Thực tiễn

Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội

07/08/2026 16:26

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động lập pháp của Quốc hội giữ vai trò then chốt trong việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và bảo đảm quản lý xã hội bằng pháp luật. Điều đó đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất và ngày càng hiệu quả của Đảng, trực tiếp là Đảng ủy Quốc hội, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

ThS TRẦN DUY HƯNG
Ban Tổ chức Đảng ủy Quốc hội

cdncongthuong.quangtrung.vn-static_files-thutra-images-2026-01-06-_image-41-f3c7.jpg
Lễ kỷ niệm Ngày tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam_Ảnh: DL

1. Mở đầu

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là chức năng cơ bản, trọng tâm của Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chất lượng của hoạt động lập pháp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là những cán bộ trực tiếp tham gia nghiên cứu, soạn thảo, thẩm tra, chỉnh lý và tham mưu cho Quốc hội trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh và các văn bản có giá trị pháp lý cao.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đối với pháp luật ngày càng cao, đòi hỏi phải có “Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán” (Ban Chấp hành Trung ương, 2022) và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu, tư duy pháp lý hiện đại và đạo đức công vụ trong sáng để xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chất lượng đội ngũ cán bộ lập pháp hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định, cả về cơ cấu, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu vấn đề Đảng lãnh đạo đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là vấn đề tổ chức cán bộ thuần túy mà là nội dung quan trọng trong việc khẳng định và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và hoạt động lập pháp.

2. Nội dung

2.1. Tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động lập pháp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác cán bộ lập pháp không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính trị của Đảng cầm quyền mà còn được hình thành trên nền tảng lý luận vững chắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước khẳng định con người và đội ngũ cán bộ giữ vai trò quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước. V.I. Lênin nhấn mạnh rằng trong quản lý nhà nước, vấn đề mấu chốt là “lựa chọn người, thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm, kiểm tra công việc thực tế”, coi đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và thực thi đúng mục tiêu của giai cấp cầm quyền (V.I. Lênin, 1979). Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là phương tiện thể hiện ý chí chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Do đó, đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm bản chất xã hội chủ nghĩa của pháp luật.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là sự kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” (Hồ Chí Minh, 2011). Công tác cán bộ phải được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng; cán bộ phải hội tụ cả phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn, trong đó đạo đức là gốc. Đối với lĩnh vực lập pháp, lĩnh vực đòi hỏi trình độ lý luận cao, tư duy pháp lý chặt chẽ và bản lĩnh chính trị vững vàng yêu cầu này càng mang ý nghĩa quyết định.

Trên phương diện lý luận chính trị pháp lý, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và hoạt động lập pháp là nguyên tắc mang tính hiến định. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (ĐCSVN, 2011). Hiến pháp năm 2013 khẳng định nguyên tắc này, đồng thời xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội, 2013). Trong mối quan hệ đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp chính là phương thức quan trọng để bảo đảm Quốc hội thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp và đường lối, chủ trương của Đảng.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII nêu rõ: xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ (Ban Chấp hành Trung ương, 2018). Đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội là bộ phận quan trọng của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, trực tiếp tham gia xây dựng pháp luật, thể chế hóa đường lối, chủ trương, của Đảng thành quy phạm pháp luật. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ lập pháp thực chất là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ trong lĩnh vực lập pháp.

Thực tiễn hoạt động lập pháp ở Việt Nam cho thấy, chất lượng của hệ thống pháp luật phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng pháp luật. Những hạn chế như quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu ổn định, phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần,… một phần là do năng lực phân tích chính sách, kỹ thuật lập pháp và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ lập pháp. Các báo cáo tổng kết công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội đã chỉ rõ yêu cầu phải tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, soạn thảo, thẩm tra luật(7). Điều này càng khẳng định tính cấp thiết của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp.

Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “chuyên nghiệp, liêm chính, có năng lực, bản lĩnh”, đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả. Đối với Quốc hội, điều này đặt ra yêu cầu phải có đội ngũ cán bộ lập pháp không chỉ giỏi chuyên môn pháp lý mà còn có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức công vụ trong sáng, không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong quá trình xây dựng pháp luật.

Như vậy, xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp của Quốc hội là yêu cầu khách quan, khoa học và pháp lý. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối của Đảng và pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội

Đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội bao gồm cán bộ trong các cơ quan của Quốc hội như Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các cơ quan tham mưu, giúp việc. Đây là lực lượng trực tiếp tham gia toàn bộ quy trình xây dựng pháp luật, từ đề xuất chính sách, soạn thảo, thẩm tra đến chỉnh lý và giám sát việc thi hành luật.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lập pháp là chủ thể trực tiếp bảo đảm chất lượng nội dung các đạo luật. Trình độ chuyên môn, tư duy pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ quyết định mức độ khoa học, tính khả thi và hiệu lực của pháp luật. Thứ hai, đội ngũ này giữ vai trò cầu nối giữa đường lối, chủ trương của Đảng với hoạt động lập pháp của Quốc hội, góp phần để “Đảng bộ Quốc hội định hướng, lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa kịp thời, đồng bộ chủ trương, nghị quyết của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật” (Vũ Hải Hà, 2024). Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cán bộ lập pháp còn là lực lượng tham gia nội luật hóa các cam kết quốc tế, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp mà còn là vấn đề chính trị tổ chức có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.3. Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp của Quốc hội

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, giữ vai trò quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đối với Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng luật pháp, khả năng thể chế hóa kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp

Quan điểm nhất quán của Đảng là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với công tác cán bộ, đồng thời phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 (Quốc hội, 2013). Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (ĐCSVN, 2021). Đối với lĩnh vực lập pháp, yêu cầu này được cụ thể hóa ở việc xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu về pháp luật, tư duy chính sách sắc bén và khả năng thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế.

Đồng thời, Đảng đặc biệt coi trọng kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và phòng, chống lợi ích nhóm. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ rõ nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị (Ban Chấp hành Trung ương, 2016) . Quan điểm này có ý nghĩa trực tiếp đối với lĩnh vực lập pháp đến các chủ thể.

Trên cơ sở quan điểm đó, Đảng đã lãnh đạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lập pháp.

Thứ nhất, về hoàn thiện thể chế và cơ chế lãnh đạo. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9 - 11 - 2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ yêu cầu “nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp, bảo đảm quản trị quốc gia bằng Hiến pháp và pháp luật” và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật “chuyên nghiệp, liêm chính, chí công, vô tư”. Đây là định hướng quan trọng để Đảng ủy Quốc hội và các tổ chức đảng trong Quốc hội cụ thể hóa thành chương trình hành động, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ.

Thứ hai, về công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19 - 5 - 2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu. Việc quán triệt và thực hiện nghị quyết này trong các cơ quan của Quốc hội đã góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, thẩm tra, chỉnh lý dự án luật; từng bước hình thành đội ngũ cán bộ lập pháp có trình độ chuyên sâu, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn phong phú.

Thứ ba, về xây dựng đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương. Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07 - 6 - 2012 của Ban Bí thư (khóa XI) và Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã tạo khuôn khổ chính trị - đạo đức quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp liêm chính, khách quan, không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ (Ban Chấp hành Trung ương, 2018; Ban Bí thư, 2012). Việc thực hiện nghiêm các quy định này góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động lập pháp.

Thứ tư, về kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23 - 9 - 2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền đã tạo cơ sở để siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong bố trí, sử dụng cán bộ, trong đó có cán bộ làm công tác lập pháp (Bộ Chính trị, 2019). Thông qua công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng trong Quốc hội, những hạn chế, bất cập trong tham mưu, xây dựng chính sách được kịp thời chấn chỉnh, xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

2.4. Kết quả và một số kinh nghiệm

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội từng bước được nâng lên. Năng lực phân tích chính sách, kỹ thuật lập pháp và khả năng phối hợp liên ngành được nâng cao rõ rệt; quy trình xây dựng luật ngày càng chặt chẽ, minh bạch hơn; việc lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng chịu tác động được chú trọng, góp phần nâng cao tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.

Từ thực tiễn đó, có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng: (i) giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ, đồng thời tôn trọng thẩm quyền lập pháp của Quốc hội theo Hiến pháp; (ii) coi trọng sự đồng bộ giữa xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ với nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng lập pháp; (iii) gắn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ với hoàn thiện thể chế, cơ chế kiểm soát quyền lực và minh bạch hóa quy trình lập pháp; (iv) thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về công tác cán bộ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng ủy Quốc hội, đã tạo nền tảng chính trị - tổ chức vững chắc cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp ngày càng chuyên nghiệp, bản lĩnh và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

2.5. Một số yêu cầu và định hướng trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội đặt ra ngày càng toàn diện. Điều này đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp phải tiếp tục được đổi mới cả về nội dung và phương thức, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, cần bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp, đồng thời tôn trọng và phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền của Quốc hội theo Hiến pháp. Sự lãnh đạo của Đảng không nhằm thay thế hoạt động của Quốc hội, mà giữ vai trò định hướng chính trị, tư tưởng và tổ chức đối với đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp. Thực tiễn cho thấy, nếu không có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, hoạt động lập pháp dễ rơi vào tình trạng phân tán, thiếu định hướng chiến lược; ngược lại, nếu can thiệp hành chính, làm thay chức năng của Quốc hội sẽ làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các chủ thể lập pháp. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội theo hướng rõ thẩm quyền, đúng nguyên tắc, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ nhưng không chồng lấn giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng lập pháp của Quốc hội.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp phải gắn chặt với yêu cầu phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong quá trình xây dựng pháp luật. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nguy cơ tác động của các nhóm lợi ích vào hoạt động xây dựng pháp luật ngày càng gia tăng, tinh vi và phức tạp hơn. Đội ngũ cán bộ lập pháp, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức công vụ trong sáng và cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, rất dễ bị chi phối bởi các lợi ích không phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước và xã hội. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc lựa chọn, bố trí, quản lý đội ngũ cán bộ lập pháp, đồng thời hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực, minh bạch hóa quy trình xây dựng pháp luật, qua đó phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả các biểu hiện tiêu cực trong công tác lập pháp.

Thứ ba, cần chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp theo hướng chuyên sâu, hiện đại và hội nhập. Hoạt động lập pháp hiện nay không chỉ đòi hỏi kiến thức pháp luật thuần túy mà còn yêu cầu cao về kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động pháp luật, hiểu biết pháp luật quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia tiên tiến. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lập pháp cần được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp và hình thức, gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp đào tạo trong nước với đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế thu hút, sử dụng hiệu quả các chuyên gia, nhà khoa học có trình độ cao tham gia vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Thứ tư, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học và phát triển lý luận về công tác cán bộ lập pháp trong điều kiện mới. Thực tiễn hoạt động lập pháp của Quốc hội thời gian qua đã cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, song việc tổng kết, khái quát và phát triển thành lý luận còn chưa tương xứng. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng cao, việc bổ sung và phát triển lý luận về công tác cán bộ lập pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm rõ cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực này. Do đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm tổng kết thực tiễn, làm rõ những vấn đề mới đặt ra và có các giải pháp phù hợp.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp theo hướng khoa học, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của Đảng cần được thực hiện thông qua các cơ chế, quy trình rõ ràng, bảo đảm phát huy tính chủ động, trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, tránh bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, đánh giá cán bộ lập pháp nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả lãnh đạo.

Nhìn chung, những yêu cầu và định hướng nêu trên vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội. Việc thực hiện đồng bộ các định hướng này dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới là đột phá của đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển.

3. Kết luận

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động lập pháp và hiệu lực của hệ thống pháp luật. Đây là nội dung quan trọng trong việc khẳng định và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và Nhà nước. Thông qua lãnh đạo, định hướng công tác tổ chức cán bộ, xây dựng đạo đức công vụ và kiểm tra, giám sát, trực tiếp là Đảng ủy Quốc hội, giữ vai trò then chốt trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lập pháp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ lập pháp ngày càng cao, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy lãnh đạo, phương thức quản lý và cơ chế kiểm soát quyền lực. Việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ lập pháp không chỉ nhằm nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, mà còn góp phần phòng ngừa tiêu cực, lợi ích nhóm, bảo đảm pháp luật thực sự là công cụ quản lý xã hội hiệu lực, hiệu quả. Đây cũng là yếu tố quan trọng để Quốc hội phát huy tốt hơn vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

_________________

Ngày nhận bài: 4/3/2026; Ngày bình duyệt: 30/3/2026; Ngày quyết định đăng: 29/5/2026.

Email tác giả: tranduyhung2211@gmail.com

Ban Chấp hành Trung ương (2016). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Ban Chấp hành Trung ương (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Ban Chấp hành Trung ương (2018). Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Ban Bí thư (2012). Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Bộ Chính trị (2019). Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

ĐCSVN (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Sửa đổi, bổ sung năm 2011).

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

V.I.Lênin (1979). Toàn tập (Tập 44). Nxb Tiến bộ.

Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội (2014). Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 ngày 20/11/2014.

Quốc hội (2026). Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ khóa XV của Quốc hội.

Vũ Hải Hà (2024). Đảng bộ Quốc hội trước yêu cầu đổi mới, bảo đảm thể chế hóa toàn diện, kịp thời, đúng đắn chủ trương của Đảng trong xây dựng và giám sát thực hiện pháp luật. Tạp chí Cộng sản.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp của Quốc hội
    POWERED BY