Trang chủ    Tin tức    Hội thảo khoa học: Những vấn đề lí luận, thực tiễn về đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay
Thứ năm, 07 Tháng 11 2013 14:19
2273 Lượt xem

Hội thảo khoa học: Những vấn đề lí luận, thực tiễn về đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Sáng 1-11-2013, tại Hà Nội, Đề tài “Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” thuộc Chương trình“Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do Ban Bí thư Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì. GS, TS Tạ Ngọc Tấn làm Chủ nhiệm, tổ chức Hội thảo khoa học Những vấn đề lý luận, thực tiễn về đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay.

PGS,TS Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện, Phó Chủ nhiệm Chương trình, PGS,TS Nguyễn Viết Thảo, Phó Giám đốc Học viện, Chủ nhiệm đề tài; TS Dương Trung Ý, Phó chủ nhiệm đề tài đồng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có trên 40 đại biểu là các cộng tác viên, các nhà khoa học có uy tín ở trong và ngoài Học viện.

Báo cáo đề dẫn do PGS, TS Nguyễn Viết Thảo nêu rõ: đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc, được hình thành và bồi đắp qua quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đảng ta xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược, là cội nguồn sức mạnh đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi khó khăn thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã ra Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12-3-2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghị quyếtthể hiện rõ quan điểm, đường lối, chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn đổi mới đất nước đã và đang nảy sinh những vấn đề mới, cần làm sáng tỏ về lý luận. Xuất phát từ yêu cầu đó, Hội thảo có nhiệm vụ chỉ ra một số vấn đề lý luận, thực tiễn về thực hiện đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay, trong đó có một sô vấn đề chủ yếu như: (1) Những quan điểm, tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, trong đó làm rõ những luận điểm còn nguyên giá trị và những luận điểm cần bổ sung, phát triển; (2) Những tác động của hội nhập quốc tế đối với đại đoàn kết dân tộc; (3) Phát triển kinh tế thị trường và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc; (4) Thực trạng, nội dung, hình thức thực hiện liên minh công-nông-trí thức hiện nay; (5) Những điểm tương đồng và động lực của khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay; (6) Trách nhiệm của các thành viên trong hệ thống chính trị đối với phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; (7) Đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp để củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công được đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phát biểu tại Hội thảo, PGS, TS Lê Quốc Lý nhấn mạnh với tinh thần thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, Hội thảo cần làm rõ nội hàm của đại đoàn kết dân tộc hiện nay là gì, có gì mới. khác so với đại đoàn kết dân tộc truyền thống trước đây, với đại đoàn kết dân tộc thời kỳ chiến tranh cách mạng, thời kỳ kháng chiến và đại đoàn kết trong đổi mới phát triển đất nước; động lực của khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay là gì;  vai trò của liên minh công - nông - trí và khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay?. 

Thực hiện chủ đề Hội thảo, các ý kiến tham luận đã tập trung vào các nội dung sau:

1. Về phương pháp luận nghiên cứu, tiếp cận vấn đề thực hiện đại đoàn kết dân tộc.

Các ý kiến cho rằng, với tính chất tổng hợp của vấn đề, để đề tài tiếp cận "đúng" và "trúng" đối tượng nghiên cứu, cần chú trọng nghiên cứu lý thuyết về đại đoàn kết dân tộc hiện nay, góp phần tổng kết lý luận về con đường đi lên CNXH. Vấn đề đại đoàn kết không chỉ giới hạn trong chính sách đoàn kết mà thể hiện trên các phương diện; xuất phát từ thực tiễn, bắt đầu từ cơ sở; từ thực trạng mất đoàn kết, đoàn kết không thật lòng, đoàn kết tiêu cực, phải bảo đảm quan điểm giai cấp trong vấn đề đại đoàn kết dân tộc.

Sự liên hệ, liên kết là bản năng của con người, do sinh tồn, mối liên hệ tự nhiên đó trở thành đường lối chính trị. Trong mọi thời đại, các quốc gia đều nói đại đoàn kết toàn dân, nhưng ở mỗi thời kỳ, thời đại đều có mục tiêu, tính chất giai cấp. Phải tiếp cận tính giai cấp của khối đoàn kết trong bối cảnh mới, hoàn cảnh mới.

Tìm hiểu thực trạng từ “tình huống có vấn đề”, GS, TS Trịnh Quốc Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện CNXH khoa học, nêu rõ xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách. Đây là đề tài hay, hấp dẫn nhưng khó vì nhiều mâu thuẫn của nó, có nhiều điển hình cả tốt và xấu. Điều hấp dẫn của đề tài là có nhiều tình huống có vấn đề. Phải nhận thức rõ vấn đề đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam là đoàn kết dân tộc và đoàn kết giai cấp, gắn chặt với nhau, không thể tách rời.

Cần tiếp cận chủ nghĩa yêu nước dưới góc độ đại đoàn kết dân tộc. Liên minh công-nông-trí thức là cơ sở nền tảng của đại đoàn kết dân tộc, vì đây là 2 giai cấp tạo ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội.

Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu về đại đoàn kết dân tộc hiện nay còn lúng túng. Phải nghiêm khắc và khách quan chỉ ra cái gì là truyền thống cần nhân lên, phát huy và điều gì cần khắc phục. Phải phân biệt rõ cái tất nhiên, đương nhiên, cái gì là chủ trương, chính sách (cái chủ quan), thế nào là truyền thống đoàn kết thực sự và đâu là đường lối chính trị, phải tách rõ, rõ ràng.

PGS, TS Trần Hậu, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mặt trận, Ủy ban Trung ương Mặt trận, cho rằng chúng ta đã nghiên cứu, tổng kết lịch sử Mặt trận Tổ quốc, nhưng chỉ rút ra được những kết luận về đại đoàn kết dân tộc thời kỳ trước năm 1975, chưa rút ra được kết luận về đại đoàn kết từ năm 1975 đến nay, chưa trả lời được những câu hỏi rất cơ bản về đại đoàn kết, nên chưa thể xây dựng được đường lối đại đoàn kết, ai xây dựng CNXH và ai chống lại sự nghiệp xây dựng CNXH? động lực, lực cản là gì? nền tảng là toàn thể dân tộc Việt Nam hay chỉ một số giai tầng?. Phải chăng, nền tảng khối đại đoàn kết là cả dân tộc Việt Nam, là những người Việt Nam yêu nước, tiến bộ, có tinh thần dân tộc, cùng mong muốn Việt Nam giàu mạnh?  PGS, TS Trần Hậu cũng cho rằng, nghiên cứu về đại đoàn kết trước đây thường tiếp cận bó hẹp, thiên về đường lối chính trị, nên chưa coi trọng tính khách quan, thường xoay quanh quan điểm “quần chúng làm nên lịch sử”, “lấy dân làm gốc”, “tập hợp lực lượng”,... Tiếp cận như vậy đã vô hình trung khuôn vấn đề lại trong đường lối chính trị, khẩu hiệu chính trị hơn là một phạm trù khoa học, một hiện thực khách quan.

Với cách tiếp cận mới, cần tập trung vào các nội dung sau:  (1) Việc nghiên cứu đoàn kết dân tộc cần xuất phát từ yêu cầu của bản thân cuộc sống, của quần chúng, từ yêu cầu của quần chúng, nhu cầu của xã hội, chứ không chỉ xuất phát từ chính sách chính trị của Đảng. (2) Nghiên cứu, tiếp cận từ thực trạng mất đoàn kết để tìm cái cần khắc phục, rút ra những bài học từ phản diện, chúng ta đã chứng kiến dân tộc chia rẽ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, bây giờ phải nghiên cứu từ tình huống, khám phá những cái thiếu hụt. Khi đề cập đoàn kết dân tộc, ta thường nêu truyền thống tốt. Nhưng phải nhận rõ thực tế là do mất đoàn kết đã làm cho ta chậm phát triển (sự thiếu hợp tác trong hoạt động kinh tế...). Trên thực tế cũng có sự đoàn kết thật lòng, chân thành, đoàn kết giả tạo và hình thức. Để giữ vững đoàn kết, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói phải “tinh thành đoàn kết”. (3) Phải tiếp cận từ đoàn kết là một phạm trù khoa học, một chân lý, phải tìm hiểu đoàn kết trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; vĩ mô, vi mô, đoàn kết vùng miền, nhóm dân cư, phường hội, nghiệp đoàn, đoàn kết quốc tế. (4) Khảo cứu về đoàn kết phải tiếp cận bằng phương pháp hệ thống, cần chú ý mối liên hệ, tính hệ thống để làm rõ cả 2 chiều thuận và nghịch, cả chủ quan và khách quan. (5) Cách tiếp cận gắn chặt với truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam, nghiên cứu để tìm ra triết lý, tiền đề,... có truyền thống rất tích cực nhưng cũng có yếu tố tiêu cực. Nghiên cứu truyền thống để tìm ra quy luật vận động của nó, để tìm ra khi nào và ở đâu đoàn kết tốt và khi nào chia rẽ. Nhiều người cho rằng người Việt chỉ đoàn kết tốt khi địch họa, thiên tai với tinh thần nhường cơm sẻ áo. Nhưng khi hòa bình, khó đoàn kết, tinh thần cộng đồng, tập thể của người Việt kém, thích làm riêng lẻ. Từ phân tích đó chúng ta mới tìm ra được tiền đề, muốn đoàn kết phải có tiền đề chính trị, kinh tế. Nếu không có tiền đề thì chỉ dừng ở khẩu hiệu, không thể có đoàn kết thật sự. (6) Tiếp cận nghiên cứu về đoàn kết phải liên hệ gắn với tổ chức thực hiện sự nghiệp đoàn kết là Mặt trận dân tộc thống nhất. Phải tìm ra cái riêng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khác gì so với mặt trận ở các nước khác; tìm ra đặc điểm riêng để phát huy, vượt ra khỏi tình hình hiện nay.

Tiếp cận vấn đề đại đoàn kết dân tộc từ góc độ xây dựng Đảng thấy rằng, về lý thuyết thì phương pháp tiếp cận và giải quyết phải xuất phát từ vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp. Thực tế Việt Nam cho thấy nếu chỉ tiếp cận từ giai cấp sẽ không giải quyết được các vấn đề thực tiễn đặt ra mà phải từ vấn đề dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết,đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành”. Đó là ba tầng mặt trận: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Như vậy, yếu tố quyết định là đoàn kết trong Đảng, là hạt nhân cốt lõi đoàn kết dân tộc và quốc tế. Có đoàn kết trong Đảng thì không kẻ địch nào làm gì được.

2. Về thực trạng khối đại đoàn kết dân tộc.

GS, TS Trịnh Quốc Tuấn nhận định, sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc đã đạt nhiều thành tựu quan trọng; khối đại đoàn kết hiện nay có điểm sáng, đó là điều hoà lợi ích dân chủ hơn và đạt hiệu quả trên thực tế. Thể hiện ở sự nghiệp xóa đói giảm nghèo thành công. Đó là giải pháp đột phá, xét về thực chất là xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, với quan điểm khép lại quá khứ hướng tới tương lai, đã đoàn kết được các tầng lớp nhân dân, các thế hệ người Việt Nam, thống nhất dân tộc. Đồng bào định cư ở nước ngoài được ghi nhận là một bộ phận của dân tộc, đã nối dài dân tộc, mở rộng ra ngoài khối đoàn kết toàn dân.

Bên cạnh những thành công, nhiều ý kiến cho rằng khối đại đoàn kết dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề. Với sức mạnh đoàn kết dân tộc, Việt Nam đã giành chiến thắng, đạt nhiều thành tựu. Tuy nhiên, trong thời kỳ mới, hội nhập chúng ta chậm phát triển cũng do sức mạnh đoàn kết chưa được phát huy tốt.

3. Về những yếu tố tác động đến khối đại đoàn kết dân tộc.

GS,TS Trịnh Quốc Tuấn, PGS,TS Trần Hậu, PGS,TS Ngô Quang Minh, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế, PGS, TS Dương Văn Sao, nguyên Viện trưởng viện Nghiên cứu Công nhân và nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn cho rằng, không khi nào đại đoàn kết có nhiều thử thách phức tạp như hiện nay. Tình huống có vấn đề hiện nay là giai cấp nông dân phân hóa, không có đất, nhiều người phải đi xa kiếm sống, nông thôn đang bị rút đi phần nhân lực tinh túy nhất. Nông dân bị phân hóa. Lối thoát của nông dân là phong trào xây dựng “nông thôn mới” nhưng kết quả chưa rõ. Công nhân tăng nhanh nhưng vẫn là giai cấp công nhân lao động thủ công, không có điều kiện tiếp thu tri thức, nâng cao trình độ. Vấn đề đặt ra về dân tộc là 54 dân tộc có sự cải thiện về vật chất và tinh thần nhưng so với mục tiêu bình đẳng thực sự còn khá xa. Bình đẳng là tiền đề đoàn kết, tự quyết, bình đẳng phải trong môi trường bình đẳng, nên cũng có nhiều tình huống có vấn đề. GS, TS Trịnh Quốc Tuấn nêu vấn đề là sự phân hóa giàu nghèo chưa có giải pháp điều hòa lợi ích, sự bất bình đẳng, bất công ăn mòn khối đại đoàn kết dân tộc và chủ nghĩa yêu nước.

Vấn đề phân tầng xã hội, chệnh lệch giàu nghèo, giá trị có sự thay đổi, còn nhiều chính sách chưa đúng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Nhiều chủ trương, chính sách tác động không tốt tới đại đoàn kết dân tộc. Công bằng và tiến bộ xã hội còn chưa như mong muốn. Tình trạng suy thoái của bộ phận cán bộ, đảng viên tác động đến mạnh tới thực hiện đại đoàn kết. Nhìn từ phương diện hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, người dân, nhất là thế hệ trẻ có đời sống ảo nhiều hơn giao lưu với cuộc sống thực. Thực tế cho thấy sức mạnh từ xã hội ảo tác động đến cuộc sống thực, đã có những hoạt động xã hội diễn ra bởi tác động từ cộng đồng mạng.

Một số quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc chưa được cụ thể hóa hoặc chưa được thực hiện nghiêm túc trên thực tế. Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chưa cao. Sự chống phá của các thế lực thù địch

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề mới đối với khối đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết là sự gắn kết của các tổ chức và các cá nhân. Để gắn kết cần có hạt nhân gắn kết, động lực gắn kết, vấn đề cơ bản nhất là phải có điểm chung, đó chính là những lợi ích chung.

Thực tế đang đặt ra vấn đề, với trình độ, địa vị về kinh tế như hiện nay, công nhân có làm chủ về chính trị được không? Những xung đột về lợi ích, tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng nảy sinh từ vấn đề lợi ích.

Thực trạng liên kết giữa kinh tế và chính trị dẫn đến nhóm lợi ích. Sự phát triển của khoa học - công nghệ nhanh dẫn đến sự độc lập của các cá nhân gia tăng, vậy tính liên minh của con người có thể tăng lên không.

4. Về phương pháp, cách thức đoàn kết, gắn kết cộng đồng dân tộc.

PGS, TS Trần Hậu, PGS, TS Ngô Quang Minh nêu, trong chiến tranh là cùng chung chiến hào, gắn kết với nhau là lẽ đương nhiên vì phải dựa vào nhau để tồn tại. Nay trong hòa bình, về lâu dài, cả dân tộc, cả đất nước cùng có chung mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, cùng được nâng cao đời sống, nhưng trong ngắn hạn có cạnh tranh nhau, có người thắng kẻ thua, đó là một thực tế chúng ta phải chấp nhận. Đó cũng là vấn đề đặt ra về thực hiện đại đoàn kết trong phát triển kinh tế.

Một vấn đề nữa, mô hình CNXH trước đây có định hình sẵn, được thiết kế trước áp dụng. Nhưng ngày nay, mô hình phát triển động, linh hoạt, chưa có tiền lệ, vừa làm vừa hình dung. Vậy, lấy gì làm điểm tương đồng, làm động lực để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc? Về cách thức đoàn kết nên như thế nào, vì thực tế đã khác trước, nhưng chưa có phương pháp, cách thức mới phù hợp, nhiều tổ chức đoàn thể hành chính hóa, hoạt động không hiệu quả.

GS, TS Nguyễn Đình Tấn, Chủ tịch Hội Xã hội học Việt Nam cho rằng, xung quanh vấn đề đoàn kết trong mỗi thời kỳ nổi lên những nội dung: Thời kỳ chiến tranh, khi có thiên tai, xâm lăng thì dân tộc ta hết sức nỗ lực đoàn kết, vậy cốt lõi của nó là gì? Đó là nhu cầu cùng tồn tại, phát triển, vì lợi ích sống còn. Trong chiến tranh, Đảng ta lấy liên minh công-nông trí làm nòng cốt. Nay hòa bình xây dựng thì không chỉ nền tảng là liên minh công-nông-trí. Tổng kết mô hình liên kết “4 nhà” cho thấy, doanh nhân có vai trò quan trọng, có doanh nhân mới có kinh phí để đầu tư để phát triển. Thực tiễn cho thấy, có tự do phát triển, vấn đề lợi ích được giải quyết hài hòa thì có đoàn kết, trái lại sẽ không có đoàn kết.

TS Phạm Đình Đảng, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản cho rằng, để làm rõ vấn đề đại đoàn kết dân tộc cần làm rõ cái chung, cái riêng, cái thống nhất và đa dạng, đại đồng và tiểu dị. Trước hết, là phải làm rõ những yếu tố tác động tới khối đại đoàn kết; những vấn đề chung như công bằng, chính sách, nguyên tắc đoàn kết,... phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể: thách thức toàn cầu, quan hệ quốc tế.

Vấn đề thống nhất và đa dạng, đại đồng và tiểu dị đang đặt ra những vấn đề về đường lối và thực hiện đường lối đại đoàn kết, đó là:

Đoàn kết phải gắn với lợi ích, không thể đoàn kết mà không gắn với lợi ích.

Cốt lõi đại đoàn kết dân tộc là truyền thống yêu nước, vậy động lực của truyền thống yêu nước là gì.

Tiêu thức, mô thức của đoàn kết.

Phương châm đoàn kết là phải mưu tới cái chung.

Dân chủ là môi trường để đoàn kết.

Phải có “thủ lĩnh”, người đứng đầu, gương mẫu, không có thủ lĩnh không thể quy tụ, đoàn kết.

Lợi ích quốc gia, trong điều kiện quốc tế, hội nhập.

Sự tự tôn, không tự tôn, công bằng không có đoàn kết.

PGS, TS Dương Văn Sao, nguyên Hiệu trưởng Đại học Công đoàn khẳng định, liên minh công-nông-trí là nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc cả về lý luận và thực tiễn. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần đặc biệt tăng cường liên minh công-nông-trí thức, bảo đảm cơ sở chính trị vững chắc của chế độ. Vấn đề là trong liên minh, ai là người thực hiện liên minh. Về chiến lược đại đoàn kết, Đảng có đường lối, chủ trương, Nhà nước thể chế hóa, Mặt trận thực hiện, nhưng còn liên minh thì chưa có tổ chức thực hiện sự liên minh.

5. Các giải pháp để giữ vững và tăng cường khối đoàn kết dân tộc

Nhiều tham luận nêu hướng nghiên cứu, đề xuất giải pháp củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đề ra, nhưng trong những năm gần đây có những yếu kém. Vậy để giữ vững vai trò lãnh đạo khối đại đoàn kết, Đảng phải tự xây dựng mình là đạo đức, là văn minh. Đảng cần xây dựng biểu tượng để đoàn kết.

Phải nghiên cứu động lực cho mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, tìm hiểu tại sao trong nhiều hoàn cảnh khó khăn, sự cố kết vẫn phát triển.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, thì phải tìm động lực mới, phải xác định rõ mục tiêu mới đoàn kết được. Phải có đường lối đúng để đoàn kết trong nước và quốc tế. Đoàn kết phải bảo đảm sự kế thừa, chọn lọc các giá trị truyền thống.

GS, TS Trịnh Quốc Tuấn cho rằng trong điều kiện hiện nay, phải phát huy vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc, nhất là vai trò giám sát, là cầu nối giữa đảng với các đoàn thể nhân dân. Bài học rút ra từ thực tế là cần xây dựng Đảng là biểu tượng của đại đoàn kết. Chủ nghĩa yêu nước là nòng cốt, là hạt nhân của đại đoàn kết dân tộc. Chỉ có chủ nghĩa yêu nước mới khai thông được các dị biệt, vun đắp khối đại đoàn kết các nhóm người, người Việt ở nước ngoài.

GS, TS Nguyễn Đình Tấn, nhấn mạnh để có đoàn kết phải có bình đẳng (về cơ hội) và thực hiện sự công bằng xã hội cho tất cả mọi người. Công bằng xã hội là sự phản ánh mối quan hệ xác định, phải đánh giá khách quan những cống hiến, đóng góp, người đóng góp thế nào được hưởng tương ứng như thế, được tôn vinh,  và công bằng trong ứng xử. Phải bình đẳng cơ hội và thực hiện bằng được công bằng xã hội,… C.Mác đã chỉ rõ công bằng bằng kinh tế, "làm theo năng lực, hưởng theo đóng góp" (nhu cầu), là hạt nhân của công bằng chung. Yêu cầu hiện nay là phải công bằng toàn diện, cả chính trị, văn hóa.

Cần tuyên tuyền, giáo dục về ý thức công bằng cho toàn xã hội. Phải giáo dục cho quan chức về công bằng, không thể hiểu "công bằng" là "cào bằng". Giáo dục mọi người chấp nhận công bằng đúng đắn. Ta đang làm và cần làm tốt việc xét xử các vụ án kinh tế lớn, xử nghiêm những vụ tham nhũng lớn để bảo đảm sự công bằng. Phải có chế tài đấu tranh chống bất công bằng trong xã hội, đấu tranh chống bất công bằng là để bảo đảm công bằng.

Đấu tranh chống mất đoàn kết là để xây dựng đoàn kết xã hội. Để đoàn kết để thành tiêu chí chung. Không chỉ đoàn kết cơ học (ở mức thấp) mà phải đoàn kết hữu cơ, đoàn kết cùng vì mục tiêu chung, vì cùng có lợi. Thí dụ, liên kết 4 nhà là cả 4 nhà đều có lợi, không chỉ có lợi cho nông dân.

Đại đoàn kết toàn dân phải vì mục tiêu tất cả mọi người cùng tiến bộ. Nhưng trong cơ chế thị trường, sự phân hóa, đói nghèo, tệ nạn, tiêu cực là một thực tế phải đấu tranh, giải quyết nhưng không đẩy họ ra ngoài lề, mà đấu tranh để lôi cuốn về phía tiến bộ, vào khối đoàn kết.

Công bằng là phải chấp nhận tầng bậc, cần công bố tầng bậc chính thức để có thiết chế về sự tầng bậc, giáo dục để mọi người hiểu "phân tầng xã hội hợp thức" cũng là sự công bằng. Như chấp nhận tầng bậc hợp thức và minh bạch, rành mạch thì tránh tiêu cực...

Hội thảo có nhiều ý kiến gợi mở những hướng tiếp cận mới về vấn đề đại đoàn kết dân tộc, xác định rõ hơn những nhiệm vụ mà đề tài cần tập trung nghiên cứu, những vấn đề mấu chốt, những nội dung cốt lõi của đoàn kết dân tộc, thiết thực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

                                                                           Nguyễn Trịnh

 

 

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền