Thực tiễn

Đổi mới công tác truyền thông ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay

22/06/2026 16:43

Tóm tắt: Trong thời gian qua, công tác truyền thông tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã có nhiều đổi mới, khẳng định vai trò tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần thực hiện sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và lan tỏa các thành tựu nghiên cứu lý luận. Bài viết phân tích thực trạng công tác truyền thông tại Học viện và đề xuất một số giải pháp đổi mới toàn diện từ tư duy, mô hình tổ chức, ứng dụng công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực, nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông của Học viện trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

PGS, TS TRẦN QUANG DIỆU
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tc hv
Gian triển lãm của Liên Chi hội Nhà báo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại Hội báo toàn quốc năm 2026_Ảnh: LLCT

1. Mở đầu

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định báo chí, xuất bản, truyền thông là vũ khí tư tưởng sắc bén, là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, văn hóa. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số không đơn thuần là công cụ kỹ thuật hỗ trợ mà đã thực sự trở thành một lực lượng sản xuất mới, làm thay đổi tận gốc hệ sinh thái thông tin toàn cầu, Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu mang tầm chiến lược, đó là “xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số” (ĐCSVN, 2026, tr. 273).

Trước đó, Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng nhấn mạnh yêu cầu đến năm 2030, 100% cơ quan báo chí phải hoạt động, vận hành mô hình tòa soạn hội tụ và sản xuất nội dung theo các xu hướng báo chí số (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Đặc biệt, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nền báo chí xuất bản, truyền thông cách mạng trong bối cảnh mới phải khẳng định rõ bản lĩnh, trở thành thiết chế nòng cốt “kiến tạo niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội”, không chỉ thụ động phản ứng mà phải chủ động dẫn dắt, truyền cảm hứng và cổ vũ khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị và quản lý nhà nước của hệ thống chính trị; đồng thời là trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng công nghệ phi truyền thống trên môi trường truyền thông số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các thuật toán lan truyền tin giả nhằm xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta, công tác truyền thông của Học viện mang trong mình sứ mệnh quan trọng. Hoạt động này không thể chỉ dừng lại ở chức năng thông tin nội bộ đơn thuần, mà phải vươn tầm trở thành lực lượng tiên phong trong việc lan tỏa tri thức lý luận, truyền thông chính sách và tạo lập “lá chắn số” vững chắc nhằm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Việc tích hợp công nghệ, xây dựng hệ sinh thái số liên thông giữa báo chí, xuất bản và truyền thông của Học viện sẽ góp phần trực tiếp nâng cao hiệu năng tuyên truyền và năng lực định hướng dư luận. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp đổi mới toàn diện công tác truyền thông ở Học viện với ba giá trị cốt lõi “chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại” là một đòi hỏi cấp bách cả về phương diện lý luận và thực tiễn hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại và các xu thế truyền thông trong kỷ nguyên số

Đại hội XIV của Đảng đã xác định mục tiêu “xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại” là định hướng chiến lược trong kỷ nguyên mới. Công nghệ số và sự phát triển vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI) được Đảng ta xác định không chỉ là công cụ kỹ thuật mà thực sự là một “lực lượng sản xuất mới”, làm thay đổi toàn diện phương thức kiến tạo và phân phối tri thức. Dữ liệu thống kê từ We Are Social cho thấy sự thay đổi tận gốc trong hành vi tiếp nhận của công chúng tính đến năm 2025, Việt Nam có tới 79,8 triệu người dùng internet, trong đó khoảng 76,2 triệu người sử dụng mạng xã hội (tương đương 75,2% dân số). Sự dịch chuyển này kéo theo hệ lụy kinh tế to lớn khi ước tính có khoảng 70% thị phần quảng cáo đã chuyển sang các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới. Trong bối cảnh nền tảng xuyên biên giới chi phối hệ sinh thái thông tin toàn cầu, ba giá trị “chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại” có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Tính chuyên nghiệp đòi hỏi sự hoàn thiện về thể chế, mô hình tổ chức tòa soạn và năng lực “đa nhiệm” của nguồn nhân lực; tính hiện đại phản ánh năng lực chuyển đổi số và làm chủ công nghệ dữ liệu. Đặc biệt, tính nhân văn trở thành mỏ neo định vị sự khác biệt của báo chí cách mạng so với mạng xã hội với yêu cầu báo chí phải lấy con người làm trung tâm, chống lại khuynh hướng thương mại hóa, giật gân và bảo đảm tính khách quan trước nguy cơ bị thao túng bởi các thuật toán vô thức (Đỗ Chí Nghĩa, 2026).

Các xu thế truyền thông chủ đạo trong kỷ nguyên số qua lăng kính dữ liệu thực chứng cho thấy hệ giá trị cốt lõi nêu trên đang được hiện thực hóa thông qua ba xu thế công nghệ - truyền thông lớn, được minh chứng bằng các số liệu ứng dụng cụ thể trên thế giới và tại Việt Nam như dưới đây.

Một là, xu hướng tự động hóa và cá nhân hóa nội dung bằng trí tuệ nhân tạo (AI). AI đang tái cấu trúc lại toàn bộ quy trình sản xuất tin tức. Khảo sát toàn cầu năm 2025 của Ringier Axel Springer chỉ ra rằng: 96% các nhà xuất bản ưu tiên tự động hóa hậu kỳ bằng AI, 80% tập trung cá nhân hóa nội dung, 77% ứng dụng AI để sáng tạo và 73% sử dụng AI để thu thập tin tức (Nguyễn Thị Trường Giang, 2025). Hiệu quả thực chứng là rất rõ rệt: Hệ thống AI Heliograf của tờ The Washington Post đã tự động sản xuất khoảng 850 bài viết trong năm đầu tiên, thu hút hơn 500.000 lượt đọc mà chỉ mất 45 giây sau khi có dữ liệu đầu vào. Trong việc cá nhân hóa, hệ thống AI Signals của tờ The Times of India xử lý cá nhân hóa 1.500 bài báo mỗi ngày, giúp tỷ lệ nhấp chuột (CTR) tăng vọt 85% trên website và 30% trên ứng dụng di động (FPT Digital, 2025).

Hai là, xu thế phát triển báo chí dữ liệu và nâng cao năng lực kiểm chứng. Dữ liệu lớn giúp các cơ quan báo chí xử lý thông tin phức tạp thành các sản phẩm trực quan, có chiều sâu. Như tại Na Uy, hệ thống báo chí dữ liệu tích hợp AI Djinn của tờ iTromsø đã giúp giảm thời gian sàng lọc thông tin từ 2-3 giờ xuống dưới 10 phút mỗi ngày, góp phần tăng 15% lượng đăng ký mua báo trả phí (FPT Digital, 2025). Tại Việt Nam, nhiều tòa soạn cũng đang ứng dụng AI hiệu quả trong quản trị và kiểm chứng như: Báo Nhân Dân, VietnamNet, Thông tấn xã Việt Nam…

Ba là, xu thế truyền thông hội tụ đa nền tảng với chiến lược “digital first” và “social first”. Theo Quyết định số 348/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đề ra mục tiêu đến năm 2025, 70% cơ quan báo chí phải đưa nội dung lên nền tảng số và đến năm 2030, 100% cơ quan báo chí vận hành mô hình tòa soạn hội tụ (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Do đó, việc phân phối nội dung trên đa nền tảng mang lại sức lan tỏa vượt trội, điển hình như Báo Nhân Dân, khi áp dụng chiến lược "digital first", đổi mới cách làm nội dung trên Facebook, chỉ sau 1 tháng, lượng tiếp cận đã tăng 5.000%, số người theo dõi tăng gấp 7 lần; tài khoản TikTok của báo cũng nhanh chóng đạt 1,4 triệu lượt thích với nhiều video chạm mốc 3-4 triệu lượt xem, đồng thời, xu hướng hội tụ công nghệ còn thể hiện qua việc một số cơ quan báo chí như Báo Lao Động ứng dụng mô hình Biên tập viên ảo (AI) từ tháng 7/2021, mô phỏng 100% biểu cảm và khẩu hình dựa trên Machine Learning (Phạm Thị Thanh Tịnh, 2023).

Thông qua các dữ liệu thực chứng, có thể thấy việc chuyển đổi sang các mô hình truyền thông đa nền tảng, ứng dụng AI và dữ liệu lớn là quy luật vận động tất yếu. Cụ thể hóa đường lối của Đảng, Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/04/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược chuyển đổi số báo chí đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển nền báo chí dữ liệu và xây dựng mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng. Việc nắm bắt các xu thế công nghệ này một cách chuyên nghiệp, hiện đại, kết hợp với bộ lọc đạo đức nhân văn chính là chìa khóa để kiến tạo hệ sinh thái truyền thông vững mạnh, đáp ứng chủ trương chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, đối với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - trung tâm quốc gia về nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc đổi mới hoạt động truyền thông không đơn thuần là để bắt nhịp xu thế số hóa, mà là yêu cầu đòi hỏi hệ thống báo chí, tạp chí, xuất bản, truyền thông của Học viện phải nhanh chóng thiết lập hệ sinh thái truyền thông liên thông, hội tụ, ứng dụng công nghệ số; sử dụng “vũ khí” công nghệ số để xây dựng “lá chắn số” để đưa thông tin đến với công chúng, tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có như vậy, hoạt động truyền thông của Học viện mới đủ sức vô hiệu hóa mọi rủi ro về an ninh tư tưởng phi truyền thống, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng tri thức lý luận chính trị đến mọi tầng lớp nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới.

2.2. Thực trạng công tác truyền thông ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay

Thời gian qua, công tác truyền thông tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã có những thay đổi tích cực. Học viện đã định hình được hệ thống các Cổng thông tin điện tử, các tạp chí khoa học uy tín, cùng hệ thống các kênh thông tin thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, trước tốc độ bùng nổ của công nghệ số và đòi hỏi của hệ sinh thái truyền thông hiện đại, hoạt động này vẫn đang bộc lộ những khoảng trống và “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc cần được tháo gỡ. Thực tiễn cho thấy, công tác truyền thông của phần lớn các đơn vị trực thuộc Học viện vẫn mang tính chất tuyến tính, một chiều, thiếu sự tương tác và khả năng tiếp nhận thông tin phản hồi thực chất từ xã hội. Trong khi đó, xu thế tiếp nhận thông tin của công chúng, đặc biệt là giới trẻ, đã dịch chuyển mạnh mẽ lên không gian mạng. Dù vậy, đa phần các đơn vị trong hệ thống Học viện chưa khai thác triệt để các phương tiện truyền thông mới này, dẫn đến tốc độ truyền tải thông tin chậm, hình thức kém thu hút. Các sản phẩm tuyên truyền lý luận chính trị vẫn nặng về tính hàn lâm, dung lượng dài, thiếu vắng các định dạng trực quan hiện đại (infographic, video ngắn, podcast). Hệ quả là truyền thông lý luận chưa thực sự chạm đến nhu cầu của giới trẻ, vô hình trung tạo ra một “khoảng cách giao tiếp thế hệ” trong việc tiếp nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hiện nay, Học viện có một hệ thống các cơ quan tạp chí, xuất bản, truyền thông mạnh, bao gồm 18 cơ quan tạp chí khoa học với hơn 20 sản phẩm xuất bản định kỳ, tiêu biểu như: Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Nghiên cứu Hồ Chí Minh, Tạp chí Thông tin khoa học Lý luận chính trị, Tạp chí Chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Kinh tế và Quản lý, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, Tạp chí Triết học và Đời sống, Tạp chí Kinh tế chính trị, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, Tạp chí Giáo dục lý luận, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, Tạp chí Quản lý nhà nước, Tạp chí Khoa học chính trị, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Tạp chí Thông tin khoa học chính trị, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hệ thống Cổng Thông tin điện tử Học viện, Website Việt Nam Thịnh vượng…

Tuy nhiên, các cơ quan tạp chí, xuất bản, truyền thông của Học viện vẫn còn những “điểm nghẽn”, đó là tính liên thông, thống nhất của dữ liệu. Dù mỗi tháng, hệ thống các tạp chí, xuất bản, truyền thông đã đăng tải gần 350 bài, nhưng mối quan hệ cơ hữu giữa các tạp chí chưa cao; chưa kết nối liên thông dữ liệu để tích hợp đồng bộ vào hệ thống quản trị, mô hình tòa soạn số thông minh chung của Học viện.

Bên cạnh đó, năng lực quản trị truyền thông tại Học viện đang đứng trước thách thức lớn về tư duy và tổ chức bộ máy. Nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và viên chức còn chưa đầy đủ, đôi khi còn nhầm lẫn giữa công tác truyền thông hiện đại với công tác tuyên truyền truyền thống; cá biệt còn có tâm lý e dè, thiếu chủ động trong việc tiếp xúc, giải trình với báo chí và công luận. Về mặt cấu trúc, Học viện chưa thiết lập được mô hình tổ chức đơn vị chuyên trách về truyền thông đạt chuẩn hiện đại, theo thang đo 3 cấp độ truyền thông, đa số các đơn vị hiện nay chỉ dừng lại ở cấp độ 2 (thiết lập quan hệ với báo chí cơ bản), mà chưa có một chiến lược và kế hoạch truyền thông tổng thể, chủ động (cấp độ 3). Đặc biệt, sự thiếu hụt nguồn nhân lực truyền thông chuyên nghiệp là một điểm nghẽn lớn. Đa số cán bộ phụ trách công tác này là kiêm nhiệm hoặc được điều chuyển từ các bộ phận khác, chưa được đầu tư phát triển bài bản ngay từ khâu tuyển dụng. Nguồn nhân lực hiện tại đang gặp phải “khoảng trống” lớn về kiến thức, kỹ năng truyền thông chính sách, cũng như năng lực làm chủ các công cụ, phương tiện số như AI, Dữ liệu lớn (Big Data) hay sản xuất báo chí đa phương tiện.

Nhìn từ góc độ quản trị số, các cơ quan tạp chí, xuất bản của Học viện hiện vẫn hoạt động như những “ốc đảo dữ liệu” độc lập, rời rạc, chưa thiết lập được nền tảng Tòa soạn hội tụ dùng chung theo yêu cầu của Quyết định 348/QĐ-TTg. Theo tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, báo chí cách mạng phải thực sự là thiết chế nòng cốt, lực lượng xung kích “kiến tạo niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội”.

Để hoàn thành sứ mệnh đó, truyền thông lý luận chính trị không thể bảo thủ với phương thức giáo điều, mà phải “chủ động dẫn dắt”, sử dụng ngôn ngữ truyền thông đa phương tiện để “mềm hóa” lý luận, biến các giá trị hàn lâm thành thông điệp trực quan. Chính vì thế, chuyển đổi số và truyền thông đa nền tảng đòi hỏi sự đầu tư mạnh mẽ, tuy nhiên, tài chính cho hoạt động truyền thông của Học viện hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước với định mức chi hành chính chưa cao. Sự eo hẹp về nguồn lực tài chính khiến các đơn vị khó có thể đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ hiện đại, phát triển các nội dung đa phương tiện chất lượng cao, hoặc tổ chức các sự kiện truyền thông có tính định hướng quy mô lớn. Đây là rào cản trực tiếp khiến các khâu sản xuất nội dung bị hạn chế về khả năng sáng tạo và độ phủ sóng thông điệp. Đứng trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, đội ngũ nhân lực của Học viện cần khẩn trương được bồi dưỡng “năng lực giải thuật” và củng cố đạo đức truyền thông số. Chỉ khi kiến tạo được một thế hệ “nhà báo số” tinh thông công nghệ và bản lĩnh chính trị vững vàng, Học viện mới có thể giữ vững vị thế cơ quan lý luận hàng đầu của Đảng trong kỷ nguyên mới.

2.3. Đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới công tác truyền thông ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu “xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại” được nhấn mạnh tại Đại hội XIV của Đảng, đồng thời bám sát định hướng Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2030 của Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2023), công tác truyền thông tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính đột phá sau đây.

Một là, đổi mới tư duy truyền thông, chuyển từ “thông tin một chiều” sang “đối thoại và đồng kiến tạo”, đặc biệt hướng tới công chúng trẻ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, báo chí cách mạng phải vươn lên trở thành thiết chế nòng cốt, lực lượng xung kích “kiến tạo niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội”. Công tác truyền thông chính sách, lý luận chính trị không chỉ là hoạt động hỗ trợ mà phải được xem là một công cụ quản trị nhà nước quan trọng, góp phần định hướng dư luận và tạo đồng thuận xã hội. Lãnh đạo và đội ngũ cán bộ truyền thông của Học viện cần thay đổi tư duy từ phương thức “cung cấp thông tin áp đặt, giáo điều” sang “gợi mở, tương tác”. Đặc biệt, đối với nhóm độc giả trẻ có thói quen tiêu thụ thông tin qua mạng xã hội, báo chí của Học viện cần xây dựng các diễn đàn mở, đa dạng hóa hình thức thể hiện (infographic, podcast, video ngắn) để “mềm hóa” lý luận, gắn kết lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với các vấn đề khởi nghiệp, văn hóa số, trách nhiệm xã hội nhằm thiết lập “lá chắn số” vững chắc, chủ động phòng ngừa rủi ro an ninh phi truyền thống. Việc phá bỏ lối mòn lý thuyết khô khan để chuyển hóa thành hệ sinh thái nội dung số đa phương tiện chính là phương thức hữu hiệu nhất để khắc phục “khoảng trống giao tiếp thế hệ”, giúp tri thức chính trị thấm sâu vào thực tiễn.

Hai là, đột phá về hạ tầng số phục vụ đổi mới hoạt động truyền thông tại Học viện. Học viện cần kiến tạo hồ sơ dữ liệu và kho dữ liệu lớn lý luận chính trị thông qua số hoá toàn diện và tích hợp dữ liệu của 18 cơ quan tạp chí, hệ thống cổng thông tin và các tuyến bài viết đấu tranh tư tưởng của Đảng trên các kênh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tổng thể toàn Học viện; thực hiện quy hoạch và vận hành các cơ quan tạp chí, nhà xuất bản theo mô hình tòa soạn hội tụ và toà soạn số và chiến lược “digital first” (công nghệ số đầu tiên) nhằm đẩy nhanh chỉ số đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số của khối tạp chí Học viện lên mức “Khá” và “Tốt” vào năm 2026 và các năm tiếp theo. Học viện cần tái cấu trúc hệ thống cổng thông tin điện tử, tạp chí khoa học và các kênh bảo vệ nền tảng tư tưởng theo mô hình tòa soạn hội tụ, tòa soạn số đa nền tảng. Thay vì các đơn vị sản xuất nội dung rời rạc, tồn tại như những “ốc đảo dữ liệu” khép kín, cần hình thành một trung tâm điều phối tập trung để quản lý luồng dữ liệu. Thông qua hệ thống quản trị nội dung (CMS) dùng chung và tích hợp các phân hệ trí tuệ nhân tạo (AI), trợ lý ảo, một kết quả nghiên cứu khoa học lý luận có thể được chế bản thành nhiều định dạng khác nhau: bài tạp chí chuyên sâu, tóm tắt chính sách đồ họa, hoặc video phân tích ngắn lan tỏa trên mạng xã hội theo nguyên tắc “một lần sản xuất, đa nền tảng khai thác”. Điều này giúp tối ưu hóa nguồn lực, tránh trùng lặp kiến tạo công nghệ thành một “lực lượng sản xuất mới” và tăng độ phủ của thông tin lý luận chính trị và quản lý nhà nước tới các công chúng mục tiêu bảo đảm sự hiện diện mạnh mẽ của Học viện trên bình diện báo chí số quốc gia.

Ba là, ứng dụng sâu rộng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) để cá nhân hóa nội dung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Cần ứng dụng AI và phân tích dữ liệu mạng xã hội để nắm bắt xu hướng dư luận, từ đó dự báo và hoạch định các chiến dịch truyền thông trúng, đúng thời điểm thông qua các hệ thống AI tự động hóa (như chuyển văn bản thành giọng nói Text-to-Speech) giúp tăng năng suất sản xuất nội dung đa phương tiện. Quan trọng hơn, AI cần được sử dụng như một “lá chắn” rà quét 24/7, tự động phát hiện, cảnh báo các luận điệu xuyên tạc, tin giả trên không gian mạng, qua đó hỗ trợ đắc lực cho Ban Chỉ đạo 35 Học viện trong nhiệm vụ bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng (Nguyễn Thị Trường Giang, 2025).

Bốn là, chuẩn hóa nguồn nhân lực truyền thông, kiến tạo thế hệ nhà báo “đa nhiệm” vững bản lĩnh, chuẩn đạo đức số. Tính chuyên nghiệp và nhân văn phụ thuộc hoàn toàn vào con người. Học viện cần phát triển đội ngũ làm truyền thông chuyên trách không chỉ có trình độ lý luận chính trị mà còn phải tinh thông công nghệ số. Trong kỷ nguyên AI tạo sinh với nguy cơ tin giả và thao túng thuật toán, yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp càng phải được đặt lên hàng đầu. Người làm truyền thông tại Học viện phải giữ vững tính trung thực, năng lực kiểm chứng thông tin khắt khe và minh bạch trong việc ứng dụng công nghệ, để mọi phát ngôn của Học viện luôn là tiếng nói chuẩn mực, đáng tin cậy của Đảng (Nguyễn Thị Trường Giang, 2025).

Năm là, đổi mới cơ chế tài chính và khơi thông nguồn lực đầu tư cho truyền thông. Hoạt động truyền thông hiện đại đòi hỏi chi phí đầu tư lớn về hạ tầng máy chủ, băng thông và nhân lực công nghệ. Do đó, không thể chỉ dựa vào định mức chi hành chính truyền thống. Các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành cơ chế “đặt hàng”, giao nhiệm vụ bằng ngân sách nhà nước gắn với các sản phẩm truyền thông lý luận chính trị chất lượng cao. Đồng thời, Học viện cần huy động các nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác công - tư với các tập đoàn công nghệ lớn trong nước để xây dựng nền tảng số dùng chung, bảo đảm sự tự chủ và linh hoạt trong vận hành.

3. Kết luận

Đại hội XIV của Đảng khẳng định, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số cùng sự bùng nổ của các công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data) được Đảng ta xác định không chỉ là công cụ kỹ thuật hỗ trợ, mà thực sự đã trở thành một lực lượng sản xuất mới. Quán triệt sâu sắc tầm nhìn chiến lược của Đại hội XIV về mục tiêu “xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Thực tiễn cho thấy, sự phân mảnh dữ liệu thành các “ốc đảo” rải rác, hay tư duy quản trị truyền thông hành chính tuyến tính, cùng những khoảng trống về năng lực giải thuật của nguồn nhân lực đang là những “điểm nghẽn” lớn của hệ thống báo chí, tạp chí tại Học viện hiện nay. Để đổi mới hoạt động truyền thông của Học viện trong thời gian tới, cần kiến tạo cơ chế mở đường, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phá vỡ sự cát cứ thông tin để xây dựng một hệ sinh thái số báo chí, xuất bản, truyền thông của Học viện đồng bộ, liên thông và hội tụ trên nền tảng hiện đại. Đặc biệt, sự chuyển dịch từ nhận thức lý luận sang kết quả thực tiễn đòi hỏi một cơ chế hành động quyết liệt. Như tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ Đại hội XIV là “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”. Quá trình tháo gỡ điểm nghẽn trong đổi mới truyền thông của Học viện cần sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu, phải chuyển từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”, gắn chỉ đạo, điều hành với kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm.

Đổi mới công tác truyền thông tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là yêu cầu quan trọng, phản ánh sự nhạy bén và tinh thần trách nhiệm trước những yêu cầu của kỷ nguyên số và định hướng của Đại hội XIV của Đảng. Việc chuyển đổi từ phương thức truyền thông truyền thống sang mô hình hội tụ, đa nền tảng, lấy công chúng làm trung tâm và được dẫn dắt bởi công nghệ hiện đại (AI, Big Data) sẽ giúp tháo gỡ những “khoảng trống” trong việc truyền tải các nội dung lý luận chính trị và quản lý nhà nước trong bối cảnh mới. Khi thông tin lý luận được “mềm hóa”, “số hóa” một cách hiện đại, nhân văn và chuyên nghiệp, Học viện sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là ngọn cờ đầu trên mặt trận tư tưởng, đưa chủ trương, đường lối của Đảng thấm sâu vào đời sống xã hội, kiến tạo niềm tin vững chắc trong nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

_________________

Ngày nhận bài: 01/6/2026; Ngày bình duyệt: 20/6/2026; Ngày quyết định đăng: 22/6/2026.

Email tác giả: dieutq@gmail.com

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Đỗ Chí Nghĩa (2026). Quan điểm xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng. Tạp chí Lý luận chính trị.

Nguyễn Thị Trường Giang (2025). Đạo đức người làm báo trong thời đại trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Thông tin Khoa học lý luận chính trị, 6 (119), 29-36.

Phạm Thị Thanh Tịnh (2023). Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực báo chí - Thực trạng và giải pháp, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-linh-vuc-bao-chi-thuc-trang-va-giai-phap-p27513.html

FPT Digital (2025). Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong báo chí và truyền thông: AI và bước chuyển mình của ngành công nghiệp thông tin.

2

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đổi mới công tác truyền thông ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay
    POWERED BY