Trang chủ    Thực tiễn    Quản trị nhân lực tòa soạn trong điều kiện có biến cố - Kinh nghiệm từ đại dịch Covid-19
Thứ sáu, 05 Tháng 8 2022 09:44
147 Lượt xem

Quản trị nhân lực tòa soạn trong điều kiện có biến cố - Kinh nghiệm từ đại dịch Covid-19

(LLCT) - Từ đầu năm 2020 đến nay, các cơ quan báo chí ở nước ta đã có sự thay đổi đáng kể trong việc quản lý nhân sự để thích ứng với bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Bài viết làm rõ một số nội dung cơ bản về quản trị tòa soạn và quản trị nhân lực trong điều kiện có biến cố; thực trạng và kinh nghiệm rút ra trong quản trị nhân lực tại các cơ quan báo chí ở nước ta trong đại dịch Covid-19.

Tòa soạn Báo điện tử VnExpress - Ảnh: vnexpress.vn

Trước những yêu cầu cấp thiết mới đã đưa đến bước chuyển mình rõ rệt của báo chí trong thời gian diễn ra đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, báo chí cũng đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng. Một số áp lực có thể kể đến như giãn cách xã hội kéo dài, nhưng nhu cầu tin tức và các định dạng thông tin mới tăng mạnh. Đại dịch cũng đã thúc đẩy quá trình làm việc từ xa và phát triển mạng lưới riêng của các tòa soạn. Ngoài ra, sản xuất đình trệ đã khiến đầu tư vào quảng cáo giảm mạnh, gây thêm bất lợi cho các cơ quan báo chí trong việc cân đối thu chi. Là lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với sự thay đổi của xã hội, báo chí liên tục phải trải qua nhiều thay đổi lớn trong quá trình hình thành, phát triển. Điều này đồng thời đặt ra những nhiệm vụ mới trong việc quản lý và phát triển nhân lực của mỗi cơ quan báo chí để thích ứng với thời đại(1).

1. Quản trị tòa soạn và quản trị nhân lực

Môi trường truyền thông năng động đã và đang được thúc đẩy chủ yếu bởi sự thay đổi và ảnh hưởng của công nghệ. Các tổ chức truyền thông nói chung và cơ quan báo chí nói riêng, cần phải thích ứng với môi trường đầy biến động này và điều chỉnh lại các chính sách quản lý chiến lược của tổ chức(2). Các tổ chức truyền thông và nhân viên của họ cần phải duy trì khả năng thích ứng. Đặc biệt, các tổ chức thích ứng nhanh nhất có thể để đạt được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ(3). Ngoài ra, năng lực quản lý của các lãnh đạo tại tổ chức truyền thông, cơ quan báo chí tập trung ở mảng quản lý tài năng sáng tạo (cụ thể là quản lý và điều phối những người làm nội dung cũng như bảo đảm số lượng và chất lượng đầu ra của sản phẩm truyền thông), không ngừng phát triển và đổi mới các chức năng nhân sự tiêu chuẩn để thích nghi và vận dụng thành tựu của công nghệ kỹ thuật số(4).

Về quản trị hoạt động của tòa soạn

Trong bối cảnh dịch bệnh, nhiều khu vực bị phong tỏa và giãn cách xã hội, tòa soạn phải thay đổi cách thức quản trị, bao gồm triển khai chuyển đổi số; triển khai tòa soạn hội tụ (mô hình tòa soạn hiện đại, tận dụng tối đa ưu thế về nhân lực đa phương tiện và nền tảng công nghệ kỹ thuật để sản xuất ra các ấn phẩm cho nhiều loại hình báo chí khác nhau); từ đó thay đổi quy trình làm việc thích ứng bối cảnh đặc thù. Trên thực tế, từ trước khi xuất hiện đại dịch Covid-19, nhiều tòa soạn tại Việt Nam đã từng bước triển khai chuyển đổi số trong từng phần hoạt động của đơn vị từ các khía cạnh quản trị chung, quy trình làm việc, phối hợp giữa các bộ phận, giữa các nhân sự đơn tuyến và đa tuyến. Đặc biệt, bối cảnh khó khăn của cao điểm đại dịch Covid-19 đã đẩy nhanh việc hoàn thiện tiến trình này.

Đối với báo mạng điện tử và báo in, điển hình là Báo Thanh Niên, đã chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi số cả về quy trình làm việc và kênh đăng tải từ năm 2015 và triển khai đề án “tòa soạn hội tụ” từ năm 2019. Tuy nhiên, khi đại dịch bùng phát nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh buộc tòa soạn phải ngừng ấn phẩm báo in trong 10 ngày, tòa soạn đã phải đẩy nhanh hơn dự kiến tiến trình chuyển đổi số chỉ trong một tuần (Trích biên bản phỏng vấn sâu, bà N., Ủy viên Ban Biên tập Báo Thanh Niên). Báo Công an nhân dân cũng chuyển đổi phương thức làm việc từ trực tiếp sang trực tuyến ở nhiều khâu công việc, bao gồm duyệt đề tài, lên bản thảo đề tài, phân công công việc, ứng dụng CMS (hệ thống phần mềm quản trị nội dung) đối với báo điện tử và bằng email đối với báo in (Trích biên bản phỏng vấn sâu, bà H., Báo Công an nhân dân).

Đối với đặc thù của các đài phát thanh (báo nói), bối cảnh đại dịch Covid-19 cũng thúc đẩy quá trình tiến đến tòa soạn hội tụ, chia sẻ chung về tài nguyên nội dung và phân bổ ra các loại hình đa phương tiện. Chẳng hạn như Đài Tiếng nói Việt Nam - VOV đã thực hiện nhiều điều chỉnh, đầu tiên là quy trình làm việc chia ca giãn cách, thứ hai là chuyển đổi phương thức làm việc từ xa, thứ ba là thúc đẩy việc chia sẻ tài nguyên giữa các đơn vị và các loại hình báo chí. Cụ thể, về kết cấu tòa soạn, các ban biên tập chia ca, kíp theo buổi sáng - chiều hoặc phân công cuốn chiếu mỗi tuần. Các kênh thời sự phải làm theo ca kíp trực, còn các kênh chuyên đề thường bố trí phóng viên làm việc theo tuần. Bên cạnh đó, tất cả hoạt động khai thác thông tin phải làm việc thông qua hệ thống mạng của đài, mạng internet (Trích biên bản phỏng vấn sâu, ông Đ.H., Đài Tiếng nói Việt Nam).

Đối với các đài truyền hình, đại dịch Covid-19 một mặt gia tăng mạnh mẽ nhu cầu thông tin và sản phẩm truyền hình, một mặt gia tăng áp lực lớn về cơ hội tiếp xúc nguồn tin, trong khi đặc thù báo hình là trực tiếp khai thác âm thanh, hình ảnh tại hiện trường. Tại kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam, ban lãnh đạo phân công các nhóm phóng viên trực chiến hiện trường, nhóm biên tập tại văn phòng và nhóm làm việc trực tuyến. Việc chia các nhóm như vậy vừa bảo đảm tác nghiệp an toàn cho đội ngũ nhân sự, đồng thời bảo đảm thời lượng phát sóng (Trích biên bản phỏng vấn sâu, bà T., Đài Truyền hình Việt Nam).

Sau giai đoạn cao điểm dịch Covid-19, trong bối cảnh bình thường mới, nhưng nhiều yếu tố công nghệ và phương thức làm việc của tòa soạn hội tụ vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả mang tính dài hạn.

Về quản trị chất lượng nội dung

Đại dịch Covid-19 có tác động khác nhau tới chất lượng nội dung của từng loại hình báo chí, các tòa soạn cũng có những cách thích ứng riêng để tăng cường quản trị chất lượng nội dung trong bối cảnh đại dịch. Trong đó, hai vấn đề lớn nổi lên là: mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội, “báo chí công dân” và kiểm định độ chính xác nguồn tin trong tình hình gia tăng tin giả và thông tin sai lệch; vấn đề phóng viên tác nghiệp đa nhiệm, đa phương tiện.

Bảo đảm tính xác thực của thông tin từ “báo chí công dân”, mạng xã hội

Trong bối cảnh đại dịch, phóng viên bị hạn chế trong tiếp cận nguồn tin trực tiếp. Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, tin tức đăng tải bởi người đọc, người dùng mạng xã hội tăng vượt bậc. Trong nhiều trường hợp, mạng xã hội là nơi đầu tiên phát hiện và chia sẻ các tin tức nóng từ cộng đồng. Theo đó, một số lượng không nhỏ tin bài báo chí được thu thập và xử lý trực tuyến.

Tuy nhiên, thông tin từ mạng xã hội thường mang tính quan điểm cá nhân và thậm chí bao gồm thông tin giả mạo, sai lệch. Thực trạng này đòi hỏi nhà báo phải đặc biệt tỉnh táo để phân biệt được tin thật, tin giả, góp phần định hướng dư luận xã hội, giúp người dân không hoang mang lo lắng, tránh các thông tin xấu, độc, sai sự thật và tin đồn.

Về vấn đề này, Báo Công an nhân dân có quan điểm rõ ràng và kiên định về vai trò định hướng và kiểm chứng nguồn tin từ mạng xã hội của tòa soạn. Theo đó, phóng viên cần thông tin chính xác, kịp thời, phân tích đúng, giúp người dân hiểu rõ tình hình.

Mặt khác, nhiều cơ quan báo chí như Báo Thanh Niên và Đài Tiếng nói Việt Nam chỉ ra rằng, thực tế mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội không chỉ có mặt tiêu cực. Bởi, việc sử dụng nguồn tin từ mạng xã hội hiệu quả cũng làm tăng tính tương tác giữa đơn vị báo chí và khán giả, độc giả. Bên cạnh đó, đây là cơ hội khẳng định vị trí đặc biệt của báo chí, cơ hội khẳng định uy tín, vị thế của các đơn vị báo chí đối với công chúng bằng chất lượng và độ chính xác của thông tin.

- Bảo đảm chất lượng nội dung trong điều kiện tác nghiệp từ xa

Trong những thời kỳ cao điểm đại dịch Covid-19, việc thực hiện giãn cách xã hội đã đặt ra nhiều khó khăn cho tác nghiệp của người làm báo, bao gồm: khó khăn trong trao đổi, thống nhất nội bộ tòa soạn; khó khăn trong tiếp cận, thu thập nguyên liệu và xác thực độ tin cậy nguồn tin; khó khăn trong lưu trữ, vận chuyển tư liệu bảo đảm chất lượng và thời gian. Mặt khác, điều kiện làm việc từ xa cũng cho phép phóng viên cùng lúc tác nghiệp trong các đề tài khác nhau, địa phương khác nhau, ở mọi nơi, mọi lúc. Lĩnh vực phát thanh và truyền hình có đặc thù tiếp cận trực tiếp để khai thác hình ảnh, âm thanh của đối tượng. Vì vậy, các phóng viên VOV, VTV3 và Đài Truyền hình Hà Nội đã phải bổ trợ các kỹ năng tác nghiệp trực tuyến, chủ động tiếp cận nguồn tin, tăng cường độ làm việc, chia đội phóng viên hiện trường phụ trách tác nghiệp trực tiếp và phối hợp làm việc trực tuyến với bộ phận biên tập làm việc tại tòa soạn hoặc làm việc từ xa.

- Về các vấn đề then chốt của quản lý nguồn nhân lực

Đại dịch Covid-19 làm trầm trọng thêm những điểm yếu đã tồn tại từ lâu trong hệ sinh thái báo chí, bao gồm: việc giảm thiểu lực lượng lao động do áp lực từ nguồn ngân sách không còn dồi dào như trước, các ứng dụng công nghệ kỹ thuật trong công việc phát triển với tốc độ nhanh chóng và các rủi ro trong quá trình tác nghiệp(5). Những vấn đề này là trọng tâm xử lý của các giải pháp quản lý nhân sự.

Thứ nhất,dù số lượng các tập đoàn truyền thông lớn đang gia tăng trên toàn cầu, lực lượng lao động nhiều nơi bị “cắt giảm” để tinh gọn bộ máy hoạt động và nhân viên bị chuyển từ dạng hợp đồng lâu dài sang làm việc tự do. Việc không thực hiện các thỏa thuận lao động, thuê ngoài, cắt giảm nhân sự và làm việc tự do, gây ảnh hưởng lớn đến khả năng tuyển dụng, duy trì và quản lý hiệu suất của lực lượng lao động không thường xuyên và tạm thời của bộ phận quản lý nhân lực(6). Bên cạnh đó, việc không thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên đôi khi có thể được xem như một biện pháp tiết kiệm chi phí; mặc dù, việc đào tạo có tác động tích cực đến cam kết tình cảm của nhân viên đối với tổ chức(7).

Thứ hai,“đổi mới công nghệ”. Việc chuyển đổi công việc sang các nền tảng trực tuyến dẫn đến những thách thức trong đào tạo, chẳng hạn như thái độ và năng khiếu của mỗi nhân viên trong tiếp nhận công nghệ(8). Ngoài ra, công nghệ kỹ thuật số đã đóng một vai trò quan trọng trong môi trường mang tính rủi ro cao thông qua việc cung cấp các cơ hội ảo không chỉ cho các cơ quan mà còn cho kết nối các mối quan hệ xã hội, khía cạnh quan trọng ảnh hưởng lớn đến quá trình tiếp cận nguồn tin và tác nghiệp của báo chí(9).

Thứ ba,vấn đề an toàn của các nhà báo trong những môi trường tác nghiệp mang tính rủi ro cao, như chiến tranh hay vùng dịch, là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm lớn. Có bốn vấn đề chính mà phóng viên và tòa soạn cần lưu ý chuẩn bị trước khi tác nghiệp, đó là: nhà báo cần được trang bị kiến thức về địa điểm tác nghiệp; người làm báo chỉ đi tác nghiệp khi có đủ sức khỏe thể chất và tinh thần, được tiêm chủng đầy đủ; các nhà báo cần được đào tạo qua một khóa học và cập nhật kiến thức thường xuyên về sơ cứu(10); các vấn đề liên quan đến phúc lợi của người làm báo, bao gồm bảo hiểm và tài chính(11).

2. Kinh nghiệm rút ra trong quản trị nguồn nhân lực ở các cơ quan báo chí trong đại dịch covid-19

Một là, số lượng nguồn nhân lực tại các cơ quan báo chí Việt Nam được bảo đảm

Đại dịch Covid -19 không gây ảnh hưởng nhiều đến nguồn nhân lực tại các cơ quan báo chí Việt Nam. Vấn đề này được ghi nhận ở cả ba mảng báo viết, phát thanh và truyền hình. Ngoài ra, một số cơ quan có xu hướng tuyển thêm nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực về truyền thông kỹ thuật số, bởi sự bùng phát của Covid -19 đã khiến mức tiêu thụ tin tức gia tăng ở tất cả các quốc gia, dẫn đến việc phải có thêm đội ngũ phóng viên nhằm bảo đảm cập nhật thông tin liên tục, tăng cường tần suất tin bài. Đặc biệt đối với các báo điện tử như Báo Thanh Niên, nhu cầu thông tin thể hiện rõ qua lượng truy cập tin, bài tăng vọt so với trước đại dịch.

Song song với áp lực dịch bệnh, thời gian vừa qua một yêu cầu khác là “chuyển đổi số”, mở ra cơ hội kinh doanh và truyền thông mới đến từ các nền tảng kỹ thuật số. Các cơ quan báo chí như Đài Truyền hình Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Thanh Niên đều nhấn mạnh về việc “tăng cường chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong báo chí”. Việc ứng dụng này, bao gồm ba hướng đi nổi bật, đó là phát triển các nội dung mới (podcast, âm thanh, truyền hình, mega-story, infographic...), thực hiện quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội và báo chí dữ liệu. Sự đổi mới này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc bổ sung nguồn nhân lực trẻ có thể tiếp cận nhanh hoặc đã từng được đào tạo bài bản về công nghệ để phù hợp.

Hai là, bảo đảm quyền lợi người lao động 

Theo xu thế chung trên thế giới, Covid-19 ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe tâm lý, thể chất và quyền lợi của người làm báo(12). Đối với các nhà báo và cơ quan báo chí Việt Nam, ảnh hưởng dễ thấy nhất là nguồn thu. Ở Việt Nam, cơ quan báo chí có ba nguồn thu chính là doanh thu phát hành và bán các sản phẩm báo chí, doanh thu từ tổ chức sự kiện, doanh thu từ việc cung ứng các dịch vụ xã hội và nguồn thu lớn nhất là từ các hợp đồng quảng cáo. Thu nhập từ nguồn quảng cáo nay trở nên khó khăn hơn do doanh nghiệp cắt giảm chi tiêu và hợp đồng quảng cáo có xu hướng dịch chuyển qua các nền tảng mạng xã hội. Thí dụ minh chứng rõ nét cho khó khăn này là tại Báo Thanh niên, trong đợt dịch cao điểm của năm 2020, dù năng suất của phóng viên tăng 186%, nhưng doanh số lại giảm 101% cũng vì các đối tác siết chặt kinh phí truyền thông. Tương tự, VTV cũng ghi nhận xu hướng cắt giảm nguồn thu.

Tuy nhiên, các cơ quan báo chí vẫn cố gắng duy trì phúc lợi cho người lao động. Một số cơ quan, như VTV và VOV, vẫn được Nhà nước chi ngân sách để sản xuất nội dung và bảo đảm mức lương cho những người làm báo trong biên chế. Đặc biệt đối với VOV, “các phóng viên đưa tin về tình hình dịch bệnh được nhận nhuận bút gấp 1,5 lần so với trước dịch”. Các phóng viên VOV nhiễm Covid-19 ở giai đoạn đỉnh dịch được nhận hỗ trợ từ 1 đến 2 triệu đồng. Bên cạnh duy trì phúc lợi cho người lao động thông qua nguồn ngân sách cố định, việc mở những hướng phát triển nội dung mới để tạo ra nguồn thu mới cũng là một giải pháp đáng ghi nhận. Như trường hợp của Báo Thanh Niên, tòa soạn đã có thêm các hình thức báo chí truyền thông, đẩy mạnh những dự án nội dung trên mạng xã hội và tư vấn cho khách hàng việc đăng ký quảng cáo trên các nền tảng này.

Ngoài thu nhập, các cơ quan báo chí còn bảo đảm quyền lợi cho phóng viên bằng “chế độ làm việc theo ca”. Việc chia ca kíp trực, làm việc từ xa, nghỉ phép và thậm chí còn có chế độ nghỉ ngơi để tạo điều kiện tác nghiệp một cách tốt nhất cho nhân sự. Giải pháp này được áp dụng tại VOV, VTV - các cơ quan báo chí quốc gia phải bảo đảm việc phát sóng liên tục và thậm chí phải gia tăng số lượng tin bài trong những đợt cao điểm dịch. Điều này không chỉ hiệu quả trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm công việc đưa tin diễn ra liên tục mà còn tác động tích cực đến “sức khỏe tinh thần” của nhà báo(13), giúp họ lấy lại sự tập trung và tái tạo sức sống(14).

Ngoài bảo đảm nguồn thu và cân đối công việc cho người lao động, các cơ quan báo chí cũng thực hiện đầy đủ những yêu cầu bảo đảm an toàn cho nhân viên khi tác nghiệp tại môi trường có điều kiện vệ sinh dịch tễ không an toàn, thông qua công tác tập huấn kỹ năng, tiêm chủng và chuẩn bị trang bị bảo hộ thiết yếu. Bên cạnh đó, các phóng viên - nhóm nhân sự phải dịch chuyển nhiều và tiếp xúc trực tiếp với hiện trường cần được ưu tiên tiêm trước, tập huấn kỹ năng phòng dịch và tạo điều kiện về phương tiện di chuyển.

Ba là, trong đại dịch Covid-19, chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ quan báo chí Việt Nam được tăng cường

Các cơ quan báo chí cần chú trọng rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, phóng viên về hai vấn đề. Đó là củng cố tâm lý đối diện với môi trường làm việc không thuận lợi và khả năng duy trì tinh thần vì công việc của người làm báo. Theo đại diện VOV, dù là trong hoàn cảnh khó khăn nào, nguồn nhân lực hay việc tác nghiệp không chịu tác động nhiều, nhưng “tâm lý” là yếu tố quan trọng thúc đẩy người làm báo dũng cảm đối diện với khó khăn và duy trì trách nhiệm thu thập và truyền tải tin tức của mình. Việc đặt ra nỗ lực phấn đấu và tinh thần trách nhiệm vì công việc giúp nhân viên gắn bó hơn với nghề nghiệp và hoạt động của tổ chức(15).

Vấn đề thứ hai là đào tạo các kỹ năng phục vụ tiến trình “chuyển đổi số”, điều này được nhấn mạnh bởi toàn bộ các đối tượng phỏng vấn sâu. Cụ thể, VTV đề cập đến việc học cách làm việc trực tuyến, không chỉ đối với phóng viên chính thức mà đối với cả các cộng tác viên. Báo Thanh Niên đã lên các kế hoạch đào tạo và đào tạo lại để phù hợp với mô hình số. Phân tích trên toàn thế giới, đại dịch đã cho thấy tầm quan trọng của những thay đổi cơ bản trong thực hành quản trị nhân lực - giảng dạy và xử lý các nền tảng kỹ thuật số(16). Bên cạnh đó, sự phát triển liên tục của các nền tảng công nghệ đặt ra yêu cầu phải tăng cường đào tạo để đáp ứng các kỹ năng, kỹ thuật cần thiết cho công việc. Chính vì vậy, để có thể thích ứng, tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và chiếm ưu thế trên thị trường thông tin, cần có sự đầu tư kịp thời và liên tục vào đào tạo nhân lực(17).

2. Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại các cơ quan báo chí ở nước ta trong đại dịch Covid-19

Thứ nhất, chuyển đổi số và tòa soạn hội tụ cần được phát huy một cách có chiến lược, bài bản và chính thức trong điều kiện bình thường mới, không chỉ mang tính thích nghi nhất thời trong giai đoạn dịch bệnh. Những kinh nghiệm triển khai trong giai đoạn Covid-19 là gợi ý quan trọng cho chiến lược phát triển dài hạn của các tòa soạn.

Thứ hai, các vấn đề về phát triển kỹ năng cho phóng viên theo hướng đa nhiệm, đa phương tiện cùng với đó là việc kiểm định nguồn tin, bảo đảm tính chính xác thông tin - cần được đánh giá chặt chẽ và phát huy hơn nữa. Trong các trường hợp khó khăn, khủng hoảng hoặc có các biến cố, đội ngũ phóng viên cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng để có thể tác nghiệp trong các hoàn cảnh khó khăn đó.

Thứ ba, trong bối cảnh dịch Covid-19 nói riêng và trong những môi trường tác nghiệp báo chí nhiều rủi ro khác như thiên tai, chiến tranh hay đại dịch khác, việc bảo vệ quyền lợi của người lao động (bao gồm sức khỏe, tính mạng hay thu nhập tương xứng) luôn là vấn đề cần được chú trọng.

Thứ tư, lịch trình làm việc chia ca kíp, kết hợp với các chương trình gắn kết nhân viên và thúc đẩy tinh thần cống hiến là giải pháp phòng ngừa hiệu quả cho các vấn đề suy giảm khỏe tinh thần và kiệt sức với khối lượng công việc lớn của người lao động. Trong các khủng hoảng hoặc biến cố, thì vấn đề nguồn lực con người phải được quan tâm trên hết.

Thứ năm, môi trường xuất bản kỹ thuật số mở ra những cơ hội cạnh tranh mới và các nền tảng công nghệ liên tục phát triển. Để bắt kịp xu thế này, các cơ quan báo chí cần nghiên cứu và đầu tư vào việc đào tạo cho nhân viên, giúp họ thành thạo những kỹ năng công nghệ mới.

Như vậy, trong bối cảnh đại dịch Covid - 19, các cơ quan báo chí, truyền thông vẫn không ngừng nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Đại dịch Covid-19 đã đặt ra yêu cầu bức thiết buộc các tòa soạn thích ứng nhanh với điều kiện đặc thù. Đặc điểm chung của các tòa soạn là đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ, triển khai tòa soạn hội tụ đa loại hình, đa phương tiện, tăng cường chia sẻ nội dung theo hình thức hội tụ, một đầu vào - nhiều đầu ra. Về quản trị chất lượng nội dung, phóng viên cần phải trau dồi kỹ năng làm việc trong môi trường số, kỹ năng kiểm định thông tin, kỹ năng tác nghiệp đa nhiệm, đa phương tiện và đặc biệt là khả năng phối hợp, làm việc nhóm trong môi trường phối hợp trực tiếp và trực tuyến. Về quản trị nguồn nhân lực, các cơ quan báo chí Việt Nam vẫn duy trì được nguồn nhân lực, không cắt giảm biên chế hay hợp đồng lao động và đồng thời bảo đảm đầy đủ các phúc lợi về thu nhập, sức khỏe tinh thần cũng như an toàn vệ sinh dịch tễ cho người làm báo. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu tin tức ngày càng gia tăng của độc giả, đòi hỏi về những hình thức truyền tải nội dung mới cũng như quá trình chuyển đổi số, các tòa soạn cần chú trọng việc đào tạo, phát triển những kỹ năng công nghệ thông tin cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

__________________

(1), (2), (13), (15), (17) Oliver, J. J., & Costello, J. (2018). Chapter 7: Human Resource Management in the Media. In J. J. Oliver, & J. Costello, Handbook of Media Management and Economics (Media Management and Economics Series) (pp. 95-110). Routledge.

(3) Oliver, J. J. (2016). High velocity markets drive adaptive capabilities. Strategic Direction, 32(1), 5-7.

(4) Artero, J. P., & Manfredi, J. L. (2016). Competencies of Media Managers: Are They Special? In G. F. Lowe, & C. Brown, Managing Media Firms and Industries: What so special about media management? (pp. 43-60). Switzerland: Springer.

(5), (14) Perreault, M. F., & Perreault, G. P. (2021). Journalists on COVID-19 Journalism: Communication Ecology of Pandemic Reporting. American Behavioral Scientist, 976-991.

(6) Lowe, G. F. (2015). Introduction: What’s So Special About Media Management. In Managing Media Firms and Industries (pp. Pages1-20). Springer International Publishing.

(7) Chambel, M. J., Castanheira, F., & Sobral, F. (2014). Temporary agency versus permanent workers: A multigroup analysis of human resource management, work engagement and organizational commitment. Economic & Industrial Democracy, 37 (4).

(8), (12), (16) Appelgren, E. (2021). Media Management During COVID-19: Behavior of Swedish Media Leaders in Times of Crisis. Journalism Studies, 722-739.

(9) Shah, S. G., Nogueras, D., Woerden, H. C., & Kiparoglou, V. (2020). The COVID-19 Pandemic: A Pandemic of Lockdown Loneliness and the Role of Digital Technology. Journal of Medical Internet, 22(11).

(10) Reporters sans frontières (France). (2017). Safety guide for journalists: a handbook for reporters in high-risk environments. UNESCO.

(11) Ahva, L., Dalen, A. v., Hovden, J. F., Kolbeins, G. H., Nilsson, M. L., Skovsgaard, M., & Väliverronen, J. (2017). A Welfare State of Mind? - Nordic journalists’ conception of their role and autonomy in international context. Journalism Studies, 18(5), 595-613.­

TS VŨ TUẤN ANH

ThS LÊ NGỌC THÙY DƯƠNG

ThS NGUYỄN LƯƠNG DIỆU AN

Học viện Ngoại giao

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền