Trang chủ    Thực tiễn    Phong trào đền ơn đáp nghĩa - sự phát triển mới của đạo lý uống nước nhớ nguồn
Thứ tư, 24 Tháng 1 2018 16:43
480 Lượt xem

Phong trào đền ơn đáp nghĩa - sự phát triển mới của đạo lý uống nước nhớ nguồn

(LLCT) - Độc lập là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia dân tộc. Các thế hệ nhân dân Việt Nam đã nối tiếp nhau anh dũng chiến đấu, cống hiến hy sinh để bảo vệ quyền thiêng liêng đó. Từ quá trình lịch sử đấu tranh giữ nước, đạo lý hiếu nghĩaUống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đã trở thành bản sắc nổi bật của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đạo lý đó là mạch nguồn hun đúc nên khí phách con người Việt Nam, là bệ đỡ của lòng yêu nước, tinh thần dân tộc quật cường, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do.

1. Từ đạo lý hiếu nghĩa bác ái truyền thống đến quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác đền ơn đáp nghĩa

Trong thời đại mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nối và phát triển truyền thống đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn”thành công tác quan trọng “đền ơn đáp nghĩa” và trở thành phong trào hành động sâu rộng, một nét đẹp xã hội Việt Nam.

Chương trình Việt Minh(1941), khi phác họachế độ xã hội mới sau khi giành được độc lập đã nêu: “Binh nhân: hậu đãi những người có công giữ gìn Tổ quốc, phụ cấp cho gia đình họ đầy đủ”(1). Đất nước vừa độc lập chưa đưa bao lâu, chiến tranh dần lan rộng, số người bị thươngvàhy sinh tăng lên, đời sống của những chiến sỹbị thương khó khăn, Chính phủ đã ra một số chính sách để bảo đảmđời sống củathương binh, gia đình liệt sĩ. Từ Hội giúp binh sĩ bị nạn (sau đổi thành Hội giúp binh sỹ bị thương) ra đời ở Thuận Hóa đầu năm 1946, đến Hà Nội và một số địa phương khác. Ở Trung ương có Tổng hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự.

Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL đặtchế độ “hưu bổng, thương tật”và “tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”.

Tiếp đó, tháng 6- 1947, thực hiện đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày là Ngày Thương binh để đồng bào cả nước có dịp tỏ lòng tri ân với những người đã cống hiến vì Tổ quốc, đại biểu Việt Minh, các đoàn thể, bộ ngành và một số địa phương đã họp bàn và chọn ngày 27- 7 là “Ngày Thương binh toàn quốc”(từ tháng 7-1955, đổi thành Ngày Thương binh, Liệt sĩ).Từ đây, Ngày Thương binh Liệt sĩ là “dịp để đồng bào tỏ ta lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ lòng yêu mến thương binh”(2), lòng tri âncủa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập,tự do vàthống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Những tình cảm trong cuộc sống, những hành động và những chỉ dẫn sâu sắc và cụ thể của Người đã để lại di sản quý báu về công tác thương binh, liệt sĩ.

Một là, Người luôn dành tình cảm tri ân sâu nặng với thương binh, liệt sĩ

Giữa tình thế cách mạng khó khăn những ngày đầu độc lập, Người vẫn dành sự quan tâm sâu sắc các thân nhân liệt sĩ. Ngày 7-11-1946, Người ra Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi, Người viết: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”(3). Người yêu cầu các địa phương trên toàn quốc phải lập tức báo cáo danh sách con liệt sĩ gửi về Văn phòng Chủ tịch Chính phủ.

Khi biết một chiến sĩ Vệ quốc đoàn, con trai bác sỹ Vũ Đình Tụng hy sinh đầu năm 1947, Người viết thư gửi bác sĩ: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”(4).

Người đồng cảm với các gia đình liệt sĩ, thương binh: “Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay, bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ trẻ thơ trở nên bà góa. Con dại trở nên bồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ.... Nhưng tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”(5).

Trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ tới đặt vòng hoa ở Đài liệt sĩ (ngày 31-12-1954). Người bày tỏ niềm thành kính: “Hỡi các liệt sĩ, Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ.... Một nén hương thành. Vài lời an ủi”(6).

