Nhân vật - Sự kiện

Đồng chí Phạm Văn Đồng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

09/09/2026 16:43

Tóm tắt: Là học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng là nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng qua nhiều giai đoạn cách mạng. Vừa là nhà lý luận vừa là nhà thực tiễn, có tầm nhìn chiến lược, đồng chí luôn quan tâm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Những đóng góp quan trọng của đồng chí trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để lại bài học trong việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

TS LÊ TRUNG KIÊN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

file3.qdnd.vn-data-images-0-2024-09-28-upload_1021-_chu-tich-hcm.jpg
Đồng chí Phạm Văn Đồng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp tại Chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu

1. Mở đầu

Đồng chí Phạm Văn Đồng, với 97 tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có: 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị (1951-1986), 32 năm là Thủ tướng Chính phủ (1955-1987), 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1986-1997), đồng chí đã cống hiến trọn đời cho Đảng và dân tộc Việt Nam. Đồng chí luôn xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng có tầm quan trọng đặc biệt: “là vấn đề cốt tử của chúng ta hiện nay trong vấn đề rộng lớn về xây dựng Đảng… để từ đó mà thống nhất ý chí, thống nhất hành động trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, trong lực lượng vũ trang, trong tổ chức quần chúng và trong xã hội” (Phạm Văn Đồng, 1988).

Trong bối cảnh toàn Đảng đang tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, việc nghiên cứu quan điểm, tư tưởng và hoạt động thực tiễn của các nhà lãnh đạo tiền bối có ý nghĩa quan trọng. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu, có nhiều đóng góp cả trên phương diện lý luận và thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Đồng chí đã để lại nhiều tác phẩm, bài viết có giá trị lý luận sâu sắc, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng và lý luận, thể hiện sự kiên định theo lý luận mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp. Vì vậy, việc hệ thống hóa những quan điểm của đồng chí về xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần làm rõ thêm giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thời của di sản chính trị mà đồng chí để lại.

2. Nội dung

2.1. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng và lý luận của Đảng

Phát biểu tại Hội nghị công tác lý luận tháng 5/1992, trước những diễn biến của tình hình chính trị thế giới, đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: “Trong bối cảnh đó, giữa lúc có những người cho rằng học thuyết Mác - Lênin đã phá sản và bị chôn vùi, thì học thuyết Mác - Lênin vẫn đang sống sức sống bất diệt của lý luận khoa học và cách mạng, luôn luôn phát triển cùng cuộc sống và tự đổi mới không ngừng” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.796). Đồng chí Phạm Văn Đồng nhận định tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, theo xu thế phát triển đa dạng nhiều chiều, nhiều hệ tư tưởng và nhiều lý luận khác nhau, nhưng đối với Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, với tư tưởng, lý luận và thực tiễn gắn liền trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Trong điều kiện Việt Nam, học thuyết Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo và đưa đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện trong ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác tư tưởng có tầm quan trọng quyết định và được đặt lên hàng đầu. Trước hết là bồi dưỡng tư tưởng mới xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống dân tộc, phê phán và khắc phục những tư tưởng sai lầm, tư tưởng bảo thủ, tư tưởng tư sản, chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, mệnh lệnh và không cho phép những tư tưởng đó tồn tại trong công tác của Đảng. Công tác tư tưởng làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, trên cơ sở đó nâng cao nhiệt tình cách mạng, phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Phát biểu tại Đại hội lần thứ II của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 5/1983), đồng chí Phạm Văn Đồng đánh giá sức mạnh dân tộc “bắt nguồn từ khối đoàn kết toàn dân được vũ trang bằng những tư tưởng lớn của Đảng, từ tưởng bách chiến, bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý, ánh sáng và tinh hoa của thời đại” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.459). Như vậy, đồng chí đã khẳng định lý luận soi đường chỉ lối cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, trong công việc, công tác lý luận, đồng chí đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành, giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận và không ngừng trau dồi, học tập và vận dụng lý luận trong thực tiễn.

Đồng chí khẳng định tầm quan trọng của công tác lý luận đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước và mang lại niềm tin cho nhân dân. Là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta phải tự chỉnh đốn và đổi mới để xứng đáng với sứ mệnh người tiên phong chỉ đường và gương mẫu đi đầu dẫn lối. Đảng phải trang bị cho mình lý luận tiên phong của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và hoạt động trong xu thế đổi mới. Đồng chí khẳng định: “Để thực sự phát triển lý luận và xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận lớn mạnh, trong những phương châm quan trọng mà nghị quyết Bộ Chính trị đã chỉ rõ, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa sự cần thiết thực sự phát huy dân chủ, tự do tư tưởng, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, đi đôi với đoàn kết, hợp tác giúp nhau” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.803). Đó là nền tảng để Đảng và nhân dân ta giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vững vàng và kiên định, độc lập và sáng tạo, tránh ngả nghiêng, dao động, bảo thủ, trì trệ.

Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ, vừa làm vừa mò mẫm, điều này càng đòi hỏi chúng ta phải đi vào thực tế cuộc sống của nhân dân với thái độ cách mạng và đổi mới để tìm tòi, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và từ thực tiễn nâng lên thành lý luận. Đồng chí yêu cầu “toàn thể đảng viên phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng, không ngừng tuyên truyền, giải thích, giáo dục các tầng lớp nhân dân về chủ nghĩa xã hội một cách có hệ thống, có tổ chức, có kế hoạch” (Phạm Văn Đồng, 1959, tr.23). Trên thực tế lãnh đạo, Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, chưa nhìn nhận, đánh giá đúng tình hình, như Đại hội VI đã chỉ ra, dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng. Từ nhận thức đó, Đảng đề ra chủ trương đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy; chấm dứt cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn đổi mới này, Đảng tiếp tục tổng kết bài học, kinh nghiệm để phát triển lý luận của Đảng.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định và luôn kiên định lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định giá trị bền vững của nền tảng tư tưởng của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn cách mạng. Đúng như lời khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười: “Anh Tô là một trong những bậc tiền bối cách mạng của Đảng ta, là người học trò ưu tú của Bác Hồ vĩ đại, và là người kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Võ Đức Huy, 2001, tr.100).

2.2. Xây dựng Đảng về chính trị và phương thức lãnh đạo của Đảng

Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không ngừng phấn đấu để thực hiện và củng cố vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân, coi đó là điều kiện bảo đảm cách mạng đi đến chủ nghĩa xã hội thành công. “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân và của Tổ quốc, luôn luôn hy sinh phấn đấu vì những lợi ích cao quý đó” (Phạm Văn Đồng, 1960, tr.58). Sức mạnh của Đảng là ở chỗ Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân. Đảng phải luôn tiến bộ, không ngừng nâng cao năng lực của Đảng ngang với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đảng viên của Đảng phải là những người ưu tú, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nguyện cống hiến cả đời mình cho lợi ích của nhân dân, vinh quang của Tổ quốc, cho chủ nghĩa cộng sản.

Kể cả khi đã nghỉ công tác, với vai trò cố vấn, đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn luôn quan tâm nghiên cứu, suy nghĩ, trăn trở và có những đóng góp giá trị. Trong thư gửi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Bộ Chính trị ngày 19/3/1988 đồng chí đã nêu ý kiến: Qua nhiều cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, nội bộ Đảng và bộ máy nhà nước được củng cố một bước. Song, đứng trước tình hình mới, Đảng cần chỉnh đốn lại để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, kinh tế - xã hội (Phạm Văn Đồng, 1988).

Từ giữa năm 1989, để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thu thập những ý kiến đóng góp cho các bản dự thảo văn kiện của Đại hội. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những người rất nhiệt tình đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện. Trong thời gian này, mắt của đồng chí rất kém nên không đọc trực tiếp văn kiện, đồng chí thư ký đã đọc cho đồng chí Phạm Văn Đồng nghe những bản dự thảo. Đồng chí vừa nghe, vừa suy nghĩ rồi nhờ thư ký ghi những ý kiến ra giấy thành bản góp ý (Trần Văn Hải, 2007, tr.327-328). Trong thư góp ý bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Trung ương gửi cho đồng chí Nguyễn Thanh Bình (Thường trực Ban Bí thư) ngày 14/5/1991, đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng đây là kiểm điểm của Ban Chấp hành Trung ương, không lẫn với kiểm điểm của Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Đồng chí đề nghị cần làm rõ những ưu điểm, những việc Trung ương chưa làm được, nguyên nhân và cách khắc phục; ưu điểm, khuyết điểm của Ban Bí thư hoặc Bộ Chính trị.

Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng, cán bộ là do dân bầu, việc giới thiệu cán bộ cần thực hiện dân chủ. Ngày 08/12/1990, đồng chí Phạm Văn Đồng gửi thư cho đồng chí Nguyễn Đức Tâm (Trưởng ban Tổ chức Trung ương), nhấn mạnh việc phải thay đổi phương thức lãnh đạo của Đảng. Đồng chí viết: “Mọi người đều biết hiện nay chúng ta đang đứng trước một hiện tượng cực kỳ nguy hiểm: đó là những vụ tiêu cực, các loại tiêu cực đang hoành hành hầu như khắp nơi trên đất nước ta, nhất là trong các cơ quan quản lý phương tiện đảm bảo cuộc sống của nhân dân. Khắp nơi mọi người đều nói công khai rằng những vụ tiêu cực như vậy là tội lỗi của những người có chức, có quyền là phần lớn, nếu không phải là toàn cán bộ, đều là người của Đảng, cán bộ của Đảng ở các ngành, các cấp v.v.. Vậy thì người quản lý công tác đảng phải có thái độ như thế nào trước tình hình này” (Phạm Văn Đồng, 1990). Đồng chí khẳng định người phụ trách công tác tổ chức đảng phải có thái độ nhạy bén và nghiêm khắc đối với cán bộ dính líu vào những vụ việc tiêu cực, phải kiên quyết kỷ luật những cán bộ đó, không để họ tiếp tục đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản.

2.3. Xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thực hiện kiên quyết và đầy đủ nghị quyết của Trung ương và của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và công tác cán bộ nhằm đạt được sự chuyển biến tích cực, thực chất trong đội ngũ cán bộ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí Phạm Văn Đồng xác định: “Bố trí đúng đội ngũ cán bộ chủ chốt, sử dụng tốt để phát huy tiềm lực của đội ngũ cán bộ nói chung. Sắp xếp lại số cán bộ quản lý các cơ sở,… làm cho mỗi đơn vị có một kíp cán bộ cốt cán và một người phụ trách có đủ phẩm chất và năng lực để thực hiện tốt chức năng được giao” (Phạm Văn Đồng, 1985, tr.397). Bộ máy phải gọn, nhẹ mà mạnh mẽ, sắc bén; chế độ tập trung dân chủ phải được tôn trọng; chế độ kỷ luật phải rất nghiêm; phải thực hiện chặt chẽ sự phối hợp hành động giữa các ngành, các cấp.

Trong giai đoạn được cử làm đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ tại địa bàn Nam Trung Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cao cả do Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải quan tâm trước hết việc xây dựng các Đảng bộ, xây dựng lực lượng vũ trang; động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng, tăng cường đoàn kết nhân dân, củng cố và bảo vệ vùng giải phóng, đồng thời kiên trì chiến đấu và quyết tâm đánh thắng kẻ thù trên các mặt trận Nam Trung Bộ” (Trần Văn Hải, 2007). Năm 1947, Trung ương quyết định bổ sung đồng chí Phạm Văn Đồng làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhằm tăng đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và phong trào đấu tranh địa phương. Năm 1948, cùng với Ủy ban kháng chiến hành chính và Ban quân sự Nam Trung Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những hoạt động quan trọng trong việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, xây dựng vùng tự do toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Nhiều lớp cán bộ ngành, các đoàn thể đã được tập trung về Trường Trung học bình dân để bồi dưỡng văn hóa và chính trị. Nhà trường đã cung cấp cho Khu V, cả miền Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào nhiều cán bộ, chuyên gia có năng lực, có phẩm chất; Nhiều người sau này trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Năm 1949, cùng với các đồng chí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ và Chính ủy Bộ Tư lệnh liên khu V, đồng chí Phạm Văn Đồng đã triệu tập và chủ trì Hội nghị chính trị viên toàn Liên khu lần thứ nhất, nhằm đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm về các mặt xây dựng Đảng trong các đơn vị quân đội,… Xác định những nhiệm vụ của Liên khu trong việc xây dựng lực lượng về mọi mặt để cùng toàn quốc chuẩn bị bước sang giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Trong nhiệm vụ quân sự của Nam Trung Bộ năm 1949 đồng chí chỉ rõ: “Giữ vững vùng tự do, xây dựng lực lượng mạnh về mọi mặt. Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ đó, cần phải giải thích sâu rộng nhiệm vụ, phương châm chiến lược, chiến thuật cho tất cả cán bộ và chiến sĩ, phải thúc đẩy cán bộ tiến về chiến thuật, phải xây dựng công tác đảng, công tác chính trị” (Trần Văn Hải, 2007).

Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tại Nam Trung Bộ, tuy không dài nhưng với tầm nhìn chiến lược, đồng chí Phạm Văn Đồng đã xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ trên mọi lĩnh vực, góp phần quan trọng vào việc xây dựng, tổ chức và phát triển cơ sở đảng và lực lượng vũ trang. Dưới dự lãnh đạo của “đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chỉ đạo kháng chiến ở Nam Trung Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có nhiều đóng góp xuất sắc và sáng tạo” (Võ Đức Huy, 2001, tr.66) trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, trong công tác cán bộ, cần phải đặc biệt quan tâm, dìu dắt, giúp đỡ, giáo dục đội ngũ cán bộ và nghiêm khắc xử lý đối với cán bộ sai phạm. Kiện toàn những cơ quan trung ương mà cán bộ còn yếu. Tăng cường cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, kỹ thuật cho các địa phương, đặc biệt là cho huyện và cơ sở. Thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng nhằm “bố trí lại cán bộ, đổi mới cán bộ, đưa cán bộ trẻ, khỏe, có năng lực, có kinh nghiệm, đã từng được thử thách, đáng được tin cậy vào những chức vụ cần những người xứng đáng” (Nguyễn Tiến Năng, 2008, tr.1133). Trách nhiệm chính trị của Đảng là phải bồi dưỡng, giáo dục, huấn luyện cán bộ, đảng viên để họ luôn xứng đáng với sự nghiệp cách mạng.

Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng, cần phải “khen thưởng đối với những người gương mẫu, đồng thời phải trừng phạt thỏa đáng đối với những người có thái độ vô trách nhiệm, những phần tử ngoan cố, những kẻ mà dư luận không dung thứ và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.58). Đồng chí chỉ rõ, đấu tranh chống tệ quan liêu và cửa quyền có những khó khăn, phức tạp, cần phải có quyết tâm, kiên trì đấu tranh, không “đánh trống bỏ dùi”, không làm qua loa. Đồng chí thường trích những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc rèn luyện cán bộ: “Bác Hồ bảo xét cho cùng cái xấu trong con người là danh và lợi. Bao nhiêu thứ bệnh quy về đấy, bao nhiêu tác hại là do đấy”, “Thật khó quá. Nhưng phải tìm mọi cách giữ cho cán bộ, đảng viên, giữ cho con người đừng mắc vào vòng tham danh lợi” (Võ Đức Huy, 2001, tr. 124).

Đối với công tác cán bộ nữ, đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Phải khắc phục mọi thiên kiến hẹp hòi, lạc hậu, mạnh dạn bồi dưỡng và cất nhắc những chị em có năng lực, có phẩm chất và đã qua thử thách vào những cương vị xứng đáng trong bộ máy đảng, nhà nước và các tổ chức quần chúng... phải có những biện pháp cụ thể nhằm đào tạo, bồi dưỡng thiết thực, giúp cho từng người và cả đội ngũ cán bộ nữ dần dần trưởng thành, xứng đáng với vai trò và năng lực của phụ nữ” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.598). Phải chăm lo đào tạo cán bộ nữ, cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ giáo dục, y tế, văn hóa, cán bộ của Hội Phụ nữ. Phải tạo sự bình đẳng giới cho phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản lý. Đối với phụ nữ, đồng chí khích lệ “Ở đâu cũng có phụ nữ, và ở đâu người phụ nữ cũng phải phấn đấu trở thành người chiến sĩ kiên cường của cách mạng xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.330).

2.4. Xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách và mối liên hệ với nhân dân

Đồng chí Phạm Văn Đồng đặc biệt quan tâm việc củng cố mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng chí cho rằng, Đảng lãnh đạo và không đa đảng, điều đó có nghĩa là Đảng phải ngang tầm đòi hỏi của nhân dân, làm cho lòng dân, ý Đảng gặp nhau và hòa hợp làm một; Đảng phải thực hành dân chủ trong nội bộ Đảng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; Đảng phải đoàn kết dân tộc rộng rãi, phát huy nhiệt tình và tài năng của cả cộng đồng và của mỗi người dân Việt Nam.

Theo đồng chí, nếu chúng ta có liên hệ mật thiết với nhân dân thì chắc chắn rằng không có việc gì mà chúng ta không tìm ra cách giải quyết. Đồng chí khẳng định: “mọi cán bộ và đảng viên của Đảng vừa là người động viên, tổ chức, giáo dục nhân dân đấu tranh thực hiện đường lối của Đảng, vừa là người chiến sĩ đi hàng đầu, người lao động gương mẫu cho quần chúng noi theo” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.56). Đồng chí yêu cầu những cán bộ có trách nhiệm quản lý những ngành có liên quan đến đời sống hằng ngày của nhân dân, đến mọi việc ăn, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh,... thì phải ngày đêm suy nghĩ, tìm tòi, cùng tập thể nghiên cứu, cùng quần chúng nhân dân bàn bạc để tìm ra cách tốt nhất phục vụ nhân dân. Ngay kể cả việc phân phối trong cơ quan nhà nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đòi hỏi phải thực hiện công bằng, dù có thiếu mà biết phân phối đúng người đáng được hưởng thì mọi người đều vui lòng và càng hăng hái phấn đấu làm tốt công việc của mình.

Phát biểu tại Đại hội lần thứ V của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng chí khẳng định: “Điều quan trọng nhất là hội phải bám cơ sở, đi sâu vào quần chúng, thực sự hiểu được tâm tư, nguyện vọng và khả năng của chị em, từ đó đề ra chủ trương công tác và hình thức vận động linh hoạt, hợp với quần chúng phụ nữ ở từng ngành, nghề, từng địa phương, từng lứa tuổi khác nhau. Trung ương hội cần căn cứ vào đường lối của Đại hội V của Đảng và kế hoạch của Nhà nước, vạch ra chương trình hành động thiết thực cho cả khóa và từng năm” (Nguyễn Tiến Năng, 2009, tr.333). Phải làm cho quan điểm và chính sách vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt và chấp hành nghiêm chỉnh trong tất cả các tổ chức của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể quần chúng. Phải chỉ đạo chặt chẽ để phát huy chức năng của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từng thời gian, thường vụ cấp ủy cần nghe báo cáo tình hình phụ vận, nhận định về phong trào và đề ra phương hướng hoạt động cho phụ nữ. Các cấp ủy cần có những cuộc họp chuyên đề giải quyết sâu sát từng vấn đề do đời sống đặt ra của công tác phụ vận.

Đồng chí Phạm Văn Đồng yêu cầu “ai nấy trên cương vị và nhiệm vụ của mình đều có phần trách nhiệm, đều phải tự phê bình và ra sức sửa chữa, ở cấp càng cao thì đòi hỏi càng lớn và khẩn trương” (Phạm Văn Đồng, 1985, tr.18). Sự thiếu thốn về kiến thức và kinh nghiệm sản xuất khiến cho việc cụ thể hóa đường lối của Đảng trong các quyết định về quản lý bị chậm trễ, và có khi thiếu chuẩn xác, thiếu nghiêm túc, hiệu lực của kế hoạch và chính sách bị hạn chế. Mỗi cán bộ, đảng viên phải “thống nhất ý chí và hành động, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật, phấn dấu để tiến bộ không ngừng bằng tự phê bình và phê bình, luôn luôn đi sát cơ sở, đi sát quần chúng, tham gia một cách tích cực nhất vào cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại của dân tộc” (Phạm Văn Đồng, 1974, tr.29). Mọi người chúng ta hãy vững bước tiến về phía trước, quyết khắc phục khó khăn và trở ngại, giành cho bằng được những thắng lợi mới, to lớn hơn nữa trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững và củng cố hòa bình, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng, cán bộ, đảng viên phải có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và tính cách người cán bộ sống và làm việc vì lợi ích của cách mạng và của nhân dân, có tấm lòng trong sáng, chí công vô tư. Phẩm chất còn có nghĩa là phong cách tốt đẹp, coi trọng đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng, một lòng phục vụ nhân dân, là “người đày tớ thật trung thành” của nhân dân. Về chế độ và phong cách làm việc, cần “phải nghiêm chỉnh chấp hành bốn chế độ đã ban hành: chế độ trách nhiệm, chế độ kỷ luật lao động, chế độ bảo vệ của công, chế độ phục vụ nhân dân, cụ thể hóa các chế độ đó thành các nội quy công tác” (Phạm Văn Đồng, 1985, tr.398). Cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, gương mẫu, là đầu tàu trong mọi phong trào cách mạng. Phải bỏ lối làm việc đại khái, quan liêu, xa thực tế, khắc phục tác phong làm việc lề mề, làm ăn vô trách nhiệm, xây dựng tác phong khẩn trương, có kỷ luật, là tác phong lớn của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa; rèn luyện tác phong làm việc thiết thực, có tổ chức, có kế hoạch cụ thể, để thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch công tác.

2.5. Tự phê bình, phê bình, kiểm tra, giám sát trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng rất quan tâm việc sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, từ trên xuống dưới. Đồng chí lưu tâm việc tự phê bình và phê bình dễ sa vào hình thức, làm qua loa, không kiên quyết, không có kết quả thiết thực. Phạm vi tự phê bình và phê bình bao quát: tư tưởng, chính trị và đạo đức, lối sống. Từng người cần nêu rõ trọng điểm, nếu không sẽ tràn lan, có khi bỏ cái chính, sa vào cái phụ, thậm chí không gỡ được mà ra, mà lại gây thêm rối.

Đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. “Mỗi một người có trách nhiệm cũng phải tăng cường kiểm tra để có thể, cái gì người nào làm đúng, làm tốt và như vậy thì phải có thái độ khen thưởng, cái gì, người nào làm không đúng, làm không tốt thì ta phải có thái độ,…” (Nguyễn Tiến Năng, 2008, tr.1049).

3. Kết luận

Đồng chí Phạm Văn Đồng là tấm gương sáng về rèn luyện đạo đức, thực hành đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời cống hiến, rất mực liêm khiết, giản dị, khiêm tốn. Đồng chí Trần Việt Phương đã kể lại: “Không bao giờ mấy anh em chúng tôi giúp việc Anh Tô lại thấy Anh đến với nhân dân chỉ với ý thức mình là người lãnh đạo và nhà cầm quyền, mà luôn luôn còn là một người thân gần gũi, một người học trò khiêm tốn học hỏi” (Võ Đức Huy, 2001, tr.119).

Đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những đóng góp trong cả thực tiễn và lý luận mang tầm chiến lược về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là “Người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; người con rất mực trung thành suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế; nhà văn hóa lớn của dân tộc” (Lê Hữu Nghĩa, 2016).

_________________

Ngày nhận bài: 09/02/2026; Ngày bình duyệt: 8/6/2026; Ngày quyết định đăng: 4/9/2026.

Email tác giả: kienlt1511@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Lê Hữu Nghĩa (29/02/2016). Phạm Văn Đồng - nhà chính trị, nhà văn hóa lớn của Đảng và dân tộc. https://nhandan.vn.

Nguyễn Tiến Năng (2008). Phạm Văn Đồng tuyển tập (1966 - 1975). Nxb Chính trị quốc gia.

Nguyễn Tiến Năng (2009). Phạm Văn Đồng tuyển tập (1976 - 2000). Nxb. Chính trị quốc gia.

Phạm Văn Đồng (1959). Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật.

Phạm Văn Đồng (1960). Mười lăm năm nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nxb Sự thật.

Phạm Văn Đồng (1974). Tình hình mới nhiệm vụ mới, Nxb Sự thật.

Phạm Văn Đồng (1985). 40 năm cách mạng thành quả và triển vọng. Nxb Sự thật.

Phạm Văn Đồng (1985). Những chặng đường thắng lợi vẻ vang. Nxb. Sự thật.

Phạm Văn Đồng (1988). Thư gửi đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí trong Bộ Chính trị, ngày 19/3/1988. Tư liệu lưu trữ tại Văn phòng Chính phủ.

Phạm Văn Đồng (1990). Thư gửi đồng chí Nguyễn Đức Tâm, ngày 08/12/1990. Tư liệu lưu tại Văn phòng Chính phủ.

Trần Văn Hải (2007). Phạm Văn Đồng tiểu sử. Nxb Chính trị quốc gia.

Võ Đức Huy, Phan Ngọc Liên (2001). Phạm Văn Đồng - Người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi. Nxb Chính trị quốc gia.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đồng chí Phạm Văn Đồng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng