Trang chủ    Thực tiễn    Một số xu hướng nổi bật của thế giới do đại dịch COVID -19 và những tác động đối với Việt Nam trong thời gian tới
Thứ tư, 13 Tháng 1 2021 08:57
22 Lượt xem

Một số xu hướng nổi bật của thế giới do đại dịch COVID -19 và những tác động đối với Việt Nam trong thời gian tới

(LLCT) - Dịch bệnh COVID-19 khởi phát từ Trung Quốc (tháng 12-2019) đến nay đã lan rộng ra các quốc gia và trở thành đại dịch nguy hiểm, tác động sâu rộng tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, y tế, quá trình toàn cầu hóa... đối với sự phát triển toàn thế giới hiện nay và trong thời gian tới. Theo Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Antonio Guterres, tác động của đại dịch COVID-19 là thách thức lớn nhất mà thế giới phải đối mặt kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Bài viết tập trung phân tích, đánh giá và dự báo một số xu hướng nổi bật của tình hình thế giới qua đại dịch COVID-19 và những tác động đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Đại dịch COVID-19, Mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam.

1. Một số xu hướng nổi bật của thế giới qua đại dịch COVID-19

Tác động của đại dịch COVID-19 đối với thế giới theo Tổng thư ký Liên Hợp quốc Antonio Guterres hiện nay là thách thức lớn nhất mà thế giới phải đối mặt kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Đại dịch diễn ra trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, bất ổn. Lần đầu tiên, các nước trên thế giới phải áp dụng các biện pháp chưa từng có như phong tỏa, giãn cách xã hội, đóng cửa biên giới, tạm dừng nhiều hoạt động dịch vụ như hàng không, du lịch... Kinh tế thế giới bị tác động hết sức nghiêm trọng do gián đoạn các hoạt động kinh tế, làm đứt gãy chuỗi sản xuất và cung ứng. Đại dịch có thể dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Khủng hoảng kinh tế làm cho khủng hoảng xã hội thêm trầm trọng, sự bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn chính trị gia tăng tại nhiều nước. Tiến trình toàn cầu hóa đang gặp thêm nhiều khó khăn trở ngại. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là quan hệ Trung - Mỹ diễn ra ngày càng gay gắt, phức tạp.

Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cường quyền, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa thực dụng có xu hướng phát triển dẫn đến sự suy giảm vai trò của nhiều thể chế đa phương. An ninh phi truyền thống ngày càng trở thành vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia.

Có thể khái quát một số xu hướng nổi bật của thế giới do đại dịch COVID-19 như sau:

Kinh tế thế giới suy thoái và đứng trước nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng, đồng thời với xu hướng gia tăng bất ổn chính trị - xã hội

Do dịch COVID-19, kinh tế toàn cầu sau 6 tháng đầu năm 2020 được nhận định đã bước vào một cuộc suy thoái tồi tệ hơn so với cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009. Trong báo cáo công bố ngày 24-6-2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã báo động đại dịch COVID-19 đã tác động đến tất cả mọi khu vực địa lý trên toàn cầu, khiến GDP của thế giới thấp hơn, giảm 4,9% so với năm 2019, thấp hơn rất nhiều so với mức -1,7% của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008; đại dịch COVID-19 đã cuốn trôi 12.000 tỷ USD của cải trên thế giới. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) còn dự báo nếu COVID-19 bùng phát lần thứ 2, GDP toàn cầu có thể giảm -7,6%(1).

Kinh tế thế giới theo dự báo sẽ khôi phục chậm, kéo dài và không đồng đều ở các khu vực bởi suy thoái kinh tế diễn ra trong bối cảnh nhiều nhân tố gây khó khăn bất ổn cùng tác động như cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh thương mại giữa các nước lớn gia tăng, biến động giá dầu mỏ quốc tế, tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các đầu tàu kinh tế như nhóm các nước G7, G20 đều gặp khó khăn... Như vậy, khả năng kinh tế thế giới phục hồi theo hình chữ V là khó có thể xảy ra, nhiều khả năng chỉ có thể phục hồi theo hình chữ U, tức là từ từ đi lên, ngay cả phương án này cũng không dễ dàng, bởi các trụ cột kinh tế thế giới đều gặp khó khăn.

Tại Mỹ, cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ cho biết, nền kinh tế nước này đã kết thúc giai đoạn tăng trưởng dài nhất trong lịch sử và rơi vào suy thoái trong tháng 2, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Nền kinh tế số 1 thế giới dự báo sẽ giảm 8% GDP trong năm nay.

Tại Liên minh châu Âu, bức tranh kinh tế cũng xuất hiện một loạt khó khăn khi dịch bệnh diễn biến nghiêm trọng ở tất cả các nền kinh tế chủ chốt ở châu lục. Nền kinh tế Eurozone GDP đã giảm 3,8% trong quý I năm 2020 trong khi sản xuất kinh doanh đình trệ là mức giảm sút lớn nhất kể từ năm 1995. GDP của 19 nước thành viên Eurozone ước giảm hơn 10% trong năm nay.

Tại Trung Quốc, dịch bệnh dù đã được kiểm soát song tác động nghiêm trọng về kinh tế đã bộc lộ rõ hơn. Kinh tế Trung Quốc suy giảm 6,8% trong quý I năm 2020, được dự báo chỉ tăng 1,3% trong quý II năm 2020, nhiều khả năng sẽ giảm tốc độ tăng trưởng từ 6,9% năm 2019 rơi xuống còn 1% trong năm nay. Dịch bệnh bùng phát trong bối cảnh Trung Quốc chịu tác động của chiến tranh thương mại với Mỹ, bất ổn về chính trị, xã hội (ở Hồng Kông).

Tại Nhật Bản, dưới tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế Nhật Bản đã lần đầu tiên rơi vào suy thoái kể từ năm 2015, tăng trưởng âm hai quý liên tiếp; tất cả các yếu tố từ tiêu dùng tư nhân, chi tiêu vốn và xuất khẩu đều ghi nhận sự giảm sút.

Đại dịch COVID-19 cũng tác động nặng nề đến kinh tế các nước ASEAN, IMF dự báo tăng trưởng GDP của các nước ASEAN sẽ giảm 0,6% trong năm 2020.

Theo báo cáo đánh giá sơ bộ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): cuộc khủng hoảng kinh tế và lao động do dịch COVID-19 gây ra có thể làm tăng thêm 25 triệu người thất nghiệp trên toàn cầu, so với số lượng thất nghiệp là 188 triệu trong năm 2019(2).

Đại dịch đã gây ra những hậu quả nặng nề làm phức tạp thêm các vấn đề chính trị - xã hội của từng quốc gia cũng như những vấn đề ở phạm vi toàn cầu.

Sự chuyển dịch lớn của chuỗi cung ứng toàn cầu

Trước đại dịch, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng theo hướng giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc đã xuất hiện do tác động của chiến tranh thương mại, chủ nghĩa dân tộc nổi lên và quan hệ xấu đi giữa Mỹ và Trung Quốc. Đại dịch COVID-19 bùng phát thúc đẩy các nước phát triển, điều chỉnh mạnh hơn việc dịch chuyển các chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ đối với các mặt hàng thiết yếu, có tính chiến lược cao và chú trọng hơn đến việc khai thác tối đa thị trường nội địa. Sắp tới, các quốc gia sẽ tìm cách giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thị trường, làm thay đổi quan hệ thương mại toàn cầu.

Đẩy nhanh hình thành và cách tiếp cận mới về toàn cầu hóa

Tiến trình toàn cầu hóa đã có xu hướng chững lại, phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, xu hướng bảo hộ, cạnh tranh nước lớn. Trong bối cảnh mới, các nước điều chỉnh cách tiếp cận mới đối với tiến trình toàn cầu hóa với các biện pháp hội nhập nhằm hạn chế rủi ro, do sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Vấn đề biên giới và chủ quyền sẽ được chú trọng hơn trong quan hệ kinh tế, cũng như vấn đề bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trong bối cảnh mới, toàn cầu hóa không bị cáo chung mà vẫn là xu thế khách quan trong điều kiện mới cần có những luật chơi mới phù hợp.

Thúc đẩy cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 phát triển khá mạnh, các nước chú trọng hơn đầu tư, thúc đẩy, ứng dụng các công nghệ phù hợp thích ứng với môi trường xã hội, giảm tiếp xúc và giám sát, quản lý xã hội. Việc thực hiện chính phủ điện tử, thương mại điện tử, làm việc trực tuyến tại nhà, họp trực tuyến từ xa, khám chữa bệnh từ xa; công nghệ 5G, 6G, công nghệ tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano đã có bước phát triển nhảy vọt. Cách mạng khoa học công nghệ đang làm thay đổi thế giới về mọi phương diện, các nước cũng sẽ đẩy mạnh các biện pháp công nghệ nhằm hạn chế nguy cơ thách thức về an ninh mạng, an ninh phi truyền thống.

Xu hướng tiêu dùng, thương mại và xu thế phát triển sẽ thay đổi. Xuất hiện các ngành nghề kinh doanh trực tuyến mới dựa trên kinh tế số, theo nguyên tắc từ xa, hạn chế tiếp xúc.

Thay đổi nhận thức về quản trị quốc gia

Thực tiễn thúc đẩy các nước nhận thức lại về vai trò của nhà nước và mối quan hệ của nhà nước với thị trường và xã hội nhằm bảo đảm khả năng xử lý hiệu quả các cuộc khủng hoảng. Nhận thức về giá trị, mục tiêu và phương thức phát triển, đáp ứng nhu cầu thực tế của con người, giảm thiểu sự phụ thuộc từ bên ngoài trong các lĩnh vực thiết yếu; mối quan hệ công - tư; mối quan hệ giữa quyền tự do cá nhân và lợi ích cộng đồng, bảo đảm các quyền chính đáng của cá nhân với lợi ích cộng đồng, xã hội. Theo đó, sức khỏe cộng đồng được đặt lên trước, cao hơn quyền tự do cá nhân.

Đẩy nhanh định hình lại mô hình quản trị toàn cầu

Trong những năm qua, các định chế quốc tế chủ chốt đã không phát huy hiệu quả vai trò quản trị toàn cầu do mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước lớn cũng như sự bất cập, hạn chế của những định chế này. Đại dịch lần này đã bộc lộ những yếu kém trên, đặc biệt là sự thiếu hiệu quả trong phối hợp quốc tế trong việc đối phó với dịch bệnh.

Đại dịch cũng bộc lộ những khiếm khuyết lớn trong các cơ chế quản trị toàn cầu, khu vực, kể cả Liên Hợp quốc, đồng thời cho thấy thế giới cơ bản vẫn vận hành trên các nguyên tắc đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc vị kỷ. Điều này gắn liền với việc gia tăng của xu hướng chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cường quyền, chủ nghĩa thực dụng, dẫn đến sự suy giảm của nhiều thể chế đa phương. Do vậy, trong thời gian tới, vai trò các định chế quốc tế sẽ bị thách thức rất lớn, thúc đẩy xu hướng cải cách các định chế quốc tế, hỗ trợ cho quản trị toàn cầu, khắc phục những yếu kém bộc lộ trong thời gian qua.

Chuyển dịch quyền lực, chính sách và động thái mới của các nước lớn, nhất là quan hệ Trung - Mỹ

Từ năm 2016 đến nay, đã có một số thay đổi như: Mỹ tiếp tục là siêu cường duy nhất, nhưng Trung Quốc đang rút ngắn khoảng cách trên nhiều mặt, cả về lượng và chất (kinh tế, khoa học và công nghệ, bằng sáng chế...), tạo ra cục diện đa cực, đa trung tâm nhưng phân bố quyền lực không đều; cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng, trong các lĩnh vực kinh tế, quân sự, thị trường, công nghệ, sở hữu trí tuệ... không chỉ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà còn mở rộng sang các địa bàn khác. Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung hiện đang có biểu hiện của chiến tranh lạnh. Trong cuộc cạnh tranh chiến lược này không có người chiến thắng, cả hai đều bị thiệt hại, đòn tấn công của Mỹ không làm Trung Quốc sụp đổ, trừ yếu tố nội bộ của Trung Quốc; khả năng từ cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ ít có khả năng tạo ra chiến tranh quy mô lớn, chiến tranh khu vực, chiến tranh tổng lực (do răn đe hạt nhân, chi phí chiến tranh quá cao, có nhiều phương cách để đạt lợi ích quốc gia mà không cần qua chiến tranh) nhưng lại tăng nguy cơ giải quyết mâu thuẫn ở ngoại vi (vấn đề Biển Đông, chiến tranh mạng...). Xu thế cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung sẽ ngày càng quyết liệt, toàn diện hơn.

Cục diện “tranh hùng” mang tính thế kỷ giữa các nước lớn nảy sinh từ trước khi đại dịch bùng phát sẽ tiếp diễn lâu dài với độ thăng trầm khác nhau. Với tác động của diễn biến trên, một số cấu trúc chính trị, an ninh quốc tế sẽ thay đổi; tình hình một số khu vực trong đó có Biển Đông ngày càng phức tạp; các đại chiến lược như “một vành đai, một con đường”, “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do rộng mở” sẽ tiếp tục tác động; cần có nghiên cứu sâu hơn để dự báo cục diện, trật tự thế giới 5-10 năm sau đại dịch COVID-19, trong đó quan trọng là các khía cạnh: liệu cục diện, trật tự thế giới có còn do Mỹ và phương Tây chi phối hay không hay sẽ là một trật tự thật sự đa cực; Mỹ liệu đã kết thúc vai trò lãnh đạo chưa?...

Về lĩnh vực cạnh tranh giữa các nước lớn, các yếu tố mới cần được nhấn mạnh là cạnh tranh tri thức, thông tin, dữ liệu và công nghệ, là các lĩnh vực có tính chất ngày càng quyết định đối với sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Vấn đề an ninh phi truyền thống (môi trường, sinh thái, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng...) diễn biến phức tạp

Các thách thức an ninh phi truyền thống đang và sẽ được ưu tiên cao hơn trong nghị trình của các quốc gia. Hướng ưu tiên sẽ được thể hiện ở chỗ các chiến lược an ninh phát triển của các nước sẽ cần toàn diện, bao trùm, bền vững, tự cường, có khả năng chống sốc tốt hơn, các quyết sách vừa cần thể hiện tầm nhìn xa, vừa phải nhanh nhạy, sắc bén kịp thời, trước hết bảo đảm an ninh, an toàn và sinh kế cho người dân.

Hầu hết các vấn đề an ninh phi truyền thống đều mang tính chất xuyên quốc gia và vượt ra ngoài khả năng giải quyết của bất kỳ quốc gia nào, đòi hỏi sự nỗ lực hợp tác của tất cả các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế.

2. Tác động của các xu thế mới đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới

Với nền kinh tế có độ mở rất cao và đang hội nhập quốc tế sâu rộng, đã ký 12 Hiệp định tự do thế hệ mới với các đối tác và tổ chức quốc tế, Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh từ những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu.

Về cơ hội

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhưng Việt Nam vẫn giữ được nền tảng chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Nhân tố này kết hợp với sự phát triển quan hệ của Việt Nam với các đối tác chiến lược, quan hệ song phương và đa phương rộng mở, những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục giúp Việt Nam là điểm sáng hấp dẫn nhiều mặt đối với các đối tác, qua đó giảm thiểu, hóa giải các mặt đối tượng. Khả năng xử lý khủng hoảng COVID-19 thành công vừa qua làm tăng vị thế quốc tế và hình ảnh của Việt Nam là một đối tác tin cậy, điểm đến an toàn trong những năm tới.

Tình hình quốc tế tác động thuận đối với Việt Nam trên các góc độ: (i) Gia tăng vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; (ii) Tạo cơ hội thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ chiến lược giữa Việt Nam với các nước lớn lên tầm cao mới; (iii) Tăng vị thế của Việt Nam trong việc trở thành đầu mối của các nỗ lực hợp tác và liên kết kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu mới. Nhờ chống dịch thành công, nước ta có không ít lợi thế trong việc phục hồi kinh tế. Một trong những cơ hội mới đối với ta là xu hướng chuyển dịch các cơ sở sản xuất sang Đông Nam Á, trong đó Việt Nam được coi là một trong những điểm đến ưu tiên.

Thách thức

Bên cạnh thời cơ, Việt Nam cũng gặp thách thức to lớn sẽ gặp khó khăn hơn do mục tiêu tăng trưởng 7% giai đoạn 2021-2025 sẽ không dễ thực hiện trong bối cảnh môi trường phát triển có xu hướng xấu đi. Chúng ta phải chấp nhận và chuẩn bị nguồn lực, biện pháp ứng phó với các tình huống bất định mới sẽ ngày càng nhiều; phải ứng phó với môi trường địa chiến lược nảy sinh, những phức tạp ngoài tầm kiểm soát (cạnh tranh Mỹ - Trung, các nền tảng kinh tế, chính trị, quản trị toàn cầu gặp khó khăn). Nhiều thách thức như vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước sông Mê Kông chưa có giải pháp căn bản, lâu dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Tình hình dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia cũng gây khó khăn cho quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước. Các biện pháp giãn cách xã hội, đóng cửa biên giới sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với các đối tác chính trong thời gian tới, đặc biệt là những nước đang chịu tác động mạnh mẽ của đại dịch COVID-19 như Mỹ, châu Âu.

Tình hình thế giới, cạnh tranh các nước lớn nhất là quan hệ Mỹ - Trung đang đặt ra nhiều vấn đề mới cho an ninh, ổn định và phát triển của khu vực Đông Nam Á cũng như lựa chọn chính sách của từng quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Vì lợi ích chiến lược, các nước lớn sẽ gia tăng can dự vào khu vực Biển Đông, gây ra thách thức đối với an ninh, hợp tác và phát triển của Đông Nam Á, trong đó Việt Nam sẽ chịu tác động nhiều của quá trình trên. Nguy cơ thỏa hiệp giữa các nước lớn có thể gây phương hại đến an ninh, độc lập, chủ quyền của Việt Nam. ASEAN và cơ chế hợp tác khu vực đứng trước nguy cơ bị phân hóa và chia rẽ.

Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn biến phức tạp trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, xuất hiện dấu hiệu chiến tranh lạnh mới. Không loại trừ thỏa hiệp giữa các nước lớn theo kiểu G2 giữa Mỹ và Trung Quốc, điều này sẽ tác động đến an ninh của khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Ở trong nước, bên cạnh thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nghiêm trọng như, trong khi thế giới đang tiến vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thì Việt Nam vẫn chủ yếu ở giai đoạn hai, tức giai đoạn gia công, lắp ráp. Theo thống kê, hơn 95% doanh nghiệp ở Việt Nam thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh, trình độ khoa học công nghệ, nhất là chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Việc thực hiện các đột phá chiến lược về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực và thể chế mặc dù được chú trọng, song kết quả còn hạn chế.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, mức độ giải ngân vốn đầu tư công, được xác định là nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng GDP còn rất chậm. Theo thống kê, 6 tháng đầu năm 2020, các Bộ ngành địa phương mới giải ngân được gần 35% tổng vốn đầu tư công, như vậy 6 tháng cuối năm cần phải thực hiện giải ngân tiếp 65%, để đảm bảo giải ngân 100% tổng vốn đầu tư công. Đây là nhiệm vụ khó khăn trong bối cảnh mới hiện nay.

Nguy cơ tụt hậu xa hơn về phát triển kinh tế so với các nước trong khu vực ASEAN và thế giới vẫn hiện hữu. Những vấn đề xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng nặng nề, diễn biến phức tạp.

Theo Tổng cục thống kê, mức tăng trưởng GDP nửa đầu năm 2020 của Việt Nam chỉ đạt 1,81% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý II tăng trưởng 0,36%, đây là mức thấp nhất kể từ năm 1991 đến nay. Điều này được thừa nhận là thách thức cho mục tiêu tăng trưởng cả năm là 6,8%. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,8%/năm 2020, hai quý cuối năm phải tăng trưởng trên 10%/năm, đây là điều rất khó trong bối cảnh tác động của dịch bệnh COVID-19, diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực.

Tại Hội nghị giữa Thủ tướng chính phủ với doanh nghiệp, ngày 9-5-2020, Thủ tướng khẳng định “Giờ là lúc lò xo bị nén lại sẵn sàng để bung ra, cần tập trung hơn nữa để khởi động nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2020 trên 5%, không thấp như IMF dự báo chỉ 2,7%. Doanh nghiệp Việt Nam cần đóng góp vào phát triển, kinh tế sau dịch phải là hình chữ V, chứ không phải chữ U, càng không phải chữ W”. Chính phủ nhấn mạnh về trung và dài hạn, cần đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, sắp xếp, tổ chức lại và phục hồi, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, bù đắp, giảm thiểu các thiệt hại(3).

Để thực hiện mục tiêu này, trong điều kiện bình thường mới được xác lập vừa phòng chống dịch, vừa phục hồi phát triển kinh tế - xã hội các giải pháp cần là:

Thứ nhất, cần quán triệt mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng toàn diện, cần đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh xã hội.

Thứ hai, vận dụng thành quả cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện chuyển đổi kinh tế số để tạo ra luật chơi mới và yêu cầu các doanh nghiệp phải có đổi mới sáng tạo, thích ứng nhanh nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.

Thứ ba, tăng cường công tác nghiên cứu dự báo. Hiện nay nước ta đang xây dựng và chuẩn bị thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung và dài hạn 5 năm 2021 - 2025 và 10 năm với tầm nhìn đến năm 2030, 2045. Điều gì sẽ đón đợi trong 5, 10 hay 25 năm tới là điều khó đoán định. Khi soạn thảo chiến lược 2001 - 2010, chưa ai nghĩ đến cuộc khủng hoảng trầm trọng bùng phát năm 2008. Khi xây dựng kế hoạch 10 năm 2011 - 2020, thường không ai hình dung nổi đại dịch COVID toàn cầu bùng phát vào năm chót, do vậy nhiều chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của chiến lược 10 năm có thể sẽ không đạt được như mong muốn. Do vậy phải tăng cường công tác nghiên cứu dự báo.

Thứ tư, chú trọng hơn nữa tất cả các lĩnh vực bảo vệ sức khỏe con người như công nghệ sinh học, dịch tễ, y tế dự phòng, nghiên cứu sản xuất dự trữ các loại vắc xin.

Thứ năm, hướng tới xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Theo hướng này, cần tăng cường nội lực đất nước yêu cầu chú trọng thị trường nội địa, phát triển công nghiệp phụ trợ, đa dạng hóa, đa phương hóa thị trường vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Cần tận dụng cơ hội mới đối với nước ta là xu hướng chuyển dịch các cơ sở sản xuất sang Đông Nam Á, chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhất là hạ tầng, nguồn nhân lực, mặt bằng, nhất là thể chế để chủ động đón đầu dòng chuyển dịch vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia gắn với chuỗi giá trị và chuyển giao công nghệ tiên tiến.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2020

(1), (2) Theo báo Thế giới và Việt Nam số 28, ngày 9 - 15-7-2020, tr.5.

(3) Báo Nhân Dân điện tử, ngày 11-5-2020.

PGS, TSKH Trần Nguyễn Tuyên

Hội đồng Lý luận Trung ương

Thông tin tuyên truyền