Hai là, khẳng định, ghi ơn cống hiến hy sinhcủaliệt sĩ, thương binh cho đất nước

Trong thư gửi bác sỹ Vũ Đình Tụng, Người viết: “Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵng sàng hiến cho Tổ quốc. Cũng như các thanh niên khác, họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang quốc nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi”(7).

Thư ngày 17-7-1947, gửi Ban Thường trực Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, Người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh”(8).

Người viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.

Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(9).

Thư ngày 27-7-1948, Người viết: “Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ, con, dân ta.

Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào... Trong đó, có người đã bỏ lại một phần thân thể ở trước mặt trận. Có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ”(10).

Người tri ân với những cống hiến, hy sinh của các anh hùng vô danh, liệt sĩ, thương binh vì độc lập, tự do với Tổ quốc, Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. “Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh”(11).

Ba là, tôn vinh gương hy sinh vì nước, qua đó giáo dụcbồi đắp niềm tự hào dân tộc, tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường, xả thân vì độc lập, tự do

Để ghi nhận, tôn vinh những cống hiến, hy sinh, việc đầu tiên là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng, Nhà nước đặt ra Ngày Thương binh, Liệt sĩ 27-7. Người nói rõ ý nghĩa ngày 27-7 là ngày kỷ niệm, là dịp để những người yêu nước cùng tưởng nhớ đến thương binh, gia đình liệt sĩ, người vô danh anh hùng đã hy sinh vì độc lập. Đồng thời đặt ra các danh hiệu vinh dự Bảng vàng danh dự, Bằng gia đình vẻ vang và phong tặng, truy trặng các danh hiệu anh hùng, huân, huy chương cho các liệt sĩ, thương binh; lập tượng đài, đền thờ,...

Người yêu cầu từ tình cảm biết ơn phải chuyển hóa thành hành động thực tế, đó là noi theo tinh thần xả thân, những gương hy sinh anh dũng: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại”.

Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”(12).

Bốn là, thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ là công việc quan trọng

Công tác thương binh liệt sĩ không chỉ là tình cảm mà là nhiệm vụ của chính quyền và bổn phận của toàn dân với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, là trách nhiệm chính trị của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, của các cấp, các ngành và của toàn dân, không phải là việc làm phúc hay ban ơn. Người chỉ rõ: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”(13).

Tháng 2-1948, Người gửi thư dặn dò các cháu nhi đồng phát động công tác Trần Quốc Toản, với những tình cảm thiết tha: “...Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến, bằng cách giúp đỡ đồng bào...

Trước thì giúp các nhà chiến sỹ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ...”(14).

Nhân ngày 27-7-1950, Người nhấn mạnh công tác thương binh liệt sĩ là trách nhiệm của các đoàn thể: “Nhưng tôi mong rằng các đoàn thể văn hóa, công nhân, nông dân, phụ nữ, nhi đồng và bộ đội hoặc đến an ủi thương binh và gia đình tử sĩ hoặc viết thư hỏi thăm, ai sẵn quà gì thì biếu quà ấy để tỏ lòng thương mến”(15).

Tháng 7-1951, Người phát động phong trào “Đón thương binh về làng” và chỉ dẫn cụ thể: Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể mỗi xã phải tùy theo khả năng mà đón một số thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian. Không phải giúp bằng cách góp gạo nuôi thương binh, mà mỗi xã trích một phần ruộng công, nếu không có thì mượn, hoặc chung sức phát vỡ đất mới để giúp thương binh...

Trước lúc đi xa, Người căn dặn “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh.... Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (...) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(16).

Năm là, “uống nước nhớ nguồn” phải trung thành với lý tưởng và sự nghiệp cách mạng mà các thế hệ đi trước đã cống hiến, hy sinh

Kỷ niệm 3 năm ngày toàn quốc kháng chiến Người tuyên thệ: “Tôi thay mặt Chính phủ, chiến sĩ và đồng bào kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ mà hứa rằng: “Toàn thể quân và dân Việt Nam kiên quyết noi gương anh dũng của các liệt sĩ, kiên quyết đánh tan giặc thực dân cướp nước, để tranh lại độc lập và thống nhất thật sự cho nước ta”(17).

Ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp mặt Đại đoàn 308, Người huấn thị: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữa lấy nước”(18).

Sáu là, Hồ Chí Minh trân trọng sự chiến đấu hy sinh của nhân dân các nước trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, chống xâm lược

Thăm nước Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đến viếng và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm chiến sỹ tử trận tại Biarit, mộ chiến sỹ vô danh tại Khải Hoàn Môn, mộ liệt sĩ bị phát xít Đức bắn trên đồi Valêriêng. Với lòng bác ái vô hạn, Người cảm động trước gương hy sinh vì độc lập, tự do: “Trông thấy nghĩa sỹ Pháp vì độc lập tự do mà bị người Đức tàn sát, lại nhớ đến những nghĩa sĩ Việt, cũng vì độc lập tự do mà bị người khác tàn sát, khiến cho người ta thêm nỗi cảm động ngậm ngùi. Quyền độc lập tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sỹ, và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên”(19).

2. Bảy mươi năm thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ theo quan điểm Hồ Chí Minh

Nêu gương sáng về những nghĩa cử và tình cảm cao quý với thương binh, gia đình liệt sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi động phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” sâu rộng, hiệu quả, lan tỏa mạnh mẽ trong thực tế. Đến nay, công tác thương binh liệt sĩ đã đạt nhiều bước tiến lớn.

Một là, hệ thống chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được xây dựng và thực hiện thống nhất trong cả nước.

Từ chế độ“hưu bổng thương tật” “tiền tuất cho thân nhân tử sĩ” (1947), văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh,liệt sĩ và sự quan tâm của Đảng, Chính phủ vớithương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, đến nay chính sách thương binh liệt sĩ không ngừng được bổ sung, hoàn thiện cả về tiêu chuẩn, nội dung và được luật pháp hóa.

Điều 67 Hiến pháp năm 1992 hiến định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và có đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”.

Hiến pháp 2013, Khoản 1 Điều 59 ghi:Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (nay là Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng) và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ.

Những vấn đề bất hợp lý, tồn động, vấn đề mới nảy sinh, như vấn đề xác nhận liệt sĩ, thương binh; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, trợ cấp được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết.

Hai là, công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ là một nhiệm vụ quan trọng, trở thành phong trào sâu rộng, thiết thực.

Từ những việc làm thể hiện tình hiếu nghĩa bác ái “Giúp binh sĩ bị thương”, đội Trần Quốc Toản giúp gia đình thương binh, liệt sĩ,đón thương binh về làng, theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh trong thời kháng chiến chống Pháp đến hũ gạo tình nghĩa, con gà tình nghĩa, thửa ruộng tình nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, đến thời kỳ đổi mới phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ phát triển thành 5 chương trình. Đó là những phong trào nảy nở từ các thôn, làng đã phát triển mạnh mẽ, làm cho công tác thương binh liệt sĩ mang tính xã hội hóa cao và mang lại những kết quả to lớn.

Từ năm 2007 đến 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” hơn 3.481 tỷ đồng, trong đó, quỹ Trung ương hơn 41,36 tỷ đồng, quỹ địa phương hơn 3.440,4 tỷ đồng; xây dựng gần 90 nghìn nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75 nghìn nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159 nghìn sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955 tỷ đồng.

Đã có 100% các Mẹ Việt Nam Anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác thương binh - liệt sĩ, 97% người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú(20).

Công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, từ An dưỡng đường số 1 (cơ sở nuôi dưỡng thương binh) thành lập tháng 6-1947 tại xã Lục Ba, huyện Đại Từ, Thái Nguyên và một bộ phận làm chân tay giả ở vùng tự do trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, hệ thống cơ sở được mở rộng ở nhiều tỉnh. Sau đó, cả nước đã có hàng trăm cơ sở,phục vụ kịp thời việc phục hồi chức năng, nuôi dưỡng, dạy nghề và tổ chức cho thương binh, thân nhân liệt sĩlao động sản xuất.

Ba là, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sĩ được chú trọng.

Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã tích cực trong việc phát hiện, quy tập mộ liệt sĩ và ghi danh, ghi công liệt sĩ, làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Thời gian qua, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sĩ; an táng tại 3.077 nghĩa trang trong cả nước.

Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sĩ được chú trọng.Hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sĩ, trong đó có 1.750 đài tưởng niệm liệt sĩ, 4.810 nhà bia ghi tên liệt sĩ, 3.077 nghĩa trang liệt sĩ. Nhiều công trình ghi công liệt sĩ trở thành công trình văn hóa, giáo dục truyền thống như: Nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sĩ Bến Dược, Khu tưởng niệm liệt sĩ thanh niên xung phong tại Ngã 3 Đồng Lộc, Truông Bồn...

Bốn là, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ nỗ lực vươn lên trở thành những tấm gương tiêu biểu, điển hình nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “tàn nhưng không phế”, xứng đáng là những “Công dân kiểu mẫu”, những “Gia đình cách mạng gương mẫu”, với tinh thần và nghị lực của Bộ đội Cụ Hồ, thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ đã vượt qua khó khăn, là những chiến sỹ trên mặt trận xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Nhiều tấm gương sáng thương binh cố gắng vươn lên, tự lực cánh sinh, không những tự tạo công ăn việc làm mà còn tích cực giúp đồng đội và con em họ, tạo dựng một cuộc sống.

3. Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: Thực hiện chính tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”(21). Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Tăng cường tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác thương binh, liệt sĩ; gương điển hình người tốt việc tốt trong công tác này; thương binh, thân nhân liệt sĩ vượt khó vươn lên; các tập thể, đơn vị, xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ. Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những tập thể, cá nhânđiển hình tiên tiến trong công tác thương binh, liệt sĩ và người có công. Biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh và người có công tiêu biểu.

Đẩy mạnhtuyên truyền nâng cao truyền thống yêu nước và đạo nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các anh hùng-liệt sĩ; biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp đó thành hành động “đền ơn đáp nghĩa”. Qua đó thúc đẩy các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thiết thực.

Các cấp, các ngành thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, trong đó chú trọng chính sách ưu đãi về giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm; giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thầnđối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.

Tiến hành rà soát, bổ sungvàhoàn thiện hệ thống các chính sách, chế độ đối với thương bình, gia đình liệt sĩphù hợp với tình hình. Phát huy dân chủ, công khai mọi chính sách về lĩnh vực người có công.

Làm tốt công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính liệt sĩ, thông báo và tạo điều kiện cho các gia đình người thân đến thăm viếng.

Đẩy mạnh và thực hiện tốt việc lập, xét duyệt hồ sơ thường xuyên; tập trung giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được xác lập trong những giai đoạn trước đây nhưng chưa được xem xét giải quyết do chưa đảm bảo thủ tục, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm.

Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thương binh, bệnh binh, người có công, gia đình có công tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia các hoạt động xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước với phương châm “Nhà nước, nhân dân và những người được hưởng chính sách ưu đãi cùng phấn đấu”.

Làm tốt chính sách thương binh liệt sĩ, phong trào “đền ơn đáp nghĩa” luôn là nhiệm vụ quan trọng của toàn hệ thống chính trị và toàn dân, tạo nguồn lực lớn nuôi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa yêu nước chân chính, nâng cao lòng tự hào dân tộc, góp phần ổn định chính trị, xã hội, tạo nguồn xung lực bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.631.

(2), (4), (5), (7), (8), (9), (10), (14), (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.204, 49, 580, 49, 204, 204, 579, 478, 415.

(3), (19) Sđd, t.4, tr.486, 404- 405.

(6), (11), (18) Sđd,, t.9, tr.233, 223, 59.

(12), (16) Sđd, t.15, tr.616, 616.

(13) Sđd, t.10, tr. 372.

(17) Sđd, t.6, tr.260

(20) Ban Tuyên giáo Trung ương: Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm ngày thương binh, liệt sĩ

(21) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 136.

 

TS Nguyễn Thắng Lợi

Tạp chí Lý luận chính trị

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác