Trang chủ    Tư liệu tạp chí in    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước
Thứ ba, 15 Tháng 3 2022 14:45
3236 Lượt xem

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước

(LLCT) - Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương về hội nhập quốc tế, nhất là chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh mới. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở khoa học, giải pháp thúc đẩy thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng - Ảnh: dangcongsan.vn

1. Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(1)

Đảng ta xác định chủ trương trên xuất phát từ những cơ sở khoa học, khách quan sau:

Một là, xuất phát từ nhận thức chung về thời đại, về tình hình thế giới và khu vực ngày càng rõ hơn và đầy đủ hơn. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, Đảng ta nhận rõ tính chất phức tạp và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội, nên cần có nhận thức đúng, thấy rõ những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất thời đại trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Về môi trường quốc tế, Đảng ta đã nhận thức rõ việc các nước không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đảng ta nhận định “cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm”(2) ngày càng rõ hơn. Các nước lớn thay đổi chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội mới và cả những thách thức, khó khăn mới trên con đường phát triển.

Hai là, sau 35 năm đổi mới trong lĩnh vực đối ngoại và mở rộng hội nhập quốc tế, chúng ta đã giành được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”(3), cùng những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; đã phá được thế bị bao vây, cấm vận; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước; tạo lập và giữ được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển.

Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị; tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn. Cùng với việc tăng cường ngoại giao Nhà nước, quan hệ đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân được mở rộng, đã nâng cao vị thế, uy tín của nước ta tại các diễn đàn đa phương.

Ba là, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Trong những năm tới, tình hình thế giới sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng “hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn”(4), quá trình “toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển”(5), hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng; “cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”(6).

Tình hình chính trị, an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh cục bộ... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường phát triển; “những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp”(7).

 2. Giải pháp thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng

Để thực hiện thắng lợi chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(8), từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, cần tập trung quán triệt một số nguyên tắc và giải pháp sau: 

Về nguyên tắc: (i) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (ii) Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất; (iii) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia(9). Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; (iv) Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; (v) Hội nhập quốc tế là quá trình, vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia; (vi) Tuân thủ nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất các sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.  

Về giải pháp: 

Một là, đối với hội nhập chính trị.

Xây dựng quan hệ toàn diện, sâu rộng. Với tinh thần của Đại hội XIII về việc nâng tầm hội nhập chính trị lên một mức cao hơn, đó là toàn diện, đi vào chiều sâu, đối ngoại để phục vụ đối nội, mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập chính trị, thiết lập các thỏa thuận hợp tác về chính trị. Rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng và ban hành mới các văn bản nhằm bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh, các cấp và các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

- “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(10). Tiến hành rà soát việc thực hiện các khuôn khổ, đề án phát triển quan hệ với các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng sông Mê Công, ASEAN, châu Á - Thái Bình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng; nâng cấp và mở rộng quan hệ song phương phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế; đưa ra các phương án cụ thể, các nhiệm vụ ưu tiên để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là các chương trình, dự án hợp tác lớn, đồng thời giải quyết sớm những vướng mắc, tồn tại, góp phần đưa các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập với các nước đi vào thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết lợi ích giữa nước ta với các đối tác(11)

Chú trọng chủ động, tích cực hợp tác về chính trị trong các vấn đề an ninh phi truyền thống theo định hướng của Đại hội XIII là “chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng”(12). Xây dựng chương trình, đề án nhằm “mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội”(13)

- Chủ động, tích cực tham gia và phát huy vai trò định hình, “nòng cốt, dẫn dắt và hòa giải” trong các cơ chế đa phương; nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, luật lệ, chuẩn mực về chính trị; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương.

- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách, chiến lược của Chính phủ về các cam kết về hội nhập chính trị; “Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình”(14).

Hai là, đối với hội nhập lĩnh vực kinh tế.

Các giải pháp chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên lĩnh vực kinh tế nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài”(15)

- Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, cải cách thể chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy hội nhập kinh tế theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế và điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Tập trung xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện các luật, dự án luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến hành rà soát, đánh giá kết quả hợp tác, cập nhật và thực hiện các chiến lược, kế hoạch về hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư và thương mại song phương với các đối tác, thiết lập các khuôn khổ hợp tác, nhất là những lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh; “thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(16)

- Thúc đẩy quan hệ kinh tế đa phương, phát huy vai trò định hình, xây dựng thể chế, cơ chế và luật lệ mới tại các cơ chế kinh tế đa phương; kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với song phương. 

Trong đó, ở cấp khu vực/liên khu vực thực hiện rà soát, cập nhật các hiệp định đã ký kết, nghiên cứu tham gia các FTA giữa ASEAN và đối tác như EU, Anh; chú trọng tham gia xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia tích cực hơn vào quá trình định hình cấu trúc, các thể chế đa phương khu vực trong ASEAN, hợp tác Mê Công; chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ, quy định quản trị kinh tế ở tầm khu vực, liên khu vực (như APEC), thúc đẩy các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi ích; thực hiện các cam kết như EVFTA và EVIPA để đẩy mạnh xuất khẩu sang EU, thu hút làn sóng đầu tư mới từ EU, tận dụng nguồn tài trợ phát triển kinh tế bền vững, kinh tế miền núi, nông thôn.  

Ở cấp toàn cầu, tiếp tục phát huy hiệu quả hợp tác trong Liên hợp quốc nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ về chính sách, tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực như cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển xanh, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, duy trì chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển bền vững kinh tế biển, thúc đẩy ngoại giao vắcxin, công nghệ, vật tư y tế cho phòng, chống và điều trị Covid-19.

- Tổ chức đào tạo, thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực nghiên cứu về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và các xu hướng mới trong phát triển (chuyển đổi số, sự chuyển dịch các chuỗi cung ứng, sản xuất và đầu tư; phát triển xanh, bền vững, bao trùm; kinh tế tuần hoàn ...) và tận dụng triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; “tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế”(17).

Ba là, đối với hội nhập lĩnh vực quốc phòng, an ninh. 

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh nhằm góp phần “giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(18), “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(19).

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế pháp luật, rà soát thực hiện các đề án, chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Rà soát, đánh giá, thúc đẩy triển khai thực hiện các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc phòng, an ninh theo tinh thần của Đại hội XIII; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; đề án “Hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”(20).

- Chủ động, tích cực mở rộng toàn diện và đưa vào chiều sâu các nội dung hội nhập an ninh, quốc phòng song phương; thiết lập các thỏa thuận về quốc phòng - an ninh. Tiếp tục duy trì và giữ vững mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, ASEAN và các nước bạn bè truyền thống(21). Chú trọng mở rộng, đa dạng hóa phương thức thực hiện các nội dung hợp tác với các đối tác quan trọng chiến lược, trong đó ưu tiên các lĩnh vực như khắc phục hậu quả chiến tranh; tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, quân y, đào tạo, nghiên cứu chiến lược, an ninh biển, đối ngoại biên giới(22), phòng, chống dịch Covid-19, phối hợp bảo vệ biên giới, tăng cường hợp tác quân y, hỗ trợ trang thiết bị y tế(23), thông qua trao đổi các đoàn quân sự các cấp, tham vấn - đối thoại quốc phòng, nhằm tăng cường hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột(24). Tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tiếp thu các công nghệ mới để tiến tới làm chủ công nghệ hiện đại, sản xuất được các loại vũ khí thiết bị công nghệ cao, mang tính răn đe, đồng thời quảng bá, tiêu thụ sản phẩm quốc phòng(25)

- Chủ động, tích tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu tham gia xây dựng định hình các thể chế, định chế, chuẩn mực luật lệ về quốc phòng, an ninh; “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực”(26). Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên, phổ biến kiến thức quốc phòng, nhất là về hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, làm thay đổi, chuyển biến nhận thức của người dân cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên(27).

Bốn là, đối với hội nhập lĩnh vực văn hóa.

Hội nhập quốc tế về văn hóa nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”(28), “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(29)

- Đẩy mạnh quan hệ song phương về văn hóa, phát huy hiệu quả tích cực yếu tố văn hóa để thúc đẩy quan hệ chính trị và kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác với các đối tác truyền thống như Lào, Nga và các đối tác tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, EU, Hoa Kỳ. Đa dạng hóa về hình thức và nội dung giao lưu văn hóa, phim ảnh, thời trang, đẩy mạnh kết hợp văn hóa du lịch, cập nhật các vấn đề mới như chuyển giao trí thức, công nghệ quản lý, hỗ trợ kỹ thuật về hoạch định chính sách, xây dựng văn bản pháp luật trong các lĩnh vực lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội. Đổi mới tư duy, sáng tạo trong hội nhập văn hóa, nhất là đa dạng hình thức như trực tuyến, chú trọng tới văn hóa số, xã hội số... đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy nhanh trong và sau Covid-19. 

- “Mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước”(30). Công tác quảng bá lịch sử, phát huy văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam gắn liền với phát triển kinh tế du lịch, xuất bản các ấn phẩm, thực hiện các hoạt động giao lưu văn hóa như các sự kiện văn hóa Festival, xuất bản các ấn phẩm, tác phẩm nghệ thuật có giá trị của Việt Nam, các làng nghề truyền thống, danh lam thắng cảnh, các tác phẩm văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc...; tích cực tham gia các hoạt động sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... trên thế giới.  

Năm là, đối với hội nhập lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo.

Hội nhập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo nhằm “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”(31). Theo đó, một số biện pháp được đề xuất như sau:

- Xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể chế thúc đẩy đổi mới hệ thống khoa học, công nghệ quốc gia, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, hỗ trợ cho Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Thúc đẩy phát triển nền tảng đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế(32), đồng thời “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(33). Tích cực triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2030 để mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập về khoa học và công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên. Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng và triển khai Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Tăng cường các chương trình hợp tác song phương, ký kết các thỏa thuận với các đối tác đi đầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Đa dạng hóa hợp tác quốc tế, ký kết và thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hiệp định hợp tác song phương trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, nhất là ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược. 

- Phát huy vai trò chủ động và tích cực trong các thể chế/diễn đàn đa phương về khoa học, công nghệ; tham gia định hình, xây dựng các thể chế, cơ chế, quản trị, luật lệ, chuẩn mực toàn cầu về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo. Tiếp tục tăng cường tham gia các khuôn khổ đa phương về khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo để tranh thủ nguồn lực tri thức, công nghệ, trang thiết bị, tài liệu và đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam. Chú trọng đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực y tế, phòng chống dịch, nghiên cứu và sản xuất vắcxin, tham gia chủ động và tích cực vào các thiết chế toàn cầu về quản trị y tế, an ninh y tế và hỗ trợ nhân đạo.

__________________

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (26), (28), (29), (30), (31), (33) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 161-162, 105, 25, 105, 105, 106, 106-107, 117-118, 164, 163, 52, 164, 165, 135, 135, 135-136, 117, 117, 163, 202, 115-116, 50, 110, 115 .

(11) Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

(20), (21), (23), (24) Hoàng Xuân Chiến: Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng năm 2020, định hướng năm 2021, http://m.tapchiqptd.vn/.

(22) Đối ngoại và hợp tác quốc phòng, Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.

(25) Vũ Chiến Thắng:  Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tạo nguồn lực quan trọng để xây dựng quân đội hiện đại, https://www.qdnd.vn/.

(27) Ngô Minh Tiến: Triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, http://m.tapchiqptd.vn. 

 (32) Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Trần Minh Trí: Vị thế và cơ đồ kinh tế Việt Namhttps://nhandan.vn.

PGS, TS HOÀNG PHÚC LÂM

Phó Bí thư Đảng ủy,

Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền