Trang chủ    Thực tiễn    Chủ trương của Đảng về công tác dân tộc và một số giải pháp thực hiện
Thứ tư, 21 Tháng 9 2022 15:57
3095 Lượt xem

Chủ trương của Đảng về công tác dân tộc và một số giải pháp thực hiện

(LLCT) - Hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc. Bài viết khái quát chủ trương, quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc, phân tích một số vấn đề lý luận đặt ra trong tình hình mới.

Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc thiểu số - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Dân tộc là sản phẩm của lịch sử. Do tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, nên đến nay quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề dân tộc vẫn còn chưa thống nhất. Nhìn nhận một cách phổ biến, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:

Một là, dân tộc với nghĩa là dân tộc quốc gia (Nation). Quan điểm mácxít cho rằng, dân tộc là những hình thức cộng đồng người khá ổn định, được hình thành lâu đời trong lịch sử với những đặc trưng: có chung một lãnh thổ thống nhất; có nhà nước và hệ thống luật pháp chung; có phương thức sinh hoạt kinh tế chung; có ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp; có chung nền văn hóa, thể hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán,… tạo nên bản sắc riêng của dân tộc đó.

Quan điểm này được J.Xtalin trình bày trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc, viết vào cuối năm 1912 đầu năm 1913 ở Viên, đăng lần đầu tiên trong các số 3, 4 và 5, tạp chí Giáo dục, năm 1913, ký tên “K. Xtalin”, dưới nhan đề: “Vấn đề dân tộc và chủ nghĩa xã hội dân chủ”.

Năm 1914, bài viết của Xtalin xuất bản thành sách dưới nhan đề: “Vấn đề dân tộc và chủ nghĩa Mác”, do Nhà xuất bản Pơribôi (Pêtécbua) ấn hành, trong đó đã đưa ra khái niệm dân tộc như sau: “Dân tộc là một cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”(1).

Hai là, dân tộc với nghĩa là tộc người (Ethnie). Khái niệm này có một số khác biệt giữa các trường phái nghiên cứu, như trường phái nhân học Âu - Mỹ và các nhà dân tộc học Xôviết. Theo các nhà dân tộc học Xôviết thì tộc người là một tập đoàn người ổn định, được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có những đặc điểm văn hóa chung, có ý thức về sự thống nhất của mình và sự khác biệt với cộng đồng khác, được biểu hiện ở tên tự gọi (chẳng hạn ở Việt Nam là dân tộc Tày, Thái, Mường, Bana, Êđê…).

Các dân tộc có mối quan hệ với nhau và quan hệ giữa các dân tộc là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau: giữa các quốc gia dân tộc, giữa các tộc người trong một quốc gia hoặc giữa các tộc người ở những quốc gia khác nhau (đồng tộc, khác tộc) thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và quốc phòng, an ninh(2).

2. Chủ trương, quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta, vấn đề dân tộc đã được khẳng định: nhiệm vụ tối cao của cách mạng Việt Nam là “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng”. Khẩu hiệu đó đã đáp ứng được yêu cầu cấp bách từ thực tiễn và đã hiệu triệu được hàng triệu người dân Việt Nam đi theo Đảng, làm cách mạng để giải phóng mình, bởi nó phù hợp với nguyện vọng và khát vọng của nhân dân các dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng tháng 3-1935, trong các nghị quyết của Đại hội đều đề cập đến vấn đề dân tộc với ba nội dung: sinh hoạt kinh tế, chính trị và xã hội của nhân dân các dân tộc.

Nhằm mục đích phản đế, phản phong, từ năm 1930 đến năm 1945, Đảng ta đã thành lập mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở tập hợp đông đảo các lực lượng yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo. Chính các mặt trận này đã tạo nên một khối thống nhất, có sức mạnh to lớn, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc ở Việt Nam. Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Các dân tộc thiểu số được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Điều này khẳng định sự bình đẳng về lợi ích và nghĩa vụ của tất cả các dân tộc - tộc người trong một quốc gia Việt Nam thống nhất. Chính điều này đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để đồng bào tin tưởng và ủng hộ kháng chiến, kiến quốc.

Trước những hành động khiêu khích thể hiện dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Người, đồng bào các dân tộc đã cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ.

Trong bối cảnh cả nước ra trận, phải dốc toàn lực để kháng chiến, Đảng ta đã kịp thời đề ra Nghị quyết về vấn đề dân tộc. Tháng 8-1952, Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề dân tộc đã khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng tương trợ để giúp nhau tiến bộ về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá”.

Đây là quan điểm thể hiện chủ trương, đường lối đúng đắn, toàn diện đầu tiên của Đảng ta về vấn đề dân tộc - tộc người ở Việt Nam, mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc hoàn toàn phù hợp với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Nhờ có chủ trương, đường lối đúng đắn về vấn đề dân tộc mà Đảng ta đã tập hợp được toàn thể dân tộc, trong đó có các dân tộc thiểu số anh em cùng hướng vào mục tiêu chung là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Trong trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ, Đảng ta đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc làm nên kỳ tích “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đưa miền Bắc tiến lên CNXH và là hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) đã xác định con đường cách mạng miền Nam: Phải kết hợp giữa ba mũi giáp công là chính trị, quân sự, binh vận, kết hợp ba vùng là đô thị, đồng bằng, miền núi. Theo tinh thần của Nghị quyết, miền núi là địa bàn chiến lược quan trọng và đồng bào các dân tộc thiểu số là lực lượng cách mạng to lớn. Trên tinh thần ấy, Đại hội III của Đảng đã đề ra nhiệm vụ, đường lối của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó đề cập tới vấn đề dân tộc: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các dân tộc đa số và thiểu số có một truyền thống đoàn kết anh em. Đảng và Nhà nước ta cần phải có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình...(3).

Từ 1960 - 1975, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra hàng loạt các chủ trương, chính sách về vấn đề dân tộc, trong đó có Nghị định số 133/CP ngày 29-9-1961 của Hội đồng Chính phủ về quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc; Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 09-5-1962 của Bộ Chính trị về công tác Mặt trận Dân tộc thống nhất; Nghị định số 34/CP ngày 05-3-1968 của Hội đồng Chính phủ về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc; Nghị quyết số 109/CP ngày 19-6-1973 của Hội đồng Chính phủ về một số chính sách cụ thể đối với đồng bào các dân tộc vùng cao.

Nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn về vấn đề dân tộc, phù hợp với thực tiễn nên đã động viên đồng bào các dân tộc thiểu số ở mỗi miền tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Ở miền Bắc, đồng bào các dân tộc thiểu số cùng toàn thể nhân dân tham gia xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Ở miền Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số đã sát cánh cùng người Kinh cống hiến sức lực, xương máu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đại hội IV của Đảng đã đề ra chính sách dân tộc: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam… Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc những chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(4).

Những năm sau đó, các nghị quyết của Đại hội V và VI của Đảng đã đặt ra vấn đề đổi mới và thực hiện chính sách dân tộc. Điều này được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 22-NQTW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị và Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng đề ra những chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Đặc biệt, Đại hội VI (tháng 12-1986) đã chỉ rõ: “Sự nghiệp đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác nghiên cứu về dân tộc và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm, rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc… Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc phải có thái độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc và tình cảm dân tộc của mỗi người. Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi”(5).

Đến Đại hội VII của Đảng, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh việc thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

Đại hội chỉ rõ: “Huy động mọi nguồn lực tại chỗ và cả nước... Khai thác đi đôi với bảo vệ, tái tạo các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm lợi ích của các dân tộc… Nhà nước hỗ trợ về đầu tư mở mang giao thông vận tải, bảo vệ môi trường, tài trợ cho y tế, giáo dục và đào tạo cán bộ người dân tộc, đồng thời thực hiện chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng, tiền lương,… giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc… Có chính sách phát triển hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương... Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt, có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người… Có chính sách đặc biệt để phát triển giáo dục và đào tạo ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng và nâng cao chất lượng các trường, lớp nội trú, coi trọng việc đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc”(6).

Như vậy, đến Đại hội VII, chủ trương, đường lối về dân tộc được Đảng ta nâng lên tầm cao mới, được thể chế hóa ở các chính sách cụ thể đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Quan điểm này được ghi rõ trong Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”(7).

Đến Đại hội VIII, vấn đề dân tộc được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật Dân tộc từ nay đến năm 2000 bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng sao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên của các cấp trong sạch và vững mạnh”(8).

Đại hội IX đã tổng kết và tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách về dân tộc: “Thực hiện tốt các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”(9).

Đại hội X của Đảng ta năm 2006 tiếp tục nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ... Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng… Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”(10).

Đây là luận điểm rất quan trọng của Đảng ta, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của thời kỳ đổi mới. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chủ yếu sinh sống tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới nên đời sống còn nhiều khó khăn cả về vật chất và tinh thần. Do vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số khó vươn lên hòa nhập cùng với sự phát triển chung của cả nước và còn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhất là khi các thế lực thù địch lợi dụng thực tế này chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Do đó, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc, coi việc giải quyết vấn đề dân tộc vừa là vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, vừa là vấn đề kinh tế - xã hội.

Bài học của nhiều nước trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy, nếu coi nhẹ và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển đất nước thì dễ dẫn đến nguy cơ xung đột dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Đến Đại hội XI vấn đề dân tộc tiếp tục được Đảng quan tâm: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”(11). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”(12).

Những quan điểm trên thể hiện sự quan tâm ngày càng sâu sát, cụ thể và rất thiết thực của Đảng đối các dân tộc - một vấn đề lý luận có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”(13).

Đến Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc tiếp tục được quan tâm, chú trọng nội dung cơ bản thống nhất với các kỳ Đại hội trước, đó là: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

3. Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt vấn đề dân tộc

Một là, cần có quyết tâm cao hơn nữa và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương để thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới”. Đồng thời, thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện các chính sách còn hiệu lực đối với vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Trong đó, tập trung cao độ thực hiện thắng lợi các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18-11-2019 của Quốc hội khóa XIV.

Hai , tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi theo hướng toàn diện, bền vững, đồng thời mở rộng vốn ưu đãi đối với các chương trình, dự án, tạo sinh kế cho đồng bào. Đẩy mạnh việc đa dạng hóa và xã hội hóa các nguồn lực, trong đó, nguồn lực nhà nước có vai trò quan trọng và quyết định trong việc huy động các nguồn lực khác. Đổi mới chính sách tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội theo hướng tăng định mức và mở rộng đối tượng cho vay đến các dự án sản xuất, kinh doanh của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong đó, để phát huy tiềm năng lợi thế của vùng dân tộc và miền núi trong phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, phù hợp với các vùng và phù hợp với đặc điểm văn hóa, tập quán của các dân tộc.

Bên cạnh đó, cần chú trọng đầu tư và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, dịch vụ nhằm tạo sinh kế và công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho đồng bào các dân tộc. Đồng thời, khơi dậy tinh thần tự lực, ý chí, khát vọng vượt khó vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế để làm giàu chính đáng.

Ba là, tập trung ưu tiên nguồn lực trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng kiên cố, nhằm bảo đảm đến năm 2025 có “100% số xã có đường ôtô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bêtông hóa; 70% thôn có đường ôtô đến trung tâm được cứng hóa; 100% số trường lớp và trạm y tế được xây dựng kiên cố. Trong đó, đến năm 2030 có trên 85% số xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân”(14). Phát triển hạ tầng để thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai như lũ ống, lũ quét, khô hạn, nước biển dâng…

Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư đồng bộ hạ tầng viễn thông, năng lượng nhằm bảo đảm có 99% số hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc và miền núi được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh dịch vụ phát thanh, truyền hình nhằm bảo đảm đến năm 2030, đạt 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công nghệ thông tin để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của đồng bào.

Bốn là, phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi; nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; đầu tư, phát triển hệ thống các trường dân tộc nội trú, bán trú và các trường dự bị đại học. Hỗ trợ về ăn, ở cho học sinh, sinh viên các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, đổi mới phương thức và chính sách cử tuyển đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở các khu vực đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp đối với thanh niên các dân tộc sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề.

Bên cạnh đó, cần nâng cao tỷ lệ và chất lượng khám chữa bệnh cho đồng bào, nhất là tuyến cơ sở, đẩy mạnh đầu tư các dịch vụ y tế; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế nhằm tạo điều kiện cho đồng bào được khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tuyến Trung ương. Xây dựng và đẩy mạnh chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em nhằm nâng cao về thể chất, tầm vóc của thanh, thiếu niên người dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở phù hợp với văn hóa và tập quán của các dân tộc ở từng vùng, từng địa phương. Quan tâm sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống, kể cả vật thể và phi vật thể. Kiên quyết xóa bỏ các hủ tục lạc hậu và sớm chấm dứt tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống. Nâng cao hơn nữa mức hưởng thụ về văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm là, củng cố, tăng cường xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nhất là ở những vùng trọng điểm, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. Chú trọng hơn nữa công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh việc quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới theo quy định. Đồng thời, có chính sách đặc thù trong việc tuyển dụng công chức, viên chức đối với người dân tộc thiểu số, nhất là nhóm dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Đổi mới tổ chức bộ máy, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, có cơ chế, chính sách biểu dương, tôn vinh những người có uy tín, già làng, trưởng bản có nhiều đóng góp cho công tác dân tộc.

Sáu là, đẩy mạnh công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở vùng dân tộc và miền núi. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch trong việc chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, không để xảy ra các “điểm nóng” phức tạp về an ninh, trật tự, nhất là các địa bàn chiến lược xung yếu, như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trên thế giới nhằm trao đổi kinh nghiệm, thu hút các nguồn lực để đầu tư cho các chương trình, dự án; chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Có cơ chế khuyến khích cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài, đặc biệt là con em đồng bào dân tộc thiểu số đóng góp nguồn lực cho phát triển toàn diện vùng dân tộc và miền núi.

_________________

Ngày nhận bài: 5-8-2022; Ngày bình duyệt: 20-9-2022; Ngày duyệt đăng: 22-9-2022.

 

(1) J.V.Xtalin: Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.357.

(2) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam (dùng cho hệ Cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr.15.

(3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng và Nhà nước về cuộc sống dân tộc từ 1960 - 1977, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.1, 44.

(5), (9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.102-103, 670-671.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.77.

(7) Hiến pháp năm 1992, Nxb  Sự thật, Hà Nội, 1992, tr.14.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.125.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.121-122.

(11), (12)  ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.244, 81.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.164.

(14) Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18-11-2019 của Quốc hội khóa XIV về “Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025”.

TS LÊ XUÂN HOA

Học viện Chính trị khu vực III

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền