Trang chủ    Thực tiễn    Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Thứ hai, 11 Tháng 11 2013 09:10
4264 Lượt xem

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

(LLCT) - Đại đoàn kết là truyền thống quý báu được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc; là một trong những bài học lớn xuyên suốt tiến trình lịch sử cách mạng nước ta. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nhận thức rõ vị trí, vai trò của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đối với sự phát triển của cách mạng. Cùng với sự vận động của thực tiễn, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn, tư duy lý luận của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được bổ sung và phát triển, góp phần to lớn vào những thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội VI của Đảng (1986) đã nêu lên 4 bài học kinh nghiệm lớn, trong đó, bài học thứ nhất là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”(1), xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Trung ương 8 đã ra Nghị quyết 8B về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.
Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức. Tại Đại hội VII, lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta khẳng định lấy khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh đã nêu 5 bài học lớn, trong đó có bài học: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân và vì nhân dân; chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử; không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Đại hội VIII tiếp tục khẳng định tinh thần Đại hội VII và nêu cao phương châm: tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay định cư ở nước ngoài; có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội cũng rút ra một trong những nguyên nhân trọng yếu dẫn đến thành công của Đảng trong hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay"(2).Từ tư duy mới về vai trò của nhân dân, về vấn đề dân tộc trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng này là sự kế thừa, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài... Không phải là một thủ đoạn chính trị... Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(3).

Kế thừa và phát huy nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đại hội Đảng lần thứ IX đã lấy chủ đề: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.Đại hội đã có bước phát triển và cụ thể hơn nữa quan điểm về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân: thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài; lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng. Đại hội khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”(4). Như vậy, so với các động lực khác, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đãnêu bật 4 quan điểm, trong đó nhấn mạnh bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng và hợp pháp của các giai cấp và tầng lớp nhân dân vànhận định đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết chỉ rõ: xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Hơn nữa, cụm từ “đại đoàn kết toàn dân” đã được bổ sung, hoàn chỉnh thành “đại đoàn kết toàn dân tộc” với ý nghĩa mở rộng đại đoàn kết, đoàn kết không chỉ ở trong nước mà còn với cả cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) một mặt khẳng định lại những quan điểm cơ bản của Đại hội IX, đồng thời đã phát triển hoàn chỉnh hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nhấn mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và đồng thuận xã hội. Cụ thể hóa tinh thần Đại hội X của Đảng, Hội nghị Trung ương 6 khóa X (tháng 1-2008) ra Nghị quyết về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Hội nghị Trung ương 7 khóa X (tháng 7-2008) đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức và Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đó chính là hệ thống các quan điểm của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò và sự cần thiết phải tăng cường, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.

Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: phát huy sức mạnh toàn dân tộc là thành tố thứ hai, sau thành tố về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây chính là hai thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định để thực hiện thành công những nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc được hiểu là sức mạnh tổng hợp của cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sức mạnh của các thành phần kinh tế, các lực lượng chính trị, xã hội, các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài có cùng “mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”(5).

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là sự kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện sự nhất quán kiên định tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh - tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng dựa trên sự bố trí các lực lượng xã hội, trên cơ sở vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, quan điểm dân tộc vào thực tiễn Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”(6).

Điều đáng lưu ý là quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc cũng đồng thời với sự nhận thức đúng về vị trí của yếu tố lợi ích. Ngay từ Nghị quyết Trung ương 8 khoá VI Đảng đã nêu quan điểm: động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Yếu tố quan trọng đầu tiên, có tính quyết định bảo đảm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc chính là phải bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội.Cùng với việc giải quyết đúng đắn, hợp lý quan hệ lợi ích, phát huy chủ nghĩa yêu nước, thực hiện dân chủ là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư duy về dân chủ của Đảng ta cũng có sự phát triển trong mối quan hệ với tư duy đoàn kết toàn dân tộc khi nhấn mạnh kết hợp nguyên tắc tập trung dân chủ với nguyên tắc hiệp thương dân chủ để làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta.

Để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, Đảng ta đặt vấn đề phải xây dựng sự đồng thuận xã hội. Đồng thuận trong xã hội ta hiện nay là sự nhất trí trên những điểm tương đồng. Về chính trị, điểm tương đồng là mục tiêu chung: giữ vững độc lập thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Về kinh tế, là sự phát triển hài hoà các lợi ích (cá nhân, tập thể, cộng đồng, xã hội) vì sự phát triển chung của đất nước. Về tinh thần là chủ nghĩa yêu nước chân chính. Về mặt văn hoá là sự hướng thiện, tôn trọng những giá trị văn hoá, đạo đức mang tính nhân bản; là giữ gìn và phát huy văn hóa thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và cộng đồng; là sự tôn trọng tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, kiên trì phấn đấu, bằng trí tuệ, tài năng và nghị lực phi thường của mình, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Tuy nhiên, đất nước ta vẫn còn phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức, vẫn còn những hạn chế, yếu kém: kinh tế phát triển chưa bền vững; các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc; phân hóa giàu nghèo ngày một tăng; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch vẫn tăng cường âm mưu, thủ đoạn phá hoại chế độ, phá hoại thành quả cách mạng và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những yếu tố trên tác động lẫn nhau, làm hạn chế việc phát huy thành quả của công cuộc đổi mới, làm giảm lòng tin trong một bộ phận nhân dân, ảnh hưởng đến sự đồng thuận xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng là những khó khăn, thách thức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.

Để sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy sức mạnh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo tôi, cả hệ thống chính trị của đất nước phải thực hiện tốt những nội dung như sau:

Thứ nhất,các tổ chức đảng, cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo việc quán triệt, nâng cao nhận thức và phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành những chính sách, pháp luật, nhất là những chính sách, pháp luật, quy định liên quan đến từng giai cấp, tầng lớp nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả, thiết thực, đi vào chiều sâu “Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; ngăn chặn suy thoái phẩm chất, đạo đức, lối sống, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể; thực hiện tốt vai trò Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể, nhất là cán bộ chủ chốt ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Thứ hai,mở rộng dân chủ, tăng cường sự đồng thuận xã hội đồng thời giữ vững kỷ cương xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... ở tất cả các cấp, các ngành. Các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền cần chăm lo phát huy và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật. Đồng thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Cần nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và tập trung; dân chủ với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật; dân chủ với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ. Thực hiện tốt hơn nữa Quy chế dân chủ ở cơ sở, từng bước giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc để phòng và chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, chống lại các thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm tranh giành quần chúng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Bảo đảm lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội và kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và toàn xã hội, coi đó là yếu tố quan trọng nhất, là điều kiện tiên quyết để tổ chức và động viên nhân dân tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba,chăm lo đối với các giai tầng xã hội. Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trách nhiệm xã hội cao. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống, tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc.

Thứ tư, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, có cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ sáu, đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào ổn định cuộc sống ở nước định cư, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước.

Thứ bảy, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; phát huy tốt hơn nữa vai trò giám sát và phản biện xã hội khi tham gia xây dựng và vận động quần chúng nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; đặc biệt, cần thông qua các hình thức và việc làm thiết thực để phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, ý thức trách nhiệm và quyền làm chủ của nhân dân, hướng mạnh hơn nữa các hoạt động về cơ sở, cộng đồng dân cư.

________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2012

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.213

(2)ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXBChính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.73.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.438.

(4),(5)ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXBChính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.23, 239-240.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.698.

Lê Thế Phong

Học viện chính trị, Bộ Quốc phòng

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền