DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9966
Tóm tắt: Báo chí là phương tiện truyền thông có tính lan tỏa, dẫn dắt tư tưởng, văn hóa. Bài viết tìm hiểu về vai trò của báo chí trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, nâng văn hóa dân gian lên tầm khoa học, qua trường hợp Tạp chí Nam Phong với chủ bút là Phạm Quỳnh, qua đó đúc rút những kinh nghiệm trong phát huy vai trò của báo chí với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, bảo tồn văn hóa dân tộc trong bối cảnh mạng xã hội phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay.
ThS LƯƠNG THỊ PHƯƠNG DIỆP
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

1. Mở đầu
Đầu thế kỷ XX đánh dấu bước chuyển của văn hóa Việt Nam khi chữ Quốc ngữ từ một công cụ ghi âm mang tính tôn giáo và hành chính chuyển sang dạng ngôn ngữ toàn dân. Trong tiến trình này, báo chí giữ vai trò bệ phóng, là môi trường thực nghiệm và phổ cập hóa chữ Quốc ngữ sâu rộng. Nghiên cứu sử dụng hệ phương pháp liên ngành bao gồm phương pháp lịch sử - logic để tái hiện tiến trình phát triển; phương pháp phân tích văn bản để nhận diện từ vựng và cấu trúc ngữ pháp; kết hợp phương pháp thống kê tư liệu từ một số báo tiêu biểu. Nghiên cứu chỉ ra báo chí đầu thế kỷ XX đã định hình các quy tắc ngữ pháp mới gãy gọn, làm giàu hàng nghìn thuật ngữ chính trị, khoa học, triết học, đồng thời góp phần đưa chữ Quốc ngữ trở thành văn tự độc tôn của dân tộc.
Trong giai đoạn trước, báo chí chủ yếu đưa tin tức một cách mộc mạc hoặc dịch thuật. Từ chính quá trình phát triển của báo chí, tính chuyên nghiệp ngày càng cao, các thể loại xã luận chuyên sâu và phê bình văn học ra đời. Báo chí trở thành diễn đàn phân tích các vấn đề chuyên sâu bằng tư duy khoa học, thay cho những bài cảm nhận chung chung. Trong các chủ đề như triết học, chính trị, các bên tham gia từng bước rèn giũa từ vựng mới. Từ đó, tiếng Việt trên báo chí dần thoát ly khỏi lối diễn đạt rườm rà của văn biền ngẫu, chuyển sang cấu trúc câu gãy gọn, logic, văn phong chặt chẽ theo ngữ pháp phương Tây, chứng minh năng lực biểu đạt hàn lâm. Phản ánh thực tiễn xã hội, báo chí góp phần thiết lập văn hóa phản biện đa chiều công khai. Sự đối lập giữa các nhà nho yêu nước, trí thức Tây học, nhà cách mạng vô sản, đã phá vỡ thế độc quyền tư tưởng.
Cũng từ đó, độc giả được tiếp cận một vấn đề từ nhiều góc nhìn: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, cải lương hay bạo động cách mạng. Điều này trực tiếp nâng cao dân trí và kích thích tư duy chính trị của người dân. Sức hút từ các cuộc luận đàm làm bùng nổ số lượng bản in, thúc đẩy các tờ báo như Nam Phong, Phong Hóa, Phụ nữ Tân văn tăng tần suất phát hành (từ bán nguyệt san lên tuần báo, nhật báo) và cải tiến kỹ thuật dàn trang, vẽ tranh biếm họa để thu hút độc giả.
2. Nội dung
2.1. Báo chí chữ Quốc ngữ và xây dựng hệ thống thuật ngữ mới thông qua mô hình “bách khoa thư” Nam Phong Tạp chí
Qua báo chí, đặc biệt qua tờ Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh đã góp phần định hình nền báo chí quốc ngữ, mở rộng tri thức xã hội, và tạo ra diễn đàn trí thức đầu tiên ở Việt Nam mang tính học thuật và văn hóa hiện đại.
Trong cuốn Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945, Đỗ Quang Hưng nhận định: “Nói đến Nam Phong tạp chí không thể không nhắc đến Phạm Quỳnh, và ngược lại. Với Nam Phong thì Phạm Quỳnh là linh hồn của tờ báo, còn đối với Phạm Quỳnh thì mỗi số Nam Phong là một nấc thang trên sự nghiệp chính trị và danh vọng” (Đỗ Quang Hưng, 2018, tr.60).
Bên cạnh đưa thông tin về lịch sử ra đời, tác giả cũng ghi nhận “với phong cách một tạp chí khảo cứu có tính “bách khoa toàn thư”, Nam Phong đã để lại một kho tư liệu quý”.
Tiếp nối Đông Dương tạp chí, Nam Phong kiên trì nghiên cứu cải tạo câu văn Quốc ngữ, đưa thứ chữ mới được sử dụng không lâu này có khả năng diễn đạt mọi khái niệm thâm thuý cổ kim Đông Tây. Các bài viết có tính học thuật khá cao, đến nay vẫn được tham khảo (Đỗ Quang Hưng, 2018, tr.69).
Báo chí đã góp phần xây dựng một nền học thuật mới, thâu thái Tây phương, dịch sách báo nước ngoài, mở các diễn đàn tranh luận, đặt ra và tìm cách giải quyết nhiều vấn đề như bản sắc dân tộc, quốc học, quốc văn,… Báo chí trở thành trường học quốc dân nên nhà báo mang tri thức hàn lâm ra xã hội. Trong các tờ báo đầu thế kỷ XX, cấu trúc của Nam Phong được phân chia khoa học thành các phần như một bách khoa thư: Luận thuyết (luận bàn vĩ mô), Học khoa (giới thiệu tri thức mới), Văn uyển (sáng tác văn học), Thời đàm (tin tức).... Trong bối cảnh người dân Việt Nam còn rất mơ hồ về các khái niệm tâm lý học, tạp chí Nam Phong đã có loạt bài “Tâm lý học” kéo dài nhiều kỳ (bắt đầu từ số 88, tháng 10/1924). Trên đó, Phạm Quỳnh đã giảng giải về “trí nhớ”, “bản năng”, “vô thức” bằng ngôn ngữ đại chúng, giúp công chúng đọc báo tiếp cận được tri thức của phương Tây.
Trong vòng 17 năm tồn tại với 211 số báo xuất bản từ năm 1917 đến năm 1934, Nam Phong tạp chí đã đóng góp gần 3.000 bài viết với nội dung phong phú, đa dạng về mọi mặt của đời sống xã hội. Đây là một tờ báo đồ sộ về khối lượng thông tin: Báo chí, triết học (tổng quát, Đông phương, Tây phương); tôn giáo, xã hội (tổng quát, công dân, hôn nhân - gia đình, hương thôn cải lương, phụ nữ, quan lại, thượng lưu trí thức, trị thủy, vệ sinh, ngoại quốc); chính trị (Việt Nam, ngoại quốc); kinh tế (tổng quát, pháp luật); giáo dục (ấu trĩ viên, gia đình, phụ nữ, quốc văn giáo dục); phong tục (Việt Nam, ngoại quốc); ngôn ngữ (danh từ, tự điển, Hán tự, quốc học, Quốc ngữ, quốc văn); khoa học; mỹ thuật (âm nhạc); văn học (văn học, văn hóa, văn minh, văn gia, thi gia, văn phẩm, văn thể); lịch sử (lịch sử Việt Nam, lịch sử ngoại quốc, tiểu sử, danh nhân); địa dư, du ký, du hành..
Với những nội dung phong phú như vậy, rõ ràng thông qua tạp chí Nam Phong, Ban biên tập đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triển báo chí Việt Nam từ hình thức sơ khai, đơn giản lên trình độ hiện đại. Nam Phong mà chủ bút là Phạm Quỳnh đã thông qua báo chí góp phần lan tỏa khoa học, giáo dục, đặt chữ Quốc ngữ làm căn bản cho nhằm “gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân”.
Bồi bổ và phát triển quốc văn: với sự phát triển của báo chí, chữ Quốc ngữ trở thành công cụ để xây dựng nền văn hóa mới. Các bài viết trên báo góp phần chuẩn hóa lối văn xuôi nghị luận, dùng tiếng Việt để diễn đạt các khái niệm triết học, khoa học phức tạp từ phương Tây. Với chữ Quốc ngữ, các thuật ngữ đã được dịch sát nghĩa và diễn giải, chú giải để độc giả dễ dàng tiếp cận tư tưởng của các triết gia và nhà văn Pháp, giúp chuyển đổi thói quen tiếp nhận từ cảm tính sang tư duy logic, hệ thống của công chúng độc giả.
2.2. Những giá trị của báo chí đầu thế kỷ XX và kinh nghiệm phát huy vai trò của báo chí đối với sự giữ gìn, phát triển ngôn ngữ hiện nay
a) Hệ thống thuật ngữ và văn phong nghị luận
Từ chỗ văn xuôi, Quốc ngữ chỉ ở dạng sơ khai (kể chuyện, ghi chép đơn giản), Nam Phong đã đem cấu trúc câu phức, mệnh đề quan hệ và cách tư duy logic của tiếng Pháp để “rèn đúc” ra ngữ pháp văn xuôi lý luận cho người Việt. Sự tiếp thu này không phải là sao chép mà là kế thừa về phương pháp tư duy, cách đặt vấn đề và hệ thống thuật ngữ. Nam Phong tạp chí như một bộ bách khoa thư định hình lối văn nghị luận, ngôn ngữ báo chí, để lại một bộ “mã gene” quan trọng cho báo chí hiện đại.
Đóng góp trực quan và có sức ảnh hưởng lâu bền nhất của Nam Phong tạp chí là việc mở rộng quy mô từ vựng, đặc biệt là hệ thống thuật ngữ trừu tượng thuộc lĩnh vực chính trị, triết học, khoa học. Những bài khảo cứu, dịch thuật trên Nam Phong đã chứng minh rằng tiếng Việt hoàn toàn có đủ khả năng diễn đạt những tư tưởng phức tạp, trừu tượng. Việc áp dụng linh hoạt hai phương thức cốt lõi: tân tạo hệ thống từ Hán - Việt mang trường nghĩa mới và Việt hóa các thuật ngữ phương Tây bằng kỹ thuật dịch nghĩa.
Hệ thống từ vựng phái sinh qua hàng loạt bài biên khảo triết học, xã hội học trên Nam Phong đã đưa vào đời sống ngôn ngữ Việt Nam một loạt thuật ngữ học thuật mà ngày nay vẫn sử dụng: chủ quan, khách quan, lý trí, trực giác, tiến hóa, văn minh... Các khái niệm trừu tượng phương Tây thành những từ ghép Quốc ngữ gọn gàng, có tính hệ thống cao. Trước khi có sự chuẩn hóa này, người Việt phải dùng nguyên từ tiếng Pháp hoặc giải thích bằng những cụm từ nôm na rất dài dòng.
Nguyễn Lân Dũng nhận định: Cái nền thuật ngữ Hán - Việt mà Phạm Quỳnh xây dựng trên Nam Phong chính là bệ đỡ để báo chí khoa học hiện đại tiếp tục sáng tạo các thuật ngữ mới mà không làm mất đi bản sắc tiếng Việt (Nguyễn Lân Dũng, 2018). Ngày nay, trong Cuộc cách mạng công lần thứ tư, số hóa, công nghệ mới, báo chí hiện đại vận hành theo những công thức hiện đại đã định hình do tác động từ thực tiễn quá trình phát triển. Tuy nhiên, giữ gìn các bản sắc là yêu cầu cấp thiết.
b) Trách nhiệm với tiếng Việt và định hình thể loại báo chí
Báo chí hiện đại, đặc biệt là thể loại xã luận, bình luận đã kế thừa lối đặt vấn đề theo kiểu “thổ nạp”, phát huy lối viết nghị luận “mạch lạc, đa chiều”, lấy một sự kiện thời sự làm cái cớ để bàn về những giá trị văn hóa, đạo đức. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong cuốn “Cánh bướm và độc hành nhận xét: “Lối văn nghị luận đĩnh đạc, coi trọng tính luận lý của Phạm Quỳnh vẫn thấp thoáng trong các cây bút bình luận sắc sảo ngày nay” (Vương Trí Nhàn, 2012). Tuyên ngôn “Tiếng ta còn, nước ta còn” và thực hành ngôn ngữ tiếng Việt trên báo đã để lại kinh nghiệm sâu sắc cho các chuyên mục bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trên báo chí hiện đại, như chuyên mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) và báo Nhân Dân.
Kỷ niệm 100 năm Nam Phong tạp chí (năm 2017), nhà báo Hữu Thọ nhận định, báo chí hiện đại đang tiếp nối tinh thần của Phạm Quỳnh trong việc chống lại sự lai căng, lạm dụng ngoại ngữ vô lối trên mặt báo.
Bên cạnh đó, trên Nam Phong đã mở đường cho một loại văn sau này thành mốt là loại du ký. Trên Nam Phong xuất hiện một số bài viết có tính chất phóng sự - du ký có giá trị, được coi là sự mở đầu cho phóng sự hiện đại trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta những năm đầu thế kỷ XX: Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khuê), hoặc các phóng sự dài kỳ Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)…
Ngày nay, các tờ báo đã phát triển thể loại thành các loạt bài phóng sự chuyên sâu, kết hợp giữa mô tả hiện trường và phân tích văn hóa - lịch sử. Loạt bài du ký văn hóa về Trường Sa hay các vùng đất di sản trên báo Thanh Niên thường dùng lối viết giàu cảm xúc nhưng vẫn đầy đủ số liệu khảo cứu, như cách Phạm Quỳnh thể hiện ở “Mười ngày ở Huế”.
Sự phát triển của ngôn ngữ báo chí đầu thế kỷ XX là di sản vô giá, đã đưa tiếng Việt từ một ngôn ngữ bình dân thành một công cụ học thuật sắc bén, đủ sức “thổ nạp” tinh hoa của cả hai nền văn minh Đông - Tây. Dù thời đại của Nam Phong đã khép lại, nhưng tinh thần “Luyện tiếng ta cho dồi dào và tinh nhuệ” vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ và làm giàu vốn quý của dân tộc giữa dòng chảy toàn cầu hóa.
c) Ý nghĩa đối với xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện đại
Trong tiếp thu mô hình phát triển văn hoá, bài học lịch sử về phương pháp luận bảo tồn di sản văn hóa dân tộc là bảo tồn không phải là đóng băng quá khứ trong tủ kính bảo tàng, mà bảo tồn phải đi đôi với canh tân và chủ động tiếp biến (bảo tồn động). Mô hình phát triển văn hóa lấy trục đạo đức Đông phương làm nền tảng ổn định xã hội và lấy phương pháp tư duy khoa học, công nghệ phương Tây làm động lực phát triển, đồng thời lấy ngôn ngữ dân tộc làm thành trì bảo vệ căn cước, chính là một bộ cẩm nang có ý nghĩa tham chiếu cho thực hiện chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” đã đặt nhiệm vụ phát triển văn hóa một trọng điểm. Với quan điểm, phát huy mọi nguồn lực phát triển để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; nhân tố thúc đẩy phát triển con người Việt Nam trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển.
Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc triển khai ngày “Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” hằng năm vào ngày 8/9 là một cách thức có ý nghĩa sâu sắc trong việc dùng ngôn ngữ neo giữ căn cước dân tộc.
Từ thuyết “Thổ nạp Âu - Á” - giữ cốt lõi đạo đức Đông phương, nạp phương pháp luận lý tính và khoa học thực nghiệm Tây phương là tiền đề lý luận thô sơ của công thức xây dựng văn hóa hội nhập và hiện đại. Đó cũng là những kinh nghiệm của Nam Phong trong việc phát huy vai trò của báo chí trong tiếp biến thành tựu khoa học nước ngoài.
Trong thời kỳ đổi mới, đường lối của Đảng từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) đến Văn kiện Đại hội XIII (2021) đều nhất quán: xây dựng nền văn hóa tiên tiến (tiếp thu khoa học, giá trị nhân văn toàn cầu) gắn liền với “đậm đà bản sắc dân tộc” (bảo tồn tinh hoa, lòng yêu nước, đạo đức truyền thống).
Trong Văn kiện Đại hội XIV (năm 2026), Đảng xác định văn hóa không chỉ là nền tảng mà còn là động lực phát triển đất nước: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.82); lan toả các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hoá và truyền thống cách mạng.
d) Bảo tồn các thiết chế và giá trị văn hoá truyền thống
Đấu tranh trên Nam Phong tạp chí để bảo vệ giá trị kết nối thiêng liêng gia tộc của ngày Tết, cưới hỏi, tang ma, nhưng quyết liệt yêu cầu bài trừ nạn khóc mướn, mời thầy cúng bùa chú, đốt vàng mã vô tội vạ, ăn uống linh đình gây nợ nần thể hiện tư tưởng gạn lọc phong tục này đồng điệu với phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới hiện nay. Trang phục truyền thống dân tộc (áo dài ngũ thân, khăn đóng) là biểu tượng cho lòng tự tôn và bản sắc văn hóa quốc gia. Phạm Quỳnh luôn chọn áo dài ngũ thân truyền thống, quần trắng và khăn đóng làm trang phục cho mình. Khi sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa Marseille và diễn thuyết tại Viện Hàn lâm Chính trị và Luân lý Pháp (1922), ông gây ấn tượng mạnh mẽ với giới trí thức phương Tây bằng hình ảnh một học giả uyên bác, nói tiếng Pháp hoàn hảo nhưng vận nguyên bộ quốc phục Việt Nam. Tư duy phê bình phương Tây để nâng tầm Truyện Kiều, nghệ thuật Chèo, hát Ca trù từ vị thế dân gian lên tầm bác học để đối thoại với “chính quốc”.
Thực tiễn hiện nay, Việt Nam đang dịch chuyển từ tư duy “bảo tồn tĩnh” (giữ gìn nguyên trạng) sang “phát triển động”, biến di sản thành tài nguyên cho nền công nghiệp văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Ngành văn hóa áp dụng phương pháp: giữ nguyên cốt lõi âm luật ước lệ cổ truyền nhưng số hóa, điện ảnh hóa và đưa vào các không gian sáng tạo hiện đại. Việc UNESCO vinh danh Ca trù, hay việc các nghệ sĩ trẻ ngày nay (như các dự án nhạc đương đại kết hợp nghệ thuật truyền thống) thành công trong việc xuất khẩu văn hóa ra thế giới là tiếp nối và phát triển sáng tạo di sản dân tộc.
3. Kết luận
Sự phát triển báo chí Việt Nam đã đóng góp vào sự phát triển chữ Quốc ngữ. Về mặt văn hóa, báo chí góp phần vào lan tỏa và chuẩn hóa chữ Quốc ngữ. Báo chí Việt Nam trong đầu thế kỷ XX đã định hình các quy tắc ngữ pháp mới gãy gọn, làm giàu các thuật ngữ chính trị, khoa học, triết học.
Nhờ sự trui rèn liên tục trên các trang báo, chữ Quốc ngữ đã đạt bước tiến dài từ một thứ chữ ghi âm sơ khai trở thành một hệ thống ngôn ngữ giàu có, linh hoạt và đa chức năng. Hệ thống báo chí trước năm 1945 đã chuẩn bị sẵn sàng một lượng thuật ngữ phong phú trên mọi lĩnh vực. Chính nội lực này đã góp phần giúp chữ Quốc ngữ đủ năng lực đảm đương vai trò ngôn ngữ quốc gia sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phục vụ hiệu quả cho công cuộc bình dân học vụ, quản lý hành chính và xây dựng nền giáo dục đại học bằng tiếng Việt. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, với sự phát triển của mạng xã hội, ngôn ngữ được bổ sung vốn từ mới vô cùng phong phú thông qua dịch thuật và tiếp nhận hàng loạt các thuật ngữ mới. Việc phát huy vai trò của báo chí trong giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xã hội chuyển mình là yêu cầu cấp thiết và cơ bản lâu dài.
_________________
Ngày nhận bài: 18/5/2026; Ngày bình duyệt: 6/6/2026; Ngày duyệt đăng: 8/6/2026.
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Lân Dũng trong bài viết “Tiếng Việt và sự phát triển thuật ngữ” (Tạp chí Khoa học, 2018)
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đỗ Quang Hưng (2018), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945, NXB khoa học xã hội