1 2018 16:18
494 Lượt xem

Kết quả xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Sơn La

(LLCT) - Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020,tỉnh Sơn La đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế, yếu kém trong công tác chỉ đạo, điều hành; chất lượng xây dựng quy hoạch đề án; việc phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới...đòi hỏi sớm có các giải pháp khắc phục.

Tỉnh Sơn La hiện nay gồm thành phố Sơn La và 11 huyện. Các huyện có diện tích tự nhiên 144.879,94 ha, trong đó đất nông nghiệp 114.005,45 ha, chiếm 77,53% diện tích tự nhiên của tỉnh, với dân số 889.052 người, gồm các dân tộc: Thái (96,23%), Mông (2,23%), dân tộc Kinh và dân tộc khác (1,54%) với 89 xã, 9 thị trấn. Dân cư của tỉnh phân bố khôngđều giữa các huyện: huyện có mật độ cao nhất là Mộc Châu bình quân 1.017 người/km2, huyện Thuận Châu:748 người/km2, huyện có mật dân số thấp nhất là Bắc Yên:513 người/km2 và huyện Sốp Cộp: 540 người/km2.

Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Chương trình số 23-CTr/TU của Tỉnh ủy Sơn La và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Sơn La khóa IX, Quyết định số 2966/QĐ-UBND ngày 1-12-2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La về việc đánh giá chấm điểm các tiêu chí xã nông thôn mới, Quyết định số 08/2009/QĐ-UBND ngày 7-4-2009 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành Đề án Nông nghiệp - nông dân - nông thôn, các huyện ủy đã tập trung lãnh đạo, xây dựng chương trình hành động và kế hoạch thực hiện, từng bước nâng cao đời sống nhân dângiai đoạn 2011-2015 và định hướng năm 2020. Kết quả là, tính đến tháng 6 -2017, toàn tỉnh có 10/89 xã đạt 19/19 tiêu chí. 

Thứ nhất, nhóm tiêu chí về quy hoạch

Ủy ban nhân dântỉnh đã phê duyệt Đềán Quy hoạch chung 89/89xã theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28-10-2011 giữaBộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường; phê duyệt quy hoạch chi tiết khu trung tâm 89/89 xã;ban hành quy chế quản lý quy hoạch và tổ chức công bố, công khai, quản lý và thực hiện quy hoạch theo quy định.Kết quả đánh giálà89/89 xã cơ bản đạt tiêu chí quy hoạch.

Thứ hai, nhóm tiêu chí về xây dựng kết cấu hạ tầng

Về giao thông:Các huyệnđã được đầu tư xây dựng 124,68 km vớikinh phí 340,017 tỷđồng; trong đó ngân sách trung ương là 55.744 triệu đồng, ngân sách tỉnh 166.974 triệu đồng, ngân sách huyện 93.611 triệu đồng, ngân sách xã và dân đóng góp 23.688,7 triệu đồng. Đến giữa năm 2017, hầu hết các xã đều có đường giao thông đến trung tâm xã. Riêng hệ thống giao thông liên xóm đa số các xã chưa đạt chuẩn do nguồn lực đóng góp trong dân còn hạn chế. Kết quả đánh giá là 17/89xã cơ bản đạt còn72/89 xã chưa đạt.

Về thủy lợi: Đối với các công trình thuộc nguồn vốn do tỉnh quản lý: có 26 công trình được khởi công, kinh phí là 318.939 triệu đồng đạt 96,2% kế hoạch. Riêng 22 xã điểm thi công 11 công trình bờ bao thủy lợi và 17 đập kiên cố hóa,đạt 98,8% kế hoạch. Kết quả đánh giá là 41/89xã đạt còn48/89 xã chưa đạt.

Về điện nông thôn: Năm 2014, có 76/89 xã đăng ký thực hiện đạt tiêu chí về điện. Tổng kinh phí đầu tư về tiêu chí điện toàn tỉnh là 12 tỷ đồng, riêng 22 xã điểm là 5.402 triệu đồng. Kết quả đánh giá là có 76/89 xãcó hệ thống điện đạt chuẩn nông thôn mới.

Về cơ sở vật chất trường học: 15/89 xã đạt 16,9%, tăng 8 xã so với năm 2013.

Về cơ sở vật chất văn hóa: 11/89 xã đạt.

Về chợ nông thôn: 63/89 xã đạt; 26/89 xã chưa đạt tiêu chí chợ (chiếm tỉ lệ 29,2%).

Về mạng lưới bưu chính viễn thông:đến nay 89/89 xã đạt tiêu chí này. Các xã tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng phục vụ.

Về nhà ở dân cư:25/89 xã đạt.

Thứ ba, nhóm tiêu chí về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất

Về thu nhập, năm 2017, có38/89 xã đạt tiêu chí thu nhập (42,7%), còn51/89 xã chưa đạt tiêu chí về thu nhập. Các mô hình phát triển kinh tếnâng cao thu nhập người dân được quan tâm đầu tư thực hiện và nhân rộng,bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần cải thiệnđáng kểđời sống người dân.

Về hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể nhờ các mô hình phát triển sản xuất nâng cao thu nhập, chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 4,57% (12.623 hộ nghèo). Đánh giá kết quả là 84/89 xã đạt về tiêu chí hộ nghèo.

Về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên: Chương trình giải quyết việc làm và giảm nghèo trên cơ sở lồng ghép đào tạo nghề cho lao động nông thôn và qua các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào phát triển sản xuất trong kế hoạch tái cơ cấu của ngành nông nghiệp đã góp phần tăng năng suất, hiệu quả trên một đơn vị diện tích. Đãcó 88/89 xã đạt tiêu chí này.

Về hình thức tổ chức sản xuất:Các huyện ở tỉnh Sơn La có 117 HTX và 1 Liên hiệp HTX (trong năm 2017 thành lập mới 6 HTX, và giải thể 2 HTX); có 1.843 tổ hợp tác (tăng 145 tổ hợp tác so với năm 2013). Đánh giá kết quả là 85/89 xã đạt về tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất.

Thứ tư, nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội- môi trường

Về giáo dục: Năm 2017, công tác phổ cập giáo dục trên địa bàn các huyện cơ bản hoàn thành. Phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt 22/22 xã điểm; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) đạt theo yêu cầu. Kết quả là 88/89 xã đạt tiêu chí giáo dục (đạt tỷ lệ 98,9%).

Về cơ sở vật chất ngành y tế:Năm 2017, Sở Y tế đã triển khai thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 trên địa bàn toàn tỉnh, đồng thời trình UBND tỉnh thành lập hội đồng công nhận trạm y tế đạt chuẩn. Với nguồn kinh phí đầu tư cho tiêu chí y tế tỉnh, đã xây dựng và mua sắm nhiều trang thiết bị cho các trạm y tế thuộc các xã nông thôn mới. Kết quả là 82/89 xã đạt chuẩntiêu chí y tế.

Về văn hóa: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hóa được tăng cường. Các cấp, các ngành và nhân dân đã tích cực tổ chức và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Phong trào đã góp phần hình thành nếp sống văn hóa, đoàn kết cộng đồng dân cư, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi tệ nạn xã hội, xây dựng khu dân cư ngày càng văn minh, giàu đẹp gắn với công tác xây dựng NTM. Kết quả đánh giá có66/89 xã đạt tiêu chí văn hóa.

Về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đến nay nhiều công trình cấp nước sạch sinh hoạt nông thôn được xây mới, cải tạo,sửa chữa, nâng cấp ngày càng hoàn thiện, phục vụ tốtđời sốngsinh hoạt, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân; nhiều hộ dân đã sử dụng máy lọc nước để phục vụ đời sống sinh hoạt. Đến nay tỷ lệ người dân được dùng nước hợp vệ sinh đạt 99% (trong đó tỷ lệ dân dùng nước sạch 38%), trên 60% gia đình có nhà vệ sinh hợp vệ sinh. Tỷ lệ chất thải nước thải được thu gom và xử lý 85%. Đánh giá kết quả là 33/89 xã đạt tiêu chí về môi trường.

Thứ năm, nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị

Về hệ thống chính trị:Nhìn chung, các xã đều đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh; các xã có đủ các tổ chức theo hệ thống chính trị và các đoàn thể của xã đều đạt loại khá trở lên. Đánh giá kết quả là 37/89 xã đạt tiêu chí về hệ thống chính trị.

Vềan ninh chính trị và trật tự xã hội,luôn bảođảm, tạo tư tưởng yên tâm cho nhân dân trên địa bàn. Đánh giá kết quả là 79/89 xã đạt tiêu chí an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, các cơ sở ở tỉnh Sơn La vẫn còn một số hạn chế sau:

Một là, công tác xây dựng quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới còn chậm, chất lượng còn hạn chế, chưa mang tính liên kết vùng. Trên thực tế, các quy hoạch đều do đơn vị tư vấn thiết kế được thuê thực hiện, một số quy hoạch chưa đáp ứng được yêu cầu, các đồ án quy hoạch chủ yếu mới chỉ đáp ứng được quy hoạch hạ tầng nông thôn, còn quy hoạch phát triển sản xuất thì còn yếu, hạn chế và manh mún. Bên cạnh đó, việc đơn vị tư vấn chưa đi sâu sát thực tế địa bàn, chưa nắm được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng; cán bộ xã chưa nắm chắc nội dung, quy trình, yêu cầu của quy hoạch... dẫn đến chất lượng, hiệu quả của các bản quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Các đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã còn nặng về phát triển cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đến các nội dung phát triển sản xuất, tăng thu nhập, văn hóa và môi trường.

Hai là, công tác chỉ đạo, điều hành tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Một số sở, ngành hướng dẫn thực hiện một số tiêu chí còn máy móc, thiếu chủ động, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên. Lãnh đạo một số địa phương chưa chủ động triển khai công việc. Nhiều ban chỉ đạo xã không nắm rõ nội dung quy hoạch, đề án của xã mình. Việc lựa chọn đầu tư các dự án thành phần còn nhiều lúng túng, chất lượng chưa cao. Sự phối hợp giữa các cơ quan chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân chưa chặt chẽ, chưa phát huy hết khả năng tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới.

Ba là, vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới còn mờ nhạt, nhiều người dân chưa thực sự hiểu rõ về nông thôn mới và có tâm lý trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ từ Nhà nước. Do đó, chương trình chưa huy động được các nguồn lực cần thiết từ người dân và cộng đồng. Các nội dung cần sự bàn bạc, cho ý kiến và quyết định của người dân chưa được thực hiện đầy đủ, còn mang tính hình thức. Mặt khác, do yếu tố kỹ thuật và sự phức tạp trong các quy hoạch, đề án, dự án nên ý kiến của người dân tham gia có chất lượng chưa cao.

Nguyên nhân làcông tác tuyên truyền tuy đã được triển khai rầm rộ, trên quy mô lớn, nhưng việc tuyên truyền ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, phong trào, chất lượng chưa cao, chưa làm cho người dân hiểu rõ được bản chất chương trình xây dựng nông thôn mới. Việc tuyên truyền tại xã, tại thôn, ấp còn bị cắt xén thời gian và nội dung; năng lực báo cáo viên còn hạn chế... đã làm giảm tính hiệu quả trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Bốn là, kết cấu hạ tầng nông thôn tuy đã được tăng cườngđáng kể nhưng nguồn lực đầu tư còn thấp so với yêu cầu. Thu nhập củangười dân còn thấp, sản xuất kém phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao, khả năng hỗ trợ còn hạn chế. Nguồn lực đầu tư cho xây dựng nông thôn mới còn hạn hẹp, nhất là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, sự hỗ trợ, ủng hộ của các tổ chức, doanh nghiệp chưa nhiều. Cơ sở hạ tầng nông thôn còn hạn chế, nhiều mô hình phát triển sản xuất chưa thật sự bền vững,dẫn đến khó khăn trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản.Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu cuộc sống; khả năng phát triển sản xuất kinh tế hộ còn gặp nhiều khó khăn; Đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn chưa được cải thiện đáng kể, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nhất là vùng cao, biên giới còn thấp.

Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng Chương trình xây dựng nông thôn mới, tỉnh Sơn La cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Các cấp, các ngành, các địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục,qua đó làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân thấy được mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quan trọng có tính chiến lược nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn. Nội dung tuyên truyền, giáo dục toàn diện song cần tập trung vào mục tiêu, nội dung và những tiêu chí xây dựng nông thôn mới gắn với đặc điểm, điều kiện của từng địa phương cụ thể. Đây là cơ sở để khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân. Cần làm cho mỗi người dân nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của mình trong xây dựng nông thôn mới; mục đích của Chương trình xây dựng nông thôn mới là phục vụ nhân dân, là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân,vì vậy các cấp cần thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Hai là, nghiên cứu và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với đặc điểm của từng địa phương bảo đảm xây dựng nông thôn mới thực chất, hiệu quả.

Tỉnh Sơn La có điều kiện địa hình phức tạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các xã có diện tích lớn, khoảng cách giữa các thôn, bản khá xa trong khi hạ tầng giao thông,đi lại khó khăn. Do vậy, để xây dựng nông thôn mới có hiệu quả cần có cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng địa phương. Quá trình nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới cần chú trọng địa bàn thôn, bản.Trong đầu tư cần ưu tiên thực hiện trước các tiêu chí như đường giao thông, thủy lợi, an ninh trật tự, môi trường, trường học, giảm tỷ lệ hộ nghèo…

Ba là, chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, trực tiếp góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống người dân.

Trên cơ sở quy hoạch và rà soát quy hoạch sản xuất,cần thực hiện xây dựng cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với từng thôn, bản, xã; lựa chọn phát triển tập trung một số cây trồng, vật nuôi chính, có khả năng cạnh tranh để tập trung sản xuất, đồng thời có giải pháp nhân rộng các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn.

Đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản. Trong ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ,cần chú ý lựa chọn những quy mô phù hợp với từng địa bàn, từng dân tộc,tránh chạy theo hình thức, kém hiệu quả; coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tại chỗ là người dân tộc thiểu số; tăng cường “liên kết bốn nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) trong nâng cao hiệu quả sản xuất.

Bốn là, huy động có hiệu quả mọi nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới. Thực tiễn ở tỉnh Sơn La thời gian qua chỉ ra, ở đâu các nguồn lực được huy động và sử dụng có hiệu quả thì ở đó Chương trình xây dựng nông thôn mới thu được nhiều kết quả tích cực. Do vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội, các lực lượng,qua đó huy động mọi nguồn lực để thực hiện xây dựng nông thôn mới. Coi trọng việc lồng ghép nguồn vốn thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới với nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác trên cùng địa bàn nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tự nguyện ủng hộ và tham gia gia xây dựng các công trình nông thôn mới trên địa bàn thôn, bản, xã. Coi trọng công tác quản lý, giám sát gắn với thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sử dụng các nguồn lực xây dựng nông thôn mới, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh mọi biểu hiện tiêu cực, lãng phí.

_____________

Tài liệu tham khảo:

1.  Thủ tướng Chính Phủ: Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Hà Nội.

2.  Tỉnh ủy Sơn La:Báo cáo số 116-BC/TU ngày 14-10-2013về sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TU ngày 12/8/2011 về xây dựng nông thôn mới tỉnh Sơn La, giai đoạn 2011-2020, Sơn La.

3.  Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Báo cáo số 45/BC-UBND ngày 10-4-2014 vềsơ kết 03 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Sơn La, Sơn La.

Nguyễn Phương Thảo

Ban Tổ chức Tỉnh ủy Sơn La

 

Các bài viết khác