Trang chủ    Thực tiễn    Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chủ nhật, 16 Tháng 6 2013 00:45
2152 Lượt xem

Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn

(LLCT)-Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã trải qua hơn 1/4 thế kỷ và đến Đại hội XII của Đảng, đổi mới tròn 30 năm. Trong tiến trình ấy, chúng ta không chỉ đổi mới kinh tế, mà còn đổi mới Hệ thống chính trị, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Trong những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thành tựu quan trọng về xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền, xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng như đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hệ thống chính trị nói chung. Đó là một thực tế không thể phủ nhận.   

Đảng và nhân dân ta đã đạt được những nhận thức lý luận mới về dân chủ và Hệ thống chính trị, đã rút ra được những bài học kinh nghiệm bước đầu đáng quý về đổi mới Hệ thống chính trị, về thực hiện dân chủ và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Song, trên lĩnh vực quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp này, còn có những hạn chế, yếu kém và bất cập so với sự biến đổi mau lẹ của thực tiễn và trước yêu cầu mới của phát triển bền vững. Đổi mới Hệ thống chính trị ngày càng trở nên bức xúc, đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá để trên cơ sở đó tìm tòi, áp dụng những giải pháp mới, xác định đúng và thực hiện tốt những đột phá để phát triển trên lĩnh vực chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị.

1. Nhận thức lý luận về Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta   

Chúng ta đều biết, trước đổi mới, Đảng ta chưa sử dụng khái niệm “Dân chủ XHCN” và “Hệ thống chính trị”. Những khái niệm này, lần đầu tiên được đề cập trong các văn kiện của Đảng tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989), khi công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo chỉ vừa mới bắt đầu. Đó là sự cụ thể hóa đầu tiên quan điểm đổi mới của Đảng về “dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực của đời sống” được ghi trong Văn kiện của Đảng tại Đại hội VI (12-1986).           

Đến Đại hội VII, khi Đảng ta thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991) thì cũng là lần đầu tiên, những quan điểm cơ bản của Đảng về dân chủ XHCN và Hệ thống chính trị được thể hiện tương đối có hệ thống trong Cương lĩnh của Đảng. Đây chính là những định hướng lớn có tính chỉ dẫn về quan điểm và nguyên tắc, về nội dung và phương pháp để đổi mới chính trị mà cụ thể là đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta, trong điều kiện chuyển đổi mô hình phát triển và cơ chế quản lý kinh tế, từ kinh tế kế hoạch, hiện vật sang kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường, từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp và bình quân sang cơ chế thị trường, tuân theo quy luật giá trị, quy luật thị trường, cạnh tranh và phân hóa.      

Từ thực tiễn đổi mới, đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế và đổi mới kinh tế, nhất là khi đã định hình cơ chế thị trường và phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường (KTTT), những nghiên cứu lý luận về dân chủ và Hệ thống chính trị, về dân chủ hóa và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của giới lý luận. Đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề xuất kiến nghị góp phần đáng kể vào việc nâng cao nhận thức xã hội và bước đầu cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và đề ra các quyết sách đổi mới Hệ thống chính trị của Trung ương.

- Một trong những vấn đề quan trọng nổi bật được đặt ra trong đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta là tập trung làm rõ những nguyên tắc chính trị của đổi mới, những bảo đảm chính trị cho sự vận hành nền KTTT, trong điều kiện mở cửa và hội nhập. Tựu trung lại, đó là định hướng XHCN, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đi đúng định hướng, phòng ngừa nguy cơ chệch hướng và rơi vào lạc hậu, tụt hậu của nền kinh tế nước ta. Đổi mới có nguyên tắc được xác định bởi ổn định chính trị - xã hội, coi đó là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để đổi mới toàn diện các lĩnh vực, đổi mới có hiệu quả, có bước đi thích hợp. Trong quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới Hệ thống chính trị, Đảng ta nhấn mạnh, trước hết phải đổi mới kinh tế, phải trên cơ sở đổi mới kinh tế có kết quả bước đầu, cải thiện được đời sống nhân dân mà tiến hành đổi mới Hệ thống chính trị từng bước, thận trọng, có nguyên tắc. Nguyên tắc ấy chính là: bảo đảm kiên định con đường XHCN của sự phát triển ở nước ta, bảo đảm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng, ý thức hệ chủ đạo của xã hội là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng, nhất là trong điều kiện nước ta chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền, Hệ thống chính trị nước ta mang đặc điểm nhất nguyên chính trị và một Đảng, không đa đảng, càng không có Đảng đối lập.       

- Một điểm then chốt trong nội dung đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta là phân biệt và phân định rõ mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, hai bộ phận cốt lõi trong cấu trúc của Hệ thống chính trị. Sự phân biệt và phân định này căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ, giữa thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong điều kiện Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước với tư cách một Đảng cầm quyền.         

Làm rõ vấn đề này bằng những luận chứng khoa học và thực tiễn xác đáng là cơ sở để đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền với đổi mới tổ chức, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ của Đảng đồng thời đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Phải chăng đây là vấn đề của mọi vấn đề trong đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta, nhằm giải quyết tình trạng từ bấy lâu nay vẫn chồng chéo lẫn lộn, trùng dẫm giữa Đảng và Nhà nước về tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, chức năng và nhiệm vụ, tình trạng không rành mạch giữa thẩm quyền và trách nhiệm, nhất là chế độ trách nhiệm của từng tổ chức, dẫn đến hạn chế hiệu quả, tác dụng hoạt động của từng tổ chức và của cả Hệ thống chính trị nói chung.       

- Đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta không có mục đích tự thân mà mục đích sâu xa, bản chất, quan trọng nhất của nó là hướng vào xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ và vai trò làm chủ thực sự của người dân. Bằng sức mạnh của dân chủ và thực hành dân chủ rộng rãi theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà phòng ngừa và đẩy lùi, hoặc ít ra cũng giảm thiểu quan liêu tham nhũng xuống mức thấp nhất, tránh được nhiều nhất những tổn hại tới lợi ích của đất nước, của nhân dân.         

Do đó, chú trọng dân chủ về thực chất là tôn trọng và bảo vệ dân, lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Có một mối liên hệ hữu cơ giữa dân chủ và hệ thống chính trị, giữa phát triển dân chủ với đổi mới Hệ thống chính trị, giữa đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trên nguyên tắc đề cao pháp luật và bảo đảm quyền lực thống nhất của dân trong Nhà nước pháp quyền.

Lại cũng cần nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là tạo ra tính tất yếu kinh tế để thực hiện và phát triển dân chủ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước làbảo đảm chính trị của nền dân chủ của dân, do dân, vì dân. Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể của mình chính là hoạt động tham chính của người dân, là thể hiện năng lực thực hành dân chủ để làm chủ thực chất của người dân. Đối với từng công dân và cả cộng đồng nhân dân trong một xã hội dân chủ thì đây vừa là quyền làm chủ vừa là trách nhiệm và nghĩa vụ của người chủ, theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.           

Vì vậy, KTTT và nhà nước pháp quyền là hai nhân tố kinh tế và chính trị thúc đẩy dân chủ, thúc đẩy tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.     

- Nói tới Hệ thống chính trị, ngoài hai thành phần cốt yếu, là Đảng lãnh đạo, cầm quyền và Nhà nước quản lý, còn phải nói tới các tổ chức chính trị - xã hội khác của nhân dân. Đó là những thiết chế cần thiết mà nhân dân sử dụng để thực thi quyền làm chủ của mình, cũng như nhân dân không chỉ làm chủ qua phương thức dân chủ đại diện mà còn làm chủbằng phương thức dân chủ trực tiếp, tự quản, tự quyết, nhất là ở cơ sở, ở các cộng đồng xã hội tự quản của người dân (thôn, làng, ấp bản, khu dân cư...).     

Lần đầu tiên, trong lịch sử cầm quyền của Đảng, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (2002), Đảng ta đã ra Nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, gọi chung là cấp xã. Đã đến lúc phải tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết rất quan trọng này, đánh giá đúng những chuyển động tích cực và nhận diện rõ ràng, đầy đủ những yếu kém, những vấn đề phát sinh từ cơ sở, từ Hệ thống chính trị cơ sở, đặc biệt là ở nông thôn, gắn với nông nghiệp và nông dân. Ở địa bàn và khu vực này đang nổi lên rất nhiều vấn đề, rất nhiều tình huống, những mâu thuẫn, xung đột, mất ổn định, tích tụ rất nhiều bức xúc cần phải giải quyết.   

- Vấn đề đổi mới Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đáp ứng yêu cầu tư vấn, giám sát, kiểm tra và phản biện, nhằm phát huy vai trò của nhân dân và các tổ chức đoàn thể của nhân dân đối với việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường đồng thuận xã hội để phát triển, ngày càng trở nên cần thiết, bức xúc và chín muồi.  

Có cả một hệ thống thể chế mà Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện liên quan tới đổi mới Hệ thống chính trị, từ Điều lệ Đảng và hệ thống chế tài của Đảng (Quy định 19 điều đảng viên không được làm), luật pháp Nhà nước, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (1998), Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn (2007), Luật phòng chống tham nhũng (2005), Luật Mặt trận và luật về một số đoàn thể khác. Hiện nay, chúng ta đang tập trung sửa đổi Hiến pháp và Luật đất đai cũng chính là tăng cường sức mạnh của thể chế để bảo đảm dân chủ và phát huy quyền làm chủ của người dân.       

Đặc biệt là, tại Kỳ họp thứ 4 khóa XIII gần đây, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc thực hiện lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm các đại biểu do Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân bầu hoặc bổ nhiệm giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan quyền lực nhà nước. Các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng trong thời gian qua đã tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, đã nghiêm khắc tự phê bình và nhận trách nhiệm về những khuyết điểm, sai lầm, yếu kém trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Tại Hội nghị Trung ương 6 vừa qua, việc chất vấnđã bắt đầu được thực hiện trong sinh hoạt của lãnh đạo cấp cao của Đảng.

Thông tin về những vấn đề quan trọng đó đã được công khai trong Đảng và trong xã hội. Cùng với những điều đó, Trung ương đã có những quyết định mới về đổi mới mô hình tổ chức chỉ đạo chống tham nhũng. Đây thực sự là những tín hiệu tích cực thúc đẩy đổi mới chính trị và Hệ thống chính trị ở nước ta.  

Cùng với những hoạt động khẩn trương đó, những đổi mới chính sách và cơ chế liên quan đến đầu tư các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, bố trí nhân lực ở các cấp trong Hệ thống chính trị cũng góp phần quan trọng để đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hệ thống chính trị cần được đánh giá tổng kết về kết quả, tác động, về phù hợp hay chưa phù hợp, có thể và cần phải sửa đổi, bổ sung như thế nào trong tình hình hiện nay. 

Đó là một số vấn đề nhận thức lý luận về Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị, xuất phát từ thực tiễn đổi mới ở nước ta. Trong những vấn đề đó, cho đến nay vẫn còn một số điểm chưa rõ, chưa đạt được một sự thống nhất nhận thức chung và do đó, trong hoạt động chính trị thực tiễn của chúng ta vẫn có những lúng túng, thiếu nhất quán, làm hạn chế kết quả, tác dụng của đổi mới Hệ thống chính trị cần được khắc phục. Đó là:          

- Xác định một quan niệm khoa học, đưa ra một định nghĩa khoa học về Hệ thống chính trị để làm cơ sở cho công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động và thiết kế chính sách, giải pháp đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta. Câu hỏi Hệ thống chính trị là gì? đòi hỏi phải làm rõ thuộc tính, bản chất của nó chứ không thể chỉ dừng lại ở mô tả, liệt kê các tổ chức, mà cũng không rõ ràng các tiêu chí giúp cho việc xác định tổ chức nào thuộc về Hệ thống chính trị, còn tổ chức nào thì không nằm trong Hệ thống chính trị. Cho đến nay, cách tiếp cận, nhận diện và định hình các thực thể cấu thành Hệ thống chính trị của chúng ta vẫn còn nhiều cách hiểu, cách nghĩ khác nhau, chưa thống nhất.     

Đây chính là xác định cơ cấu tổ chức của Hệ thống chính trị.            

Thường có hai khuynh hướng: hoặc quá hẹp hoặc mở ra quá rộng các bộ phận tham gia vào Hệ thống chính trị mà khuynh hướng quá rộng thường nhiều hơn. Nó có liên quan tới vấn đề là: Tổ chức nào cũng muốn được hiện diện trong Hệ thống chính trị, làm cho nội hàm của chính trị và khái niệm Hệ thống chính trị bị “loãng” ra, đặc trưng chính trị bị “hòa lẫn” vào các lĩnh vực khác.

- Để giải quyết vấn đề trên quan điểm khoa học, phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Chỉ có thể xác định rõ những tổ chức thiết chế cấu thành Hệ thống chính trị ở nước ta khi đạt được sự phân biệt thật rõ ràng những loại hình tổ chức trên.      

- Cũng như vậy, cần phân biệt chính trị và hành chính, chính trị và Hệ thống chính trị với xã hội và hệ thống xã hội - ngoài chính trị thuộc về đời sống xã hội dân sự. Đây là vấn đề rất phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu và tổng kết. Nó có quan hệ rất mật thiết với việc đổi mới Hệ thống chính trị, xây dựng nền dân chủ XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy sức mạnh của dân chủ và sự tham gia của nhân dân vào cuộc đấu tranh chống quan liêu và tham nhũng 

2. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.   

Trên cơ sở những nhận thức lý luận và những kết quả thực tiễn bước đầu về đổi mới và đổi mới Hệ thống chính trị mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được, đặc biệt qua những tổng kết lý luận - thực tiễn 20 và 25 năm đổi mới, trong đó có 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 của Đảng đã được xác định trong Văn kiện Đại hội XI cũng như tổng kết 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992 gần đây, việc đánh giá thực trạng Hệ thống chính trị nước ta hiện nay đang nổi lên những vấn đề sau:           

Thứ nhất, đánh giá kết quả của tiến trình vận động dân chủ hóa, nhất là trong hai lĩnh vực trọng yếu dân chủ hóa kinh tế và dân chủ hóa chính trị ở nước ta.       

Thành tựu và những hạn chế trong xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta trong hơn 25 năm đổi mới? Cắt nghĩa vì sao ở nước ta vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, vẫn còn vi phạm quyền dân chủ và làm chủ của người dân, thậm chí có nơi đã xảy ra những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài dẫn tới những mâu thuẫn, xung đột và gây mất ổn định, nhất là ở nông thôn. Tập trung quan liêu đi liền với tự do vô chính phủ, sự vi phạm và coi thường pháp luật, kỷ cương gây mất ổn định và rối loạn xã hội chậm được khắc phục, sửa chữa và xử lý không nghiêm minh, trách nhiệm thuộc về ai, có liên quan tới trách nhiệm của cấp nào trong lãnh đạo và quản lý?   

Quan liêu và tham nhũng, nhất là tham nhũng ở nước ta do nhiều nguyên nhân dẫn đến. Vấn nạn tham nhũng ngày càng gay gắt, chưa giải quyết được có phải do dân chủ chậm phát triển? Hệ thống chính trị đổi mới còn chậm và kém hiệu quả hay không? Đặc biệt là vai trò của Nhà nước pháp quyền trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kinh nghiệm cho thấy, ở đâu không có công khai minh bạch, hoặc thiếu vắng chế độ trách nhiệm giải trình thì ở đó có tham nhũng. Trong những năm gần đây, hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế ở nước ta có những diễn biến phức tạp và bộc lộ nhiều sơ hở, yếm kém nghiêm trọng, nhất là trong các tập đoàn kinh tế nhà nước. Tình trạng thất thoát những nguồn vốn to lớn của Nhà nước, hàng loạt các doanh nghiệp phá sản, nợ công và nợ xấu cùng với lạm phát gia tăng, sản phẩm hàng hóa tồn kho, ứ đọng, tốc độ tăng trưởng suy giảm... Dư luận xã hội ngày càng bất bình trước những biểu hiện bất minh, bất chính của các lợi ích nhóm làm tổn hại tới lợi ích chung của xã hội. Tham nhũng trong kinh tế ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tinh vi. Đi liền với tham nhũng kinh tế, còn có sự tham những trong chính trị với những biểu hiện lợi dụng chức quyền để trục lợi, tình trạng chạy danh, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, thậm chí chạy cả huân chương đã và đang là một thực tế rất đáng lo ngại mà Đại hội XI đã nêu lên.          

Cơ chế “xin - cho” là thứ cơ chế vô hình, bất thành văn nhưng đã gây ra những tổn hại nghiêm trọng, đã hình thành một tập quán phổ biến rất khó sửa. 

Trong bố trí cán bộ, cũng là một thực tế bất thành văn mà đã tạo nên một thứ định vị trật tự tiêu cực rất không lành mạnh mà Tổng Bí thư đã phê phán “thứ nhất tiền tệ, thứ nhì hậu duệ, thứ ba quan hệ, thứ tư mới đến trí tuệ”.  

Rõ ràng, “cơ chế xin - cho”, “lợi ích nhóm” và “tư duy nhiệm kỳ” đã can dự vào sự tăng tham nhũng, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng, sự suy giảm đà tăng trưởng kinh tế và làm lệch lạc các quan hệ xã hội, các chuẩn mực giá trị xã hội.          

Đây là những lực cản nặng nề đối với phát triển, đối với Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta.   

Chính tham nhũng là lực cản lớn nhất đối với công tác vận động quần chúng, công tác dân vận, bởi dân mất lòng tin khi họ nhìn vào tình trạng tham nhũng nặng nề, có tính phổ biến trong hệ thống các cơ quan công quyền, thậm chí tham nhũng còn thâm nhập vào các cơ quan đảng và đoàn thể.  

Muốn đẩy mạnh dân chủ hóa, xây dựng nền dân chủ, đổi mới Hệ thống chính trị phải đặc biệt chú trọng đẩy lùi quan liêu tham nhũng bằng những giải pháp mạnh và đồng bộ.     

Thứ hai, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển mạnh mẽ KTTT và Nhà nước pháp quyền, mở cửa và hội nhập quốc tế.        

Trong hơn 25 năm đổi mới, Đảng ta đã có không ít nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, điển hình là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với điểm mấu chốt là phải khắc phục tình trạng suy thoái trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.  

Có nhiều vấn đề đặt ra đối với xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, mà nổi bật là:     

Phải có đột phá lý luận, phải chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, lối sống, nói rộng ra là xây dựng, giáo dục và thực hành văn hóa trong Đảng, trong đời sống của Đảng, xây dựng và thực hành văn hóa chính trị trong Đảng, trong Nhà nước và trong các tổ chức của Hệ thống chính trị ở nước ta.          

- Phân biệt sự khác nhau về chức năng và nhiệm vụ, mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và các đoàn thể. Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng có gì khác so với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước có gì khác so với Đảng lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể ?  

- Vai trò và tư cách đảng viên, vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy. Mô hình và mối quan hệ giữa các tổ chức đảng với tổ chức nhà nước và các đoàn thể. Cần đổi mới, tinh giản bộ máy và nâng cao chất lượng cán bộ đảng viên, trong từng tổ chức và trong cả hệ thống.          

- Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, Nhà nước. Còn Mặt trận, do những đặc thù của nó, lại không thực hiện tập trung dân chủ như trong Đảng và Nhà nước mà áp dụng hiệp thương dân chủ,kết hợp giữa tập trung dân chủ với hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận.          

- Mối quan hệ giữa Đảng với dân là vấn đề vô cùng hệ trọng trong điều kiện Đảng cầm quyền, là điểm nổi bật nhất trong công tác dân vận, thực hành dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội. Đây là tình huống có vấn đề rất đáng lo ngại, do dân suy giảm lòng tin bởi không ít cán bộ đảng viên suy thoái, biến chất.

- Công tác tổ chức cán bộ, quy hoạch cán bộ và chính sách cán bộ của Đảng, đặc biệt là quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch các chức danh chủ chốt của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.           

Thứ ba, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể,đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khắc phục khuynh hướng hành chính hóa, hình thức hóa để Mặt trận và các đoàn thể thực sự phát huy được vai trò tư vấn, giám sát, phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước, làm tốt công tác vận động quần chúng, tạo ra sức sống, sức hấp dẫn đối với quần chúng đoàn viên, hội viên, đẩy mạnh thực hành dân chủ, chống quan liêu, tham nhũng. Cùng với việc chuẩn bị đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hệ thống chính trị, trong thời gian qua, Ban Dân vận Trung ương đang tích cực xây dựng đề án, tờ trình và dự thảo quy chế để tăng cường vai trò của Mặt trận và các đoàn thể trong hoạt động giám sát, phản biện và tư vấn cũng như cơ chế để Mặt trận, các đoàn thể và quần chúng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến đối với đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước. Có cơ sở để hy vọng rằng, khi quy chế và cơ chế nêu trên được Trung ương phê chuẩn, ban hành và đi vào thực hiện thì sẽ tạo ra những bước tiến mới đối với việc phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân. Đây chính là bản chất và mục tiêu đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ tư, vấn đề cán bộ và chính sách cán bộ, tạo động lực nâng cao tính tích cực chính trị - xã hội của quần chúng, phát huy sáng kiến, sáng tạo của nhân dân, phát hiện nhân tài, trọng đãi hiền tài để phát triển kinh tế, văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng. Công tác cán bộ là công tác có tầm quan trọng chiến lược, quyết định sức sống, sức mạnh của tổ chức, quyết định thành bại của phong trào cách mạng. Chính sách cán bộ là một trong những mắt xích trọng yếu nhất để thực hiện tư tưởng và chiến lược cán bộ của Đảng. Đó là cả một tập hợp các chính sách đối với cán bộ, chính sách đối với con người, từ giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng - huấn luyện, đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm, luân chuyển để rèn luyện thử thách làm cho cán bộ trưởng thành. Đó còn là chính sách đãi ngộ công bằng hợp lý, trọng dụng nhân tài trọng đãi hiền tài, nó có liên quan trực tiếp tới chính sách tiền lương và cải cách chế độ tiền lương.      

Do đó, công tác cán bộ gắn chặt với công tác tổ chức, được bảo đảm bởi chính sách cán bộ, được thúc đẩy bởi chính sách tiền lương.

Liên quan tới đổi mới Hệ thống chính trị là làm thế nào để định hình được và thực hiện được hệ tiêu chí cán bộ đảng, công chức nhà nước với cán bộ Mặt trận và đoàn thể. Với cán bộ đảng, mặt trận, đoàn thể có những đặc thù riêng, khác với công chức nhà nước nhưng từ bao lâu nay đều đã trở thành công chức, trong khi nghề nghiệp và hoạt động của họ, thực chất là hoạt động chính trị và công tác xã hội. Phải tìm tòi một hình thức trả công, đãi ngộ khác với công chức nhà nước để không rơi vào khuynh hướng công chức hóa, hành chính hóa, quan liêu hóa kiểu Nhà nước. Giải quyết vấn đề này là chìa khóa để Mặt trận có tiếng nói chủ động, độc lập phản biện cho Đảng và Nhà nước.     

Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả Hệ thống chính trị,củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường đồng thuận xã hội. Dân chủ - đoàn kết - đồng thuận là vấn đề có tính quy luật để phát triển xã hội dân chủ ở nước ta, là bảo đảm cho ổn định thực sự là ổn định tích cực. Do đó phải đặc biệt chú trọng dân chủ, đoàn kết trong Đảng, phát huy sức mạnh đoàn kết và đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thấm nhuần và thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo ở nước ta, kể cả đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Dân chủ thực chất để đoàn kết thực chất và đồng thuận thực chất bền vững.      

Trên đây là 5 vấn đề nổi bật đang đặt ra về đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta, liên quan tới thành tựu và hạn chế, tới quan điểm, nguyên tắc và giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện Hệ thống chính trị ở nước ta trong tình hình mới, trước yêu cầu mới.

 

                                                                                                         GS, TS LÊ HỮU NGHĨA

                                                                                    Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

 

Các bài viết khác