Trang chủ    Thực tiễn    Thực hiện trách nhiệm giải trình - Tính tất yếu trong quá trình xây dựng chính phủ kiến tạo
Thứ hai, 26 Tháng 10 2020 15:29
52 Lượt xem

Thực hiện trách nhiệm giải trình - Tính tất yếu trong quá trình xây dựng chính phủ kiến tạo

(LLCT) - Nền hành chính nước ta đang đi những bước đầu tiên trên con đường chuyển đổi từ mô hình “chính phủ quản lý toàn diện” sang mô hình “chính phủ kiến tạo”. Điều này thể hiện trên các phương diện chủ yếu như thể chế, bộ máy nhà nước, đội ngũ công chức hành chính, phòng, chống tham nhũng... Trong đó, thực hiện trách nhiệm giải trình là một trong những vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Bài viết này góp phần làm rõ tính tất yếu khách quan và những giải pháp thúc đẩy thực hiện có hiệu quả trách nhiệm giải trình của Chính phủ với nhân dân trong quá trình xây dựng chính phủ kiến tạo ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: trách nhiệm giải trình, chính phủ kiến tạo, phản biện xã hội.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với những đột phá về công nghệ, về kết nối internet, điện toán đám mây, in 3D, công nghệ cảm biến,... đã tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, từ kinh tế, xã hội đến chính trị, văn hóa... của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Trước những thay đổi đó, vai trò của nhà nước cũng thay đổi, đòi hỏi phải có sự đánh giá và xác định lại vai trò của nhà nước, của chính phủ trong quá trình phát triển. Nhà nước từ chỗ đơn thuần chỉ được coi là công cụ thống trị giai cấp, bộ máy cai trị, đã chuyển sang làm chức năng của cơ quan công quyền, quản lý xã hội, bộ máy phục vụ, cung cấp dịch vụ công. Từ đó, thuật ngữ “chính phủ kiến tạo” ra đời.

Khi chỉ ra các đặc trưng chủ yếu của “chính phủ kiến tạo”, trách nhiệm giải trình (accountability) là đặc trưng được lưu tâm và nhắc tới ngày càng nhiều.

Trách nhiệm giải trình có thể được xem xét ở các góc độ khác nhau, theo đó, có thể phân chia thành: 1/ Trách nhiệm giải trình về chính trị; 2/ Trách nhiệm giải trình về hành chính; 3/ Trách nhiệm giải trình về nghề nghiệp; 4/ Trách nhiệm giải trình về xã hội. Trong phạm vi nền hành chính nhà nước, trách nhiệm giải trình có thể chia thành ba loại: trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trước cơ quan quyền lực; trách nhiệm giải trình trong nội bộ cơ quan hành chính và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính với xã hội. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến trách nhiệm giải trình của hệ thống hành chính nhà nước mà đứng đầu là chính phủ với xã hội.

1. Khái niệm trách nhiệm giải trình

Nghiên cứu lịch sử ra đời của nhà nước, có thể thấy, cũng như các quốc gia phương Đông khác, Việt Nam có một nền hành chính lâu đời, trong đó đã có những quy định về trách nhiệm của nhân viên nhà nước và chính quyền các cấp trong nền quan chế tập quyền của Việt Nam(1). Những quy định này được thiết lập theo những tập tục có từ xa xưa, hoặc do bộ máy giúp việc cho vua biên soạn. Như vậy, xét về bản chất, hoạt động giải trình đã xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam.

Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào xây dựng một nhà nước kiểu mới, theo tinh thần dân chủ, tiến bộ - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bộ máy Nhà nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến trách nhiệm của Chính phủ. Theo đó, trách nhiệm của Chính phủ là “phục vụ nhân dân”. Người nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Chính phủ “là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”(2). Trong bài Dân vận đăng trên báo Sự Thật (ra ngày 15-10-1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3). Vì vậy, mọi quyết sách của Chính phủ phải xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, ý chí của dân, “phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”(4), ngay cả những việc trực tiếp có lợi cho dân, như đắp đê, hộ đê, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ... để “được dân chúng đồng ý” và “vui lòng ra sức làm”. Trong Chính phủ, cán bộ có trách nhiệm “đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”(5).

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một chính phủ phục vụ, với trách nhiệm như trên có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam hiện nay. Theo đó, Chính phủ kiến tạo, bên cạnh vai trò kiến thiết, tạo dựng môi trường sống và hoạt động tốt nhất cho mọi người dân, nhằm phát huy tối đa sức dân thì bản thân Chính phủ phải có đủ năng lực, sự minh bạch, đủ khả năng giải trình trước xã hội.

Trách nhiệm giải trình của Chính phủ kiến tạo có thể hiểu là trách nhiệm của Chính phủ trong việc cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, và việc phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đó trước xã hội, cơ quan và tổ chức có liên quan. Việc thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với xã hội có thể chủ động hoặc giải trình bị động. Giải trình chủ động là các tổ chức, cá nhân trong Chính phủ chủ động thông tin, chủ động công khai nội dung hoạt động của mình đến với xã hội. Giải trình bị động là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong Chính phủ cung cấp thông tin theo yêu cầu của xã hội. Trách nhiệm giải trình của Chính phủ kiến tạo trước xã hội gồm hai khía cạnh:

Thứ nhất, đó là trách nhiệm của Chính phủ trong cung cấp, giải thích, làm rõ thông tin một cách công khai, minh bạch về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Trong nhà nước pháp quyền XHCN, trách nhiệm giải trình là biểu hiện của cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực của nhân dân đối với cơ quan nhà nước nói chung và Chính phủ nói riêng. Việc cung cấp, giải thích đầy đủ, công khai và minh bạch thông tin sẽ góp phần làm gia tăng niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ. Từ đó, góp phần phát huy trí tuệ, tính tích cực và sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và tăng cường dân chủ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định chính trị - vốn là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Việc cung cấp thông tin phải được thực hiện kịp thời, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và thuận lợi cho nhân dân.

Thứ hai, Chính phủ phải nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước xã hội đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc Chính phủ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc được giao như là hệ quả của việc không thể giải trình hoặc thừa nhận sự sai phạm gây ra hậu quả trong quá trình thực thi công vụ. Chính phủ phải gánh chịu hình phạt khi để xảy ra hậu quả tiêu cực trong các công việc của mình nhằm hướng đến sự bảo đảm quyền dân chủ trong quá trình quản lý nhà nước và bảo đảm để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với Chính phủ.

2. Tính tất yếu khách quan thực hiện trách nhiệm giải trình trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo là một biện pháp để kiểm soát quyền lực Nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đối với các công việc của Nhà nước. Thực hiện trách nhiệm giải trình trong quá trình vận hành và xây dựng một Chính phủ kiến tạo ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nguồn gốc, bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, từ yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, cũng như yêu cầu nội tại của bộ máy hành chính nhà nước.

Thứ nhất, thực hiện trách nhiệm giải trình xuất phát từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Điều 1, Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013). Do đó, Chính phủ, với tư cách là cơ quan hành pháp, có trách nhiệm giải trình trước Nhân dân về việc thực thi nhiệm vụ của mình.

Thứ hai, yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và sự nâng cao về dân trí, sự quan tâm của xã hội đối với các công việc của Nhà nước.

Sự phát triển kinh tế đặt ra nhiều thử thách mới đối với quản lý của Nhà nước. Yêu cầu công khai, minh bạch, nhanh chóng, thuận lợi trong quản lý, trong các cơ chế, chính sách, cũng như các thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho thị trường, doanh nghiệp và người dân ngày càng cao. Do đó, thực hiện trách nhiệm giải trình là một tất yếu trong quá trình xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo.

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải thích ứng với những chuẩn mực chung, quy tắc chung, sân chơi chung... Đặc biệt, nó đặt ra yêu cầu bức thiết về cải cách hành chính, nhất là cải cách thể chế, chính sách, chất lượng công chức, năng lực, phong cách điều hành của Chính phủ. Yếu tố thể chế là một trong các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Tuy nhiên, ở tiêu chí này, Việt Nam chỉ đạt 50 điểm, xếp thứ 94/140 quốc gia được khảo sát(6). Vì vậy, cải cách hành chính nói chung, thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ trước xã hội nói riêng là điều kiện cần thiết, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập. Một nền hành chính minh bạch, hiệu quả gắn với trách nhiệm giải trình sẽ là môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, làm cho kinh tế phát triển bền vững.

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, trình độ dân trí của nhân dân Việt Nam cũng ngày càng được nâng cao, giúp cho người dân tiếp cận thông tin nhanh hơn và có thể đọc và hiểu được các văn bản do Nhà nước ban hành, nắm bắt quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của Chính phủ trong thực thi công vụ. Trình độ dân trí càng cao, người dân càng quan tâm hơn đến quyền làm chủ của mình, tham gia nhiều hơn, tích cực hơn vào các công việc của nhà nước; đồng thời, cũng có yêu cầu cao hơn trong việc được cung cấp đầy đủ thông tin, được giải thích và làm rõ mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước. Sự phát triển về mặt dân trí, sự quan tâm và tham gia ngày càng tích cực của nhân dân vào các công việc của nhà nước là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo.

Thứ ba, thực hiện trách nhiệm giải trình trong quá trình vận hành và xây dựng Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam là tất yếu, do những hạn chế, bất cập trong bộ máy hành chính nhà nước nói chung và Chính phủ nói riêng. Theo các tiêu chí quốc tế, Việt Nam đạt kết quả tương đối tốt về hiệu lực của chính phủ và ổn định chính trị, kiểm soát tham nhũng và pháp trị cơ bản, nhưng lại thua kém các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp hơn về tiếng nói của người dân, trách nhiệm giải trình của Chính phủ(7). Trách nhiệm giải trình là một trong 6 tiêu chí đánh giá chất lượng Quản trị nhà nước(8), tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam chỉ đạt khoảng 10/100 điểm liên quan đến tiêu chí này(9). Ngoài ra, các chỉ số đo lường khác như PAPI, Chỉ số công lý... cũng phản ánh thực trạng thực hiện trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính nhà nước với kết quả tương tự(10).

Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới sự thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ cũng nhận định, trong ba yếu tố thể chế là ổn định chính trị, trọng lượng tiếng nói của người dân và trách nhiệm giải trình của chính quyền, và chất lượng điều tiết hoạt động kinh doanh thì: “chỉ số trọng lượng tiếng nói của người dân và trách nhiệm giải trình của chính quyền ở Việt Nam vẫn nằm ở nhóm mười quốc gia thấp nhất và so với các quốc gia khác thì thứ hạng này từ năm 1996 tới nay lại có xu hướng giảm đi”(11) và xác định đây là một trong ba rào cản thể chế hiện nay của Việt Nam. Vì vậy, thực hiện trách nhiệm giải trình trở thành yêu cầu thiết yếu của Việt Nam hiện nay.

Ngoài ra, hệ thống hành chính hiện hành còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc và “chưa tạo lập được bộ máy cán bộ, công chức có tính chuyên nghiệp cao”(12) là sức cản rất lớn đang ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.

3. Nội dung giải trình của Chính phủ

Nội dung cần giải trình của Chính phủ là “những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định cho từng vị trí, chức danh cụ thể gắn liền với tính hợp lý, hợp pháp và tính hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”(14). Tùy vào mỗi lĩnh vực khác nhau, chủ thể yêu cầu trách nhiệm giải trình khác nhau mà nội dung giải trình của Chính phủ cũng khác nhau. Thẩm quyền (bao gồm các nghĩa vụ và các quyền để thực hiện chức năng, nhiệm vụ) của Chính phủ sẽ trả lời cho câu hỏi Chính phủ có trách nhiệm giải trình vấn đề gì, tức là nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đến đâu thì trách nhiệm giải trình của Chính phủ đến đó. Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và thẩm quyền này bao trùm mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội của quốc gia. Cũng vì vậy mà không thể có một đạo luật nào chứa đựng hết các quy định chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ mà nó nằm rải rác ở hầu hết các đạo luật từ Hiến pháp đến các luật như Luật Tổ chức Chính phủ,... và các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, dựa vào Hiến pháp và các luật tổ chức cơ quan nhà nước vẫn có thể phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ để từ đó xác định nội dung trách nhiệm giải trình của Chính phủ.

Ở Việt Nam, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được quy định tại Chương VII Hiến pháp năm 2013, Chương II, III, IV Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, ngoài ra còn được quy định bổ sung trong nhiều luật khác về tổ chức các cơ quan nhà nước và các luật chuyên ngành. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn chung của Chính phủ; nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ; nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Dựa theo nhiệm vụ, quyền hạn chung của Chính phủ thì nội dung trách nhiệm giải trình của Chính phủ bao gồm:

Thứ nhất, trách nhiệm giải trình đối với nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng cho quyền hành pháp là tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật.

Thứ hai, hầu hết các văn bản pháp luật được thông qua bởi Quốc hội đều do Chính phủ khởi thảo. Do đó, Chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm giải trình các vấn đề nảy sinh trong hoạch định chính sách và trình dự án luật, pháp lệnh.

Thứ ba, quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Chính phủ, trong đó định rõ trách nhiệm về quản lý và phát triển kinh tế; quản lý tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; khoa học công nghệ; giáo dục và đào tạo; văn hóa thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; công tác dân tộc; công tác tín ngưỡng, tôn giáo; quốc phòng; cơ yếu; an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân. Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động trên, vì vậy, Chính phủ cũng có trách nhiệm giải trình đối với việc hoạch định chính sách quản lý; cách thức, biện pháp quản lý; và kết quả quản lý... Do đó, Chính phủ có trách nhiệm giải trình về kết quả của các hoạt động nói trên.

Thứ tư, Chính phủ có trách nhiệm giải trình đối với việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Thứ năm, Chính phủ có trách nhiệm giải trình về vấn đề nhân sự của Chính phủ, chẳng hạn vấn đề tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức và công tác thi đua, khen thưởng; công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; vấn đề nhân sự đối với chính quyền địa phương, v.v..

Như vậy, có thể thấy, nội dung trách nhiệm giải trình của Chính phủ là rộng lớn, bao trùm mọi mặt đời sống xã hội.

4. Giải pháp thúc đẩy thực hiện trách nhiệm giải trình trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo

Xây dựng Chính phủ kiến tạo suy đến cùng là xây dựng một Chính phủ hành động vì nhân dân. Xây dựng và vận hành chính phủ kiến tạo cần được thực hiện đồng bộ và trên nhiều phương diện, trong đó, thực hiện trách nhiệm giải trình nói chung, trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với xã hội nói riêng là tiền đề thực tiễn cần thiết, cần được thúc đẩy và phải trở thành hoạt động thường xuyên trong bộ máy hành chính ở Việt Nam hiện nay. Các giải pháp chủ yếu thúc đẩy thực hiện trách nhiệm giải trình với xã hội trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam hiện nay là:

Một là, đẩy mạnh quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đa dạng hóa các hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, đẩy mạnh quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN sẽ khiến cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình nói chung và trách nhiệm giải trình giữa Chính phủ với nhân dân nói riêng trở nên mang tính khách quan, là quá trình tự thân trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo. Quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay cần phải được quán triệt theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Theo đó, bộ máy nhà nước cần phải được tổ chức gọn nhẹ, rõ ràng, cụ thể về chức năng, quyền hạn và trách nhiệm, phải tạo điều kiện để người dân dễ tiếp cận, dễ đối thoại, dễ kiểm tra, giám sát và đóng góp trí tuệ, sáng kiến vào việc quản lý nhà nước và xã hội. Trong xây dựng bộ máy Nhà nước, cần phải chú trọng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyển trọng tâm từ quy định quyền của bộ máy nhà nước sang xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan này trong mối quan hệ với nhân dân, tăng cường tranh luận, phản biện, giám sát, đưa ra các quyết định dưới hình thức luật(14). Tăng cường sự giám sát của cơ quan tư pháp đối với quá trình hoạch định, thực thi chính sách và việc thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong quá trình đó. Hoàn thiện cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện việc phản biện xã hội đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nói chung và của Chính phủ nói riêng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Trong Chính phủ, trách nhiệm cá nhân cần được xác định rõ ràng và bảo đảm trên thực tế. Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tưởng, các Bộ trưởng phải nêu gương, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm giải trình không chỉ trong nội bộ, trước Đảng, trước Quốc hội mà cần phải chủ động và nghiêm túc thực hiện trách nhiệm giải trình trước xã hội thông qua các cuộc gặp gỡ, đối thoại với nhân dân; tăng cường các cam kết trong hành động và chịu trách nhiệm về những vấn đề mà Chính phủ đã cam kết trước Đảng, Quốc hội, và nhân dân. Chủ động giải trình các vấn đề quan trọng, chủ trương, chính sách mới, những vấn đề còn chưa thống nhất, gây dư luận thông qua nhiều phương thức khác nhau trước xã hội. Ngoài ra, Chính phủ cần đẩy mạnh và nghiêm túc kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Nghị định số 90/2013/NĐ-CP về trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý, khuyến khích các địa phương và cơ quan trong bộ máy hành chính thực hiện trách nhiệm giải trình một cách chủ động, tạo chuyển biến mạnh mẽ để việc thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ với Nhân dân trở thành hoạt động thực tiễn, thường xuyên và có chất lượng.

Cần phải chú trọng hơn hình thức giải trình trước các cơ quan của Quốc hội để Quốc Hội có thể thu thập thông tin (ý kiến, quan điểm, chứng cứ, dữ liệu...) về những vấn đề chính sách từ các cơ quan thuộc Chính phủ, các chuyên gia từ bên ngoài, các tổ chức dân sự, hiệp hội, doanh nghiệp, cá nhân, công dân nhằm mục đích tăng cường chất lượng ra quyết định. Điều trần tại các Ủy ban của Quốc hội mang lại lợi ích cho cả 3 bên: Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân(15).

Hai là, phát huy vai trò của hệ thống phản biện xã hội đối với các hoạt động giải trình của Chính phủ với người dân. Trong quá trình xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo, hệ thống phản biện xã hội có vai trò rất lớn trong thúc đẩy thực hiện trách nhiệm giải trình giữa Chính phủ với người dân, trong phòng ngừa và khắc phục các biểu hiện tha hóa con người về mặt chính trị, góp phần phát huy quyền làm chủ Nhà nước của nhân dân. Phản biện xã hội nhằm “phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước”(17), kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.

Sự phản biện của xã hội làm cho các quyết định của Chính phủ phải chấp nhận sự cọ xát với các ý kiến trái chiều, buộc Chính phủ phải giải thích một cách rõ ràng, minh bạch, cũng như phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình.

Bên cạnh đó, các hoạt động phản biện thường gây ảnh hưởng đáng kể lên đời sống của nhân dân. Trong thời đại bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông, và hội nhập quốc tế, vai trò tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các đoàn thể chính trị - xã hội, của truyền thông giúp cho các hoạt động phản biện ngày càng được xã hội hóa. Các quyết định của Nhà nước nói chung và Chính phủ nói riêng, do đó, cũng được dư luận quan tâm hơn, đòi hỏi một sự giải thích thấu đáo cũng như phải chịu trách nhiệm từ phía Chính phủ đối với những hệ lụy phát sinh từ các quyết định đó.

Để hoạt động giải trình của Chính phủ mang lại hiệu quả, cần thực hiện đa dạng các kênh giải trình, trong đó đẩy mạnh thực hiện giải trình thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, Việt Nam đã và đang áp dụng hình thức giải trình này qua các kênh như: “Cổng thông tin điện tử Chính phủ”; “Diễn đàn cạnh tranh quốc gia”, “Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời”, nhưng hình thức này vẫn còn cần thời gian dài để đánh giá mức độ hài lòng của nhân dân cũng như hiệu quả đối với trách nhiệm giải trình của Chính phủ.

Ba là, nâng cao năng lực giải trình của cán bộ, công chức trong các cơ quan thuộc Chính phủ. Theo đó, cán bộ, công chức cần phải thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ để nắm rõ, nắm chắc các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Cán bộ, công chức của Chính phủ phải có ý thức tự giác học tập, rèn luyện các kỹ năng như kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết trình để có thể giải thích, làm rõ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao một cách đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, sao cho dân hiểu rõ, hiểu đúng và hiểu đầy đủ. Cán bộ, công chức cũng cần phải nhận thức rõ trách nhiệm giải trình là trách nhiệm gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ được giao, do đó, nó không chỉ dừng lại ở mức độ giải thích mà còn phải chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyết định của mình trước nhân dân. Việc thực hiện trách nhiệm giải trình với nhân dân cũng không thể qua loa, đối phó, hoặc đùn đẩy trách nhiệm.

Việc gặp gỡ trực tiếp để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân và doanh nghiệp một cách tự nhiên cũng là điều cần thiết. Bên cạnh những cơ chế tiếp xúc, tương tác chính thức nói trên, cán bộ, công chức cần mạnh dạn tiếp xúc với người dân và doanh nghiệp thông qua các cơ chế phi chính thức, chẳng hạn như mô hình “cà phê cùng doanh nghiệp” đang được thực hiện ở một số địa phương hiện nay.

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hoạt động của Chính phủ. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Muốn thúc đẩy trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với xã hội trong thực thi công vụ thì một giải pháp quan trọng là phải tăng cường sự lãnh đạo, giám sát của Đảng đối với Nhà nước nói chung, các hoạt động của Chính phủ nói riêng.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2020

(1) Phạm Duy Nghĩa: Trách nhiệm giải trình: vươn tới những chuẩn mực của một nền hành chính phục vụ phát triển, https://fsppm.fuv.edu.vn.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.572.

(3), (4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.1379, 1379, 506.

(6) Schwab: The Global Competitiveness Report 2018, Switzerland: WEF, 2018, tr.600.

(7) WJP: World Justice Project Rule of Law Index 2017-2018,  https://worldjusticeproject.org.

(8) 6 chỉ số để đánh giá chất lượng quản trị quốc gia gồm: tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị và phi bạo lực, hiệu lực của chính phủ, chất lượng của quy định, thượng tôn pháp luật và kiểm soát tham nhũng.

(9) The Worldwide Governance Indicators (WGI), http://info.worldbank.org.

(10) CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP: Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2018: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân; VLA & UNDP: Chỉ số Công lý 2015: Hướng tới một nền tư pháp vì dân.

(11), (12) Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam: Việt Nam 2035: Hướng tới sự thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, Washington, D.C, 2016, tr.96, 105.

 (13) Bùi Thị Cần: Trách nhiệm giải trình của Chính phủ, http://lyluanchinhtri.vn.

(14) Nguyễn Thị Kim Ngân: Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo đường lối Đại hội XII của Đảng, http://www.tapchicongsan.org.vn.

(15) Nguyễn Đức Lam, Hoàng Minh Hiếu, John Patterson, Kit Dawnay: Báo cáo Nghiên cứu điều trần tại các ủy ban của Nghị Viện và khả năng áp dụng ở Việt Nam, Dự án 00049114 - “Tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện ở Việt Nam” - Giai đoạn III, Chủ quản: Văn phòng Quốc hội - Chương trình phát triển Liên Hợp quốc, 2011, tr.10-17.

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Quyết định số 217 -QĐ/TW ngày 12-12-2013 về việc Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, http://tulieuvankien.dangcongsan.vn. 

TS Ngô Thị Huyền

Trường Đại học Lạc Hồng

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền