Thực tiễn

Kết quả giảm nghèo đa chiều và giải pháp thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

16/09/2026 14:12

Tóm tắt: Giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV tiếp tục đặt giảm nghèo trong tổng thể mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân, phát triển con người và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Bài viết đánh giá những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của công tác giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam; đồng thời khái quát những yêu cầu mới đặt ra từ tinh thần Đại hội XIV, trên cơ sở đó, đề xuất 5 nhóm giải pháp thúc đẩy giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam.

ThS NGUYỄN VIẾT DŨNG
Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

danviet.ex-cdn.com-files-f1-296231569849192448-2022-10-5-_mua-gat-8-1664942012808747578961.jpg
Vùng trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước_Ảnh: DT

1. Mở đầu

Giảm nghèo luôn là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước. Qua gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những điểm sáng về thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs). Tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, hệ thống chính sách an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện, góp phần bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, công tác giảm nghèo đang đứng trước nhiều yêu cầu và thách thức mới. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm, song nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu, nhất là tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa và khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhóm dân cư còn khá lớn; chất lượng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đồng đều; sinh kế của một bộ phận người dân còn thiếu tính bền vững, trong khi những tác động của già hóa dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các biến động kinh tế toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với chính sách giảm nghèo.

Trong bối cảnh đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy về giảm nghèo theo hướng toàn diện, hiện đại và bền vững hơn. Việc nghiên cứu, làm rõ những điểm mới trong tư duy giảm nghèo đa chiều của Đại hội XIV, đồng thời đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay để đề xuất các giải pháp phù hợp có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Điều này không chỉ góp phần cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các định hướng chính sách khả thi mà còn tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, phát triển bền vững và bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước.

2. Nội dung

2.1. Kết quả giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam

Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng về giảm nghèo bền vững, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 (Quốc hội, 2021; Thủ tướng Chính phủ, 2022), công tác giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển bao trùm. Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 đã tạo cơ sở để chuyển từ cách tiếp cận giảm nghèo đơn thuần dựa trên thu nhập sang giảm nghèo gắn với bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, qua đó phản ánh đầy đủ hơn chất lượng cuộc sống của người dân (Chính phủ, 2021).

Bảng 1. Một số chỉ tiêu phản ánh thực trạng giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam

Chỉ tiêu
2022
2023
2024
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (%)
4,3
3,4
2,3
Thu nhập bình quân đầu người/tháng (triệu đồng)
4,67
4,96
5,40
Vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất
Trung du và miền núi phía Bắc (12,1%)
Trung du và miền núi phía Bắc (10,7%)
Trung du và miền núi phía Bắc (7,8%)
Vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất
Đông Nam Bộ (0,7%)
Đông Nam Bộ (0,3%)
Đông Nam Bộ (0,2%)

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, 2023, 2024 và Cục Thống kê, 2025.

Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của cả nước giảm liên tục từ 4,3% năm 2022, xuống còn 3,4% năm 2023, và 2,3% năm 2024, cho thấy xu hướng giảm nghèo được duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Đây là minh chứng cho hiệu quả của việc triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo, từ hỗ trợ tín dụng ưu đãi, phát triển sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm đến hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 4,67 triệu đồng/tháng năm 2022, lên 5,40 triệu đồng/tháng năm 2024. Sự gia tăng thu nhập đã tạo điều kiện cải thiện đời sống và nâng cao khả năng đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân. Tuy nhiên, sự cải thiện về thu nhập bình quân chưa đồng nghĩa với việc mọi nhóm dân cư đều có khả năng thoát nghèo một cách bền vững, nhất là những hộ có sinh kế thiếu ổn định và khả năng chống chịu thấp trước các cú sốc.

Xét theo vùng, khoảng cách giảm nghèo có xu hướng thu hẹp nhưng vẫn còn đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở trung du và miền núi phía Bắc cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước, mặc dù đã giảm khá mạnh từ 12,1% năm 2022 xuống còn 7,8% năm 2024. Vùng Đông Nam Bộ giảm từ 0,7% xuống 0,2%. Sự khác biệt này cho thấy nghèo đa chiều ngày càng có xu hướng tập trung ở những địa bàn có điều kiện phát triển khó khăn, đặt ra yêu cầu thực hiện giảm nghèo có trọng tâm, trọng điểm hơn trong giai đoạn tới.

Bên cạnh đó, việc triển khai chuẩn nghèo đa chiều đã góp phần thúc đẩy sự chuyển biến trong tư duy và phương thức thực hiện chính sách giảm nghèo. Thay vì chỉ tập trung hỗ trợ thu nhập, các chính sách ngày càng chú trọng nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, phát triển sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho người nghèo. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân và tạo tiền đề thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Nhìn chung, giai đoạn 2022-2024 ghi nhận nhiều kết quả tích cực của công tác giảm nghèo đa chiều trên cả ba phương diện: (i) tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tiếp tục giảm; (ii) thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện; (iii) cách tiếp cận giảm nghèo đa chiều từng bước được triển khai đồng bộ, gắn với bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương giảm nghèo đa chiều của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo nền tảng quan trọng để tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm trong giai đoạn mới.

2.2. Những hạn chế trong giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam còn một số hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và tính bền vững của quá trình giảm nghèo trong bối cảnh phát triển mới là:

Một là, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo và phát sinh nghèo mới còn hiện hữu. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm khá nhanh trong những năm gần đây, song thu nhập của một bộ phận hộ nghèo và cận nghèo vẫn ở mức thấp, nguồn sinh kế còn thiếu ổn định và khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế - xã hội còn hạn chế. Khi chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, biến động giá cả hoặc mất việc làm, nhiều hộ gia đình có nguy cơ tái nghèo hoặc rơi vào tình trạng nghèo mới. Điều này cho thấy kết quả giảm nghèo ở một số địa phương vẫn chưa thật sự vững chắc và chưa tạo được nền tảng sinh kế ổn định cho người dân.

Hai là, khoảng cách giảm nghèo giữa các vùng, miền và nhóm dân cư còn lớn. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đều giảm ở tất cả các vùng, song mức độ cải thiện chưa đồng đều. Vùng trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là những khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản tiếp tục tạo ra khoảng cách trong cơ hội phát triển giữa các vùng và các nhóm dân cư.

Ba là, chất lượng phát triển sinh kế và tạo việc làm cho người nghèo chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế chưa cao và thiếu tính liên kết với thị trường. Việc chuyển dịch cơ cấu việc làm còn chậm; đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp và kết nối việc làm chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, việc lồng ghép các yêu cầu về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo vào các chương trình phát triển sinh kế còn hạn chế, dẫn đến khả năng tạo thu nhập ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh của người nghèo chưa cao.

Bốn là, cơ chế và phương thức thực hiện chính sách giảm nghèo vẫn còn những bất cập. Ở một số địa phương, việc triển khai chính sách vẫn thiên về hỗ trợ trực tiếp, trong khi các giải pháp phát huy năng lực nội sinh, tạo động lực tự vươn lên và trao quyền cho người nghèo chưa được quan tâm đúng mức. Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện có nơi chưa thật sự đồng bộ; việc lồng ghép nguồn lực, theo dõi, giám sát và đánh giá hiệu quả chương trình còn hạn chế. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu, theo dõi đối tượng thụ hưởng và đánh giá kết quả giảm nghèo chưa được triển khai đồng đều, ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị và phân bổ nguồn lực.

2.3. Nguyên nhân của hạn chế

Về nguyên nhân khách quan, bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế có nhiều biến động đã làm gia tăng những rủi ro đối với công tác giảm nghèo. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, suy giảm kinh tế toàn cầu và biến động của thị trường lao động đã ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và sinh kế của người dân, đặc biệt là nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó, điều kiện phát triển giữa các vùng, miền còn có sự chênh lệch lớn. Các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kết cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường, khiến việc tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân gặp nhiều trở ngại.

Về nguyên nhân chủ quan, trước hết, tư duy và phương thức thực hiện chính sách ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu chuyển từ hỗ trợ giảm nghèo sang kiến tạo năng lực phát triển. Việc lồng ghép giữa các chương trình, chính sách và nguồn lực còn hạn chế; phân công, phối hợp giữa các cấp, các ngành có nơi chưa thật sự hiệu quả. Chính sách phát triển sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm chưa gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu thị trường và chuỗi giá trị; việc ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn chậm.

Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò chủ thể, ý chí tự lực và năng lực nội sinh của người dân chưa được coi trọng đúng mức trong một số chương trình giảm nghèo. Cơ chế theo dõi, đánh giá còn thiên về kết quả đầu vào và mức độ hoàn thành chương trình, chưa chú trọng đầy đủ đến chất lượng và tính bền vững của quá trình thoát nghèo. Hệ thống dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, nhận diện nguy cơ tái nghèo và phân bổ nguồn lực chưa đồng bộ. Những hạn chế này cho thấy yêu cầu đổi mới công tác giảm nghèo trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc tăng thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là đổi mới cách thức phân bổ, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả các nguồn lực.

2.4. Thúc đẩy giảm nghèo đa chiều theo tinh thần Đại hội XIV

Đại hội XIV đặt vấn đề giảm nghèo trong một chỉnh thể rộng hơn của phát triển con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Đại hội xác định mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều bình quân từ 1-1,5 điểm phần trăm/năm và phấn đấu đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo (ĐCSVN, 2026, tr.85, 109). Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng hơn không chỉ nằm ở chỉ tiêu giảm nghèo, mà ở sự chuyển biến trong cách tiếp cận: từ giải quyết tình trạng nghèo sang nâng cao chất lượng sống và bảo đảm an sinh bền vững; từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo việc làm, sinh kế và phát huy ý chí tự lực, tự cường; từ thực hiện chính sách theo từng chương trình riêng lẻ sang quản trị phát triển xã hội theo hướng toàn diện, bao trùm, phân cấp và hiện đại.

Tinh thần đó đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện kết quả giảm nghèo của Việt Nam tuy tích cực nhưng chưa thật sự đồng đều và vững chắc; khoảng cách giữa các vùng còn lớn, chất lượng sinh kế của một bộ phận người dân còn thấp, nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách chưa đồng đều. Vì vậy, giảm nghèo đa chiều trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận không chỉ như một chính sách an sinh, mà là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển con người và phát triển bền vững. Trên tinh thần đó, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đổi mới mục tiêu giảm nghèo theo hướng nâng cao chất lượng sống và bảo đảm tính bền vững của quá trình thoát nghèo

Mục tiêu “cơ bản không còn hộ nghèo” vào năm 2030 cần được hiểu là tạo lập những điều kiện để người dân có khả năng duy trì mức sống và chủ động ứng phó với các rủi ro. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều phù hợp với trình độ phát triển, cần quan tâm đến hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, có nguy cơ rơi vào tình trạng nghèo. Trọng tâm chuyển từ hỗ trợ khắc phục thiếu hụt trước mắt sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro, bảo đảm thu nhập, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đây chính là yêu cầu của một hệ thống an sinh xã hội “đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân” mà Văn kiện Đại hội XIV xác định (ĐCSVN, 2026, tr. 108-109).

Thứ hai, lấy phát triển sinh kế và việc làm có chất lượng làm nền tảng của giảm nghèo bền vững, gắn với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số

Nội dung cốt lõi của giảm nghèo bền vững không chỉ là tạo thêm nguồn thu nhập mà là nâng cao chất lượng, năng suất và tính ổn định của sinh kế. Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số (ĐCSVN, 2026, tr. 93); đồng thời chú trọng tạo việc làm có thu nhập ổn định, với mức tiền lương đủ sống (ĐCSVN, 2026, tr. 110). Do đó, chính sách giảm nghèo cần chuyển từ hỗ trợ sản xuất nhỏ lẻ sang hỗ trợ người dân tham gia chuỗi giá trị, liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường; phát triển kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với người nghèo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới mà phải trở thành cơ hội mở rộng sinh kế và nâng cao thu nhập, tránh để quá trình chuyển đổi tạo thêm những dạng thức bất bình đẳng và nghèo mới.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy vai trò chủ thể và năng lực tự vươn lên của người dân

Đại hội XIV yêu cầu phát huy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững (ĐCSVN, 2026, tr. 124). Nhà nước giữ vai trò kiến tạo điều kiện, bảo đảm cơ hội tiếp cận vốn, đất đai, giáo dục, đào tạo nghề, công nghệ và thị trường; người dân phải thực sự trở thành chủ thể lựa chọn và tổ chức sinh kế phù hợp. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần chú trọng hơn đến đầu tư cho năng lực, kỹ năng và khả năng tự phát triển, qua đó biến nguồn lực hỗ trợ bên ngoài thành năng lực phát triển nội sinh của hộ gia đình và cộng đồng.

Thứ tư, thực hiện giảm nghèo có trọng tâm, trọng điểm, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và bảo đảm tiếp cận thực chất các dịch vụ xã hội cơ bản

Giảm nghèo đa chiều đòi hỏi phải xử lý đồng thời cả thiếu hụt về thu nhập và thiếu hụt về điều kiện phát triển con người. Trong khi đó, tình trạng nghèo hiện nay tập trung ở những địa bàn có điều kiện phát triển khó khăn, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, bình đẳng trong chính sách giảm nghèo không đồng nghĩa với phân bổ nguồn lực bình quân, mà đòi hỏi ưu tiên nhiều hơn cho những địa bàn và nhóm dân cư có mức độ thiếu hụt lớn hơn. Cần tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và hạ tầng số; đồng thời gắn đầu tư hạ tầng với phát triển sản xuất, việc làm và nguồn nhân lực. Điều này được nhấn mạnh tại Đại hội XIV khi yêu cầu về bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng (ĐCSVN, 2026, tr.108-109).

Thứ năm, đổi mới quản trị giảm nghèo theo hướng phân cấp thực chất, tích hợp nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình

Hiệu quả giảm nghèo trong giai đoạn tới phụ thuộc không chỉ vào quy mô nguồn lực mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng quản trị. Đại hội XIV chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời gắn phân cấp với nguồn lực, năng lực thực hiện và kiểm tra, giám sát (ĐCSVN, 2026, tr.127-129). Trong công tác giảm nghèo, phân cấp không đơn thuần là chuyển nhiệm vụ từ trung ương xuống địa phương, mà đồng thời chuyển thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm đối với kết quả cuối cùng. Trung ương tập trung xây dựng chuẩn mực, mục tiêu và cơ chế giám sát; địa phương chủ động lựa chọn mô hình, đối tượng ưu tiên và cách thức tổ chức phù hợp với đặc điểm địa bàn.

Cùng với đó, cần khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực giữa các chương trình, tăng cường lồng ghép chính sách giảm nghèo với chính sách việc làm, giáo dục, y tế, dân tộc, nông thôn mới và an sinh xã hội. Chuyển đổi số cần được sử dụng như một công cụ nâng cao năng lực quản trị, liên thông dữ liệu và theo dõi biến động của các nhóm dễ bị tổn thương, qua đó chuyển từ quản lý hộ nghèo theo danh sách tương đối tĩnh sang quản lý quá trình nghèo, thoát nghèo và nguy cơ tái nghèo một cách chủ động hơn.

Như vậy, theo tinh thần Đại hội XIV, giảm nghèo đa chiều trong giai đoạn mới cần có sự chuyển biến căn bản từ giảm nghèo về số lượng sang nâng cao chất lượng và tính bền vững của thoát nghèo; từ hỗ trợ sang kiến tạo năng lực phát triển; từ chính sách tương đối đồng nhất sang chính sách phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng; và từ quản lý chương trình sang quản trị phát triển xã hội hiện đại, bao trùm và hiệu quả. Đây là những chuyển biến có ý nghĩa quyết định để thành quả giảm nghèo trở thành nền tảng thực chất cho phát triển con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong giai đoạn phát triển mới.

3. Kết luận

Giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, thể hiện ở sự giảm nhanh của tỷ lệ hộ nghèo, cải thiện thu nhập và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, yêu cầu của giai đoạn phát triển mới không chỉ là tiếp tục giảm số lượng hộ nghèo mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng và tính bền vững của quá trình thoát nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và hạn chế nguy cơ tái nghèo.

Tinh thần Đại hội XIV cho thấy giảm nghèo cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Theo đó, chính sách giảm nghèo cần chuyển mạnh từ hỗ trợ khắc phục thiếu hụt sang kiến tạo năng lực và cơ hội phát triển; lấy việc làm, sinh kế có chất lượng và năng lực tự vươn lên của người dân làm nền tảng; đồng thời bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và nâng cao hiệu quả quản trị. Sự kết hợp hài hòa giữa vai trò kiến tạo của Nhà nước, tính chủ động của địa phương và năng lực nội sinh của người dân là điều kiện quan trọng để thành quả giảm nghèo được củng cố bền vững, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Ngày nhận: 13/8/2026; Ngày bình duyệt: 10/9/2026; Ngày quyết định đăng: 15/9/2026.

Email tác giả: dungnv.hcma@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Chính phủ (2021). Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.

Cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí về kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2024. nso.gov.vn.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Quốc hội (2021). Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.

Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.

Tổng cục Thống kê (2023). Thông cáo báo chí Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2022. nso.gov.vn.

Tổng cục Thống kê (2024). Thông cáo báo chí Kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2023. nso.gov.vn.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Kết quả giảm nghèo đa chiều và giải pháp thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng