Diễn đàn

Lực lượng sản xuất mới và yêu cầu đặt ra đối với công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn mới

22/01/2026 09:15

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5811
Tóm tắt: Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của mỗi quốc gia sẽ lựa chọn các nhân tố chiến lược để đột phá, phát triển lực lượng sản xuất, để tạo ra những thay đổi lớn lao trong phát triển đất nước. Bài viết nghiên cứu xu hướng và dự báo phát triển của lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới trên thế giới dựa trên khoa học - công nghệ; từ đó, nhận diện xu hướng, đặc trưng và những yêu cầu bảo đảm phát triển lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới của nước ta, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trong văn kiện Đại hội XIV đề ra.

TS TẠ QUANG TUẤN
Tạp chí Lý luận chính trị
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trong công cuộc phát triển đất nước, lực lượng sản xuất là yếu tố hạt nhân, là động lực, là nền tảng, là then chốt_Ảnh: TCCS

1. Mở đầu

Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, tạo nền tảng vững chắc để bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đặt ra yêu cầu mới về chiến lược và giải pháp phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt là tình hình thế giới phát triển rất nhanh trong sự bất định, đòi hỏi mỗi quốc gia phải lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp. Vì vậy, việc dự báo chính xác các xu hướng, cơ hội phát triển, những yêu cầu đối với công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn mới cần tiếp cận một cách khoa học, phù hợp.

Trong công cuộc phát triển đất nước, lực lượng sản xuất là yếu tố hạt nhân, là động lực, là nền tảng, là then chốt. Theo quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất phát triển cần có quan hệ sản xuất phù hợp. Giải quyết mối quan hệ phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất sẽ tạo ra động lực cốt lõi để vận hành và phát triển đất nước.

Bài viết nghiên cứu xu hướng và dự báo phát triển của lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới trên thế giới dựa trên khoa học - công nghệ; từ đó, nhận diện xu hướng, đặc trưng và những yêu cầu bảo đảm phát triển lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới của nước ta, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trong văn kiện Đại hội XIV.

2. Nội dung

2.1. Xu hướng phát triển lực lượng sản xuất mới trên thế giới

Quan niệm về lực lượng sản xuất mới

Các quốc gia luôn tìm kiến chiến lược phát triển dựa trên thay đổi lực lượng sản xuất. Đặc biêt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở ra cơ hội cho mọi quốc gia để phát triển lực lượng sản xuất. Tùy thuộc vào bối cảnh và đặc trưng của mỗi quốc gia mà lựa chọn các nhân tố chiến lược để đột phá, phát triển lực lượng sản xuất cả về lượng mà cả về chất, để tạo ra những thay đổi lớn trong phát triển.

Tại Việt Nam, khái niệm “lực lượng sản xuất mới” được đề cập trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII (ngày 20 - 9 - 2024) của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; đã nêu các phương hướng, giải pháp chiến lược phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Tập trung phát triển lực lượng sản xuất mới (kết hợp giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với tư liệu sản xuất mới, hạ tầng chiến lược về giao thông, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) gắn với hoàn thiện quan hệ sản xuất”(1).

Giải quyết mối quan hệ phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất sẽ tạo ra động lực cốt lõi để vận hành và phát triển đất nước.

Quan điểm, mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới nêu trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đã nhận định: “Lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo phát triển đột phá chưa từng có”(2), và “xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới”(3).

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu lý luận về phát triển lực lượng sản xuất mới như tại Trung Quốc, Tổng Bí thư Tập Cận Bình trong buổi học tập tập thể lần thứ 11 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ngày 05 - 3 - 2024) đã đề cập đến khái niệm “Lực lượng sản xuất chất lượng mới” trong bài viết “Phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới là yêu cầu nội tại và điểm trọng yếu để thúc đẩy phát triển chất lượng cao”, khẳng định quan điểm “phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới là yêu cầu nội tại và là điểm đột phá quan trọng để thúc đẩy phát triển chất lượng cao”(4).

Một số nghiên cứu đã tiếp tục làm rõ định hướng lý luận này tại Trung Quốc. Nghiên cứu của Trần Huệ Linh và Tào Văn Chiêu về “Những đóng góp mang tính sáng tạo trong các luận điểm quan trọng của Tập Cận Bình về phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới”, khẳng định: Lực lượng sản xuất chất lượng mới là loại lực lượng sản xuất tiên tiến, được dẫn dắt bởi tư duy và quan niệm phát triển dựa trên đổi mới, mang các đặc trưng “công nghệ cao, hiệu năng cao, chất lượng cao”, hướng tới mục tiêu nâng cao và tối ưu hóa toàn diện trình độ lực lượng sản xuất(5). Nghiên cứu của Tôn Tình, Hoàng Triết Di khẳng định: “Đẩy nhanh phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thời đại mới nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế chất lượng cao của Trung Quốc, xây dựng lợi thế cạnh tranh mới và giành thế chủ động trong phát triển”(6).

Theo đó, bản chất của “Lực lượng sản xuất chất lượng mới” được hình thành trên nền tảng của lực lượng sản xuất truyền thống, nhưng được thúc đẩy, đột phá bởi ba yếu tố: Công nghệ đột phá, sự tích hợp đổi mới các yếu tố sản xuất; sự chuyển đổi, nâng cấp sâu sắc của các ngành công nghiệp trong bối cảnh số hóa, trí tuệ hóa và công nghệ hóa. Hạt nhân của lực lượng sản xuất chất lượng mới nằm ở sự thay đổi về chất trong tổ hợp tối ưu giữa người lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Về con đường hiện thực, cần lấy đổi mới khoa học - công nghệ làm động lực cốt lõi, đẩy mạnh cải cách thể chế, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu của lực lượng sản xuất chất lượng mới, xây dựng hệ thống công nghiệp hiện đại và thúc đẩy phát triển kinh tế chất lượng cao(7).

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế: “xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học công nghệ là trọng tâm để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống”(8). Điều này tiếp tục khẳng định khoa học - công nghệ là động lực trọng tâm cho phát triển lực lượng sản xuất và tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới.

Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho thấy rằng cả ba yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đã có những biến đổi về chất. Cụ thể: (1) Người lao động: chuyển từ lao động cơ học sang lao động sáng tạo, tri thức và kỹ thuật cao; (2) Tư liệu lao động: được thay thế bằng công nghệ kỹ thuật số, robot, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây..; (3) Đối tượng lao động: ngày càng mở rộng sang thông tin, dữ liệu, sinh học, năng lượng sạch…

Tuy nhiên, nếu chỉ một yếu tố có thay đổi về chất thì không thể phát triển lực lượng sản xuất mới, mà cần thay đổi cả ba yếu tố dựa trên sự tích hợp, cộng hưởng tối ưu mới tạo ra sự phát triển về chất cho lực lượng sản xuất. Sự khác biệt giữa lực lượng sản xuất truyền thống và lực lượng sản xuất mới chính là “khoa học - công nghệ” đã thẩm thấu và gắn chặt với chất lượng của từng yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Ngay cả yếu tố “Đối tượng lao động” cũng đã được “công nghệ hóa, số hóa…” mà không còn dưới dạng nguyên liệu tự nhiên như trong sản xuất truyền thống.

Như vậy, xét cho cùng thì khoa học - công nghệ mới trở thành hạt nhân xuyên suốt, nền tảng, tích hợp và hội tụ ba yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất mới. Khoa học - công nghệ vừa là chìa khóa, vừa là động lực cốt lõi để phát triển lực lượng sản xuất mới.

Xu hướng khoa học - công nghệ hội tụ sẽ là nền tảng, cốt lõi cho phát triển lực lượng sản xuất mới trên thế giới

Có nhiều quan điểm, cách tiếp cận để phân loại các ngành khoa học - công nghệ làm nền tảng, cốt lõi cho phát triển lực lượng sản xuất mới. Điều này một phần phụ thuộc vào bối cảnh, đặc trưng và định hướng phát triển của mỗi quốc gia. Theo nghiên cứu của Tôn Tình và Hoàng Triết Di, Trung Quốc đang thúc đẩy toàn diện cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mới, tập trung vào các công nghệ cốt lõi, gồm kỹ thuật số, năng lượng sạch, công nghệ carbon thấp và vật liệu mới, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các công nghệ trọng điểm mang tính chiến lược và tương lai(9).

Các nghiên cứu của Hanchen Wang và cộng sự, đăng tải trên Tạp chí Nature, cũng chỉ ra rằng, trong hai thập kỷ tới, thế giới sẽ chứng kiến sự hội tụ mạnh mẽ giữa công nghệ số và công nghệ lượng tử, mở ra thời kỳ chuyển đổi khoa học và công nghệ sâu rộng. Công nghệ số, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và điện toán đám mây sẽ tiếp tục mở rộng khả năng tự động hóa, tối ưu hóa ra quyết định và hỗ trợ sáng tạo khoa học(10). Đồng thời, nghiên cứu của Herman, D., và cộng sự chỉ ra rằng công nghệ lượng tử, với khả năng xử lý thông tin ở cấp độ nguyên tử, sẽ tạo ra đột phá trong mô phỏng vật liệu, cảm biến siêu nhạy và tính toán phức tạp, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, y học và tài chính(11).

Các nghiên cứu của Peral-García, D., Cruz-Benito, J., & García-Peñalvo, F. J. dự báo rằng, trong giai đoạn 2025 - 2045, công nghệ lượng tử sẽ bước từ giai đoạn máy tính lượng tử trung gian (Noisy Intermediate - Scale Quantum - viết tắt là NISQ) sang giai đoạn có thể chạy các thuật toán phức tạp quy mô lớn, vượt xa năng lực máy tính cổ điển (Fault - Tolerant Quantum Computing - viết tắt là FTQC)(12). Clinton, L. và cộng sự cho rằng, sự phát triển song hành giữa AI và Quantum sẽ hình thành lớp ứng dụng lai (hybrid AI - Quantum), giúp tăng tốc khám phá khoa học, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm phát thải(13). Bên cạnh đó, Bolón-Canedo, V., Alonso-Betanzos, A., & García, M. khẳng định xu hướng “Trí tuệ nhân tạo xanh - Green AI” sẽ trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm tính bền vững của hạ tầng tính toán và môi trường(14).

Công nghệ số và công nghệ lượng tử sẽ cùng tạo nên một cuộc cách mạng kép và hội tụ công nghệ. Trong khi công nghệ số tiếp tục mở rộng với trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và dữ liệu lớn, giúp thế giới kết nối và tự động hóa sâu rộng hơn, thì công nghệ lượng tử sẽ mang lại bước nhảy vọt về sức mạnh tính toán, bảo mật và năng lượng, mở đường cho các phát minh chưa từng có trong khoa học nói chung, y học và môi trường nói riêng. Sự hội tụ giữa công nghệ số và lượng tử sẽ định hình nền văn minh trí tuệ, bao gồm trí tuệ tự nhiên và nhân tạo. Như vậy, nền văn minh trí tuệ vượt giới hạn của trí tuệ tự nhiên con người, còn được gọi là “trí tuệ nhân tạo tổng hợp”. Trí tuệ nhân tạo tổng hợp này sẽ tạo ra thế hệ tương lai của AI, còn gọi là AGI (Artificial General Intelligence) có khả năng tự sáng tạo trong quá trình tương tác với con người và hệ sinh thái của nó.

Như vậy, tương lai khoa học - công nghệ trong 20 năm tới có thể được định hình bởi ba trụ cột cốt lõi: (1) trí tuệ nhân tạo tổng hợp; (2) thương mại điện toán lượng tử; (3) năng lượng và vật liệu mới. Sự hội tụ giữa các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi này và các công nghệ khác sẽ đưa nhân loại tiến gần hơn đến nền văn minh trí tuệ.

Xu hướng khoa học - công nghệ hội tụ trên sẽ là nền tảng, cốt lõi cho phát triển lực lượng sản xuất mới trên thế giới; từ đó tất yếu sẽ tác động và yêu cầu thay đổi quan hệ sản xuất phù hợp trong phương thức sản xuất của thế giới hiện đại.

2.2. Xu hướng phát triển của quan hệ sản xuất mới trên thế giới

Trong triết học Mác, “Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” khẳng định quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ trở nên lạc hậu, kìm hãm; mâu thuẫn giữa hai mặt này tất yếu dẫn đến việc cải biến quan hệ sản xuất cũ và xác lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, phù hợp hơn với yêu cầu khách quan của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển mới, tạo ra thay đổi về chất, tất yếu sẽ tác động, tạo ra quan hệ sản xuất mới. Ngược lại, quan hệ sản xuất mới sẽ tác động và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tiến bộ hơn. Quy luật này tiếp tục được vận dụng sáng tạo, phù hợp trong giai đoạn phát triển của thế giới hiện đại.

Quan hệ sản xuất được cấu thành bởi ba yếu tố: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm; trong đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là yếu tố quyết định vì nó xác định ai kiểm soát tư liệu, nắm quyền phân phối sản phẩm và phân định vị trí xã hội của các chủ thể liên quan trong quá trình sản xuất. Quyền sở hữu tư liệu sản xuất quyết định cách tổ chức lao động, kỷ luật sản xuất và nguyên tắc phân chia lợi ích, nên mọi biến đổi cơ bản của quan hệ sản xuất thường khởi nguồn từ thay đổi sở hữu.

Trước khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện, lực lượng sản xuất truyền thống vận hành chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động và tư liệu sản xuất hữu hình, hàm lượng khoa học - công nghệ tham gia vào quá trình sản xuất còn ở mức độ nhất định. Trong lực lượng sản xuất mới, khoa học - công nghệ trở thành nhân tố trung tâm tạo ra giá trị sản xuất. Sự chuyển dịch này làm thay đổi sâu sắc bản chất của sở hữu trong quan hệ sản xuất: thay vì sở hữu đất đai, mỏ khoáng sản hay nhà xưởng...thì chủ thể sở hữu khoa học - công nghệ hiện đại nắm quyền kiểm soát, chi phối tư liệu sản xuất. Hệ quả tất yếu là cấu trúc quyền lực sở hữu về tư liệu sản xuất có xu hướng trao quyền cho các chủ thể sở hữu khoa học - công nghệ, trong khi những chủ thể sở hữu tài nguyên thiên nhiên trong phương thức sản xuất truyền thống sẽ mất dần quyền sở hữu về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn về quyền sở hữu tư liệu sản xuất hiện đại không còn xoay quanh sở hữu vật chất tự nhiên mà tập trung vào quyền kiểm soát và chi phối khoa học - công nghệ trong quá trình sản xuất. Vì vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất mới, gắn với việc nắm giữ và làm chủ khoa học - công nghệ mới trong sản xuất kéo theo thay đổi về quyền sở hữu, cơ cấu lại quyền sở hữu về kinh tế giữa các chủ thể tham gia quá trình sản xuất. Điều này là cơ sở để hình thành và tái cấu trúc toàn bộ hệ thống sở hữu kinh tế, các yếu tố liên quan và phân tầng trong xã hội hiện đại.

Trong xã hội hiện đại, chủ thể nắm giữ khoa học - công nghệ chính là “lực lượng lao động có tri thức”, bởi họ chính là chủ thể nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới, sáng tạo ra khoa học - công nghệ tiên tiến và hiện đại. Một số tỷ phú hàng đầu thế giới khởi nghiệp từ sáng tạo khoa học - công nghệ, trở thành chủ sở hữu tư liệu sản xuất hiện đại và có quyền lực kinh tế, ảnh hưởng đối với xã hội. Không chỉ tạo ra những công ty có giá trị hàng chục, hàng trăm tỷ USD, AI đang định hình lại bản đồ tài sản toàn cầu, với của cải tập trung vào dữ liệu, hạ tầng và các nền tảng trí tuệ nhân tạo cốt lõi(15). Chủ sở hữu các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Microsoft, Google, SpaceX, Tesla, OpenAI, NVIDIA…đang chi phối và vận hành xã hội hiện đại, mà thiếu các công nghệ này sẽ gây tắc nghẽn, đứt gãy nhịp sống toàn cầu. Chính phủ các nước trên thế giới đều mong muốn được sở hữu, vận hành các công nghệ hiện đại để quản trị quốc gia, vì vậy, đã hình thành và tạo ra quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chính phủ và các chủ sở hữu tập đoàn công nghệ này trên trường quốc tế. Đồng thời, những tập đoàn công nghệ này có ảnh hưởng, chia sẻ quyền lực quản trị xã hội đối với các chính phủ...Như vậy, tầng lớp lao động có tri thức đang trở thành lực lượng sở hữu tư liệu sản xuất trong hiện tại và trong tương lai.

Tri thức của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển dựa trên di truyền, môi trường gia đình và giáo dục xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, lợi thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số mạnh mẽ và phát triển của AI trên toàn cầu sẽ gia tăng cơ hội phát triển tri thức dành cho mọi cá nhân ở mọi tầng lớp xã hội. Do vậy, trong tương lai sẽ xuất hiện đông đảo lao động có tri thức trở thành lực lượng lao động chủ yếu để dẫn đến những thay đổi căn bản về cơ cấu lao động. Tầng lớp lao động có tri thức đến từ các giai cấp, tầng lớp lao động khác nhau như công nhân, tri thức, nông dân...và hình thành nhóm, tầng lớp mới, nắm giữ khoa học - công nghệ. Điều này tất yếu tác động đến phân tầng xã hội cũng như tái cấu trúc quyền sở hữu về tư liệu sản xuất.

Sự phát triển lực lượng sản xuất mới sẽ làm thay đổi quan hệ sản xuất, thay đổi cấu trúc về quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thay đổi cấu trúc về quyền lực kinh tế trong xã hội. Theo lý luận và logic của triết học Mác, quyền lực kinh tế sẽ tác động, ảnh hưởng, định hình và chi phối các quyền lực khác trong xã hội. Khi khoa học - công nghệ trở thành tư liệu sản xuất quan trọng, những người kiểm soát và sở hữu khoa học - công nghệ tất yếu xác lập vị thế quyền lực kinh tế và chính trị trong xã hội.

Thực tiễn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, xu hướng thay đổi quan hệ sản xuất này diễn ra khá rõ rệt. Nhiều kỹ sư, chuyên gia phần mềm, nhà thiết kế hệ thống hay nhà nghiên cứu, công nghệ, công nhân kỹ thuật cao không chỉ là người làm thuê, mà được doanh nghiệp thừa nhận giá trị sáng tạo khoa học - công nghệ và được trao quyền tham gia cổ phần, giữ vị trí đồng sáng lập hoặc trở thành đồng sở hữu doanh nghiệp. Ví dụ phổ biến trong lĩnh vực công nghệ số là mô hình “chia sẻ cổ phần cho nhân viên có đóng góp trí tuệ” (Employment Stock Ownership Plan - ESOP), qua đó nhiều kỹ sư và nhà phát triển công nghệ trở thành những người sở hữu của doanh nghiệp. Như vậy, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đã chuyển từ tài sản vật chất sang tài sản trí tuệ, khoa học - công nghệ; quyền lực xã hội đã hình thành và đi theo sự chuyển dịch đó.

Ở cấp độ quốc gia, vị thế của lực lượng lao động có tri thức được nâng cao, thể hiện rõ ở việc nhiều chuyên gia khoa học - công nghệ tham gia hoạch định chính sách, giữ vị trí quan trọng trong quản trị, điều hành chính phủ, quốc hội và các cơ quan chiến lược của quốc gia. Nhiều chủ sở hữu là tổ chức, doanh nghiệp khoa học - công nghệ nắm giữ vị trí then chốt, có ảnh hưởng, chi phối kinh tế của quốc gia; đồng thời, tham gia các vị trí, các khâu quan trọng của quản trị quốc gia. Điều này phản ánh vai trò của đội ngũ khoa học - công nghệ trong quản trị quốc gia.

Ở cấp độ quốc tế, quyền lực chính trị giữa các quốc gia ngày càng được xác lập thông qua năng lực sở hữu khoa học - công nghệ hiện đại. Khái niệm “Ngoại giao công nghệ” (technology diplomacy) được Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU… triển khai mạnh mẽ nhằm