Trang chủ    Thực tiễn    Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng
Thứ sáu, 16 Tháng 8 2013 10:52
4698 Lượt xem

Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng

(LLCT) - Dân chủ luôn là vấn đề lớn được đề cập trong văn kiện của các Đại hội Đảng ta. Suốt quá trình đổi mới đất nước từ 1986 đến nay, nhận thức về dân chủ của Đảng ta ngày càng hoàn thiện, đã trở thành chủ trương, chính sách và đi vào thực tiễn cuộc sống. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dân chủ XHCN ở nước ta ngày càng được phát triển, mở rộng, trở thành động lực cho phát triển đất nước. 

Dù còn những nhược điểm như Đảng ta tự đánh giá: “quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ” (ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.94); “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội” (Sđd, tr.171), song những thành tựu trong phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta là không thể phủ nhận được.

Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới nói chung, đổi mới hệ thống chính trị nói riêng đã được các Đại hội VII,VIII, IX, X của Đảng xác định, công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, dân chủ ở nước ta đã có bước tiến rõ rệt, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và được dư luận quốc tế thừa nhận. Đánh giá thành tựu dân chủ qua 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và 5 năm nhiệm kỳ khóa X, Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố. Đảng và Nhà nước tiếp tục đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức... Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với các tầng lớp nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn”(Sđd, tr.158).

Trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm về dân chủ của các Đại hội Đảng đã qua, thành tựu và những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh, các văn kiện của Đại hội XI đã thể hiện một hệ thống những quan điểm lý luận về dân chủ vừa có tính nguyên tắc chung, vừa có tính thực tiễn ở tầm chủ trương, chính sách cụ thể, thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản như sau:

1.Dân chủ với nghĩa dân là chủ, dân làm chủ là bản chất của chế độ XHCN mà nhân dân ta xây dựng. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ ra quan niệm mới về CNXH, trong đó dân chủ có một vị trí xứng đáng hơn: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. So với Đại hội X và các đại hội trước đây của Đảng, thì vị trí của dân chủ được đặt lên trước như là một tiền đề, điều kiện để có công bằng, văn minh. Nhận thức về vị trí của dân chủ như vậy là điểm phát triển mới của Đảng ta về vai trò, ý nghĩa của dân chủ XHCN.

Cương lĩnh xác định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực” (Sđd, tr.84).

Với quan điểm đó, Đảng ta chủ trương xây dựng nền dân chủ như một nội dung quan trọng của quá trình phát triển đất nước trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015. Trong 8 phương hướng xây dựng đất nước thể hiện trong Cương lĩnh, vấn đề dân chủ được Đảng ta xác định rõ trong phương hướng thứ sáu và thứ bẩy, đó là: “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất”; “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (Sđd, tr.72).

2. Nền dân chủ là một tổng thể bao gồm các quyền, các thể chế và cơ chế chính trị được bảo đảm về mặt pháp lý.

Với tư cách là quyền công dân, dân chủ cũng là nghĩa vụ công dân. Công dân  hưởng thụ quyền làm chủ và ngược lại phải thực hiện quyền đó như nghĩa vụ; quyền dân chủ phải đi đôi với trách nhiệm công dân với đất nước; không chấp nhận việc lợi dụng dân chủ để phá rối trật tự, kỷ cương, pháp luật, làm hại đến an ninh quốc gia và lợi ích của nhân dân. Cương lĩnh ghi rõ: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (Sđd, tr.85).

Hiến pháp 1992 và các điều sửa đổi, bổ sung trong những năm qua cùng với hệ thống pháp luật, đặc biệt là các luật và văn bản dưới luật về bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, về khiếu nại, tố cáo, về thông tin... đã thể hiện cụ thể quyền dân chủ của công dân, thể hiện trong các hành vi bầu cử, tham gia xây dựng Nhà nước và giám sát Nhà nước. Trong tương lai, những sửa đổi về Hiến pháp chắc chắn sẽ có những quy định thể hiện rõ hơn nữa tinh thần dân chủ mà văn kiện của Đại hội XI của Đảng đã nêu.

Với tư cách là các thể chế và cơ chế chính trị, dân chủ được thể hiện trong hoạt động của hệ thống chính trị, trong mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Quan điểm của Đảng ta là: “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”(Sđd, tr.85).

Về cách thức làm chủ của nhân dân, từ 1998 Đảng và Nhà nước đã ban hành một số văn bản quan trọng như Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Nghị định 29/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành và hướng dẫn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đưa dân chủ đi vào đời sống thực tiễn ở cấp gần gũi nhất với từng người dân, nhất là ở nông thôn. Trong đó, người dân thực hiện dân chủ không chỉ bằng hình thức gián tiếp mà cả trực tiếp. Từ kinh nghiệm này cho thấy, đồng thời với hình thức dân chủ gián tiếp ngày càng được hoàn thiện, hình thức dân chủ trực tiếp cũng có thể được áp dụng rộng rãi hơn, ở mức độ cao hơn, không chỉ ở cấp độ cơ sở, cấp độ địa phương mà còn có thể ở cấp độ quốc gia. Khẳng định điều này, trong quan điểm phát triển của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020,  Đảng đề ra chủ trương: “Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước” (Sđd, tr.100).

 Trong mối quan hệ giữa dân chủ và hệ thống chính trị, từ Đại hội VII (1991), Đảng ta đã xác định đổi mới hệ thống chính trị là hướng tới xây dựng nền dân chủ XHCN, là làm cho dân chủ của hệ thống chính trị phát triển hơn nữa.

Trong hệ thống chính trị, nhà nước là một công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là thành phần cơ bản và chủ yếu của cơ chế dân chủ gián tiếp. Theo quan niệm phương Tây truyền thống, dân chủ là một hình thức nhà nước (Lênin cũng khẳng định điều này). Đảng ta quan niệm, dân chủ XHCN luôn gắn liền với vấn đề tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền. Các văn kiện của Đại hội XI đều đề cập tới Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với bản chất và nguyên tắc tổ chức là một nhà nước dân chủ : “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực thiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương” (Sđd, tr. 85-86).

Như vậy, để thể hiện dân chủ, Nhà nước phải hoàn thiện về mặt pháp lý cơ chế hoạt động của chính bộ máy nhà nước. Đó là sự phân công, phối hợp, kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan, các thể chế nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát. Cương lĩnh đã dùng khái niệm “kiểm soát” giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm bảo đảm dân chủ trong cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước. Đây là một điểm mới đáng ghi nhận trong tư duy về tổ chức nhà nước của Đảng ta.

Nền dân chủ XHCN ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ nay không tách rời với vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Bên cạnh chức năng xã hội, các tổ chức đó còn có chức năng chính trị, là các thể chế của nền dân chủ. Trong điều kiện một đảng lãnh đạo như nước ta, vai trò của Mặt trận lại càng quan trọng. Cương lĩnh khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước... Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” (Sđd, tr.86).

Khẳng định vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội đối với Đảng và Nhà nước, là một điểm mới trong chủ trương mở rộng, phát triển dân chủ ở nước ta và sẽ được cụ thể hóa thành quy định, thể lệ trong hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.

3. Dân chủ phải trở thành văn hóa, văn minh của xã hội XHCN.

Đã từ lâu, dân chủ không còn bó hẹp trong phạm vi truyền thống của nó là hình thức nhà nước, là hoạt động của hệ thống chính trị. Dân chủ đã được xem là vấn đề của văn hóa, văn minh, nghĩa là đi vào đời sống tinh thần, lối sống, cách ứng xử, cách thức tổ chức sinh hoạt của các tập thể, cơ quan, nhóm, cộng đồng và xã hội nói chung. Người không có học vấn, thiếu tri thức thì sẽ rất hạn chế trong thực hiện quyền làm chủ. Vì vậy xây dựng, phát triển dân chủ cần phải đi đôi với phát triển văn hóa, nâng cao dân trí. Xã hội XHCN đương nhiên phải là xã hội có văn hóa dân chủ cao. Văn hóa phải mang tinh thần dân chủ, hướng tới phát triển dân chủ và dân chủ phải đi vào văn hóa, thấm vào văn hóa. Giáo dục đào tạo, thông tin, tuyên truyền, báo chí, văn học, nghệ thuật... phải mang tinh thần dân chủ và hướng tới phát triển dân chủ. Cương lĩnh thể hiện quan điểm của Đảng ta: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ... Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh...” (Sđd, tr.75-76). Những khẳng định như vậy là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện nhận thức toàn diện, rộng rãi về dân chủ của Đảng ta.

4. Đảng lãnh đạo thực hiện dân chủ, bảo đảm dân chủ trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và gương mẫu thực hành dân chủ.

Trong điều kiện một đảng lãnh đạo như nước ta, mở rộng, phát triển dân chủ nhất thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng. Đó là nguyên lý có tính thực tiễn. Buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, không thể có sự phát triển dân chủ. Nhưng ngược lại, lãnh đạo không đúng cách, cũng không thể có dân chủ XHCN. Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã tự phê bình về khuyết điểm trong sự lãnh đạo của mình đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Đó là những biểu hiện của sự bao biện, làm thay dẫn đến làm giảm vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước, hạn chế tính chủ động, độc lập tương đối của các đoàn thể nhân dân. Do vậy cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và trong thực tế 25 năm vừa qua phương thức lãnh đạo của Đảng đã có nhiều đổi mới. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng ta nhận thức: “Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước.

Hoàn thiện nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp ủy đảng; tăng cường dân chủ trong Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan trọng của đổi mới chính trị phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế. Coi trọng mở rộng dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền, khắc phục tình trạng Đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện làm thay chức năng, nhiệm vụ quản lý điều hành của chính quyền” (Sđd, tr.144-145).

Đối với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, Cương lĩnh khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” (Sđd, tr.87).

Thực tiễn đổi mới ở nước ta cũng chứng minh, sự phát triển dân chủ phụ thuộc một phần quan trọng vào thực hành dân chủ trong Đảng. Mỗi bước mở rộng dân chủ trong Đảng sẽ là nguồn động viên, khích lệ đối với việc mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị và trong xã hội nói chung. Thắng lợi của Đại hội XI của Đảng đã chứng minh tính đúng đắn của việc phát huy dân chủ trong Đảng. Quá trình chuẩn bị Đại hội là một đợt sinh hoạt chính trị dân chủ, sôi nổi trong toàn xã hội, đặc biệt là dân chủ trong đóng góp ý kiến hoàn thiện dự thảo các văn kiện của Đại hội. Ngay tại Đại hội, những tranh luận thẳng thắn và biểu quyết dân chủ về một số vấn đề khó trong lý luận cũng là nét mới góp phần hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận của Đại hội XI.

Việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo của Đảng tại Đại hội XI cũng thể hiện rõ tinh thần dân chủ cởi mở trong Đảng. Đây là đại hội có số lượng ứng cử viên vào Ban Chấp hành Trung ương với số dư lớn nhất từ trước đến nay. Ngoài danh sách 186 đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương khóa X đề cử để bầu ủy viên chính thức, 28 đồng chí được đề cử bầu ủy viên dự khuyết, Đại hội đã giới thiệu thêm 31 đồng chí để bầu ủy viên chính thức (tổng cộng 218 đồng chí để bầu 175, số dư là 24,5%) và 33 đồng chí để bầu ủy viên dự khuyết (tổng cộng 61 để bầu 25, số dư 244%). Kết quả bầu một lần đạt số lượng cần thiết với tỷ lệ phiếu cao, điều đó chứng minh rằng với sự chuẩn bị kỹ càng, việc mở rộng dân chủ sẽ đạt kết quả tốt đẹp. 

Được khích lệ bởi thắng lợi của Đại hội XI của Đảng, quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp vào ngày 22-5-2011 đã thể hiện không khí dân chủ, cởi mở trong cả nước. Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 5-1-2011 hướng dẫn các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác bầu cử. Với thời gian hợp lý và thủ tục, hồ sơ đơn giản, số lượng người tự ứng cử khá lớn (80 người). Ngày 26-4-2011 Hội đồng bầu cử Trung ương đã chốt và công bố danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XIII với số lượng 827 người (trong tổng số danh sách hơn 1000 người trước đó), trong đó có 15 người tự ứng cử, để bầu 500 đại biểu, đạt tỷ lệ số dư 165%, số người ngoài Đảng là 15%. Đầu tháng 5 là thời gian các ứng cử viên tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử. Với tinh thần dân chủ và sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, chắc chắn cuộc bầu cử sẽ đạt kết quả tốt đẹp, mở ra một thời kỳ đổi mới hơn nữa hoạt động của các cơ quan dân cử, đặc biệt là Quốc hội, đáp ứng mong đợi của các tầng lớp nhân dân.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2011

 

PGS,TS Vũ Hoàng Công

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

 

 


(*) Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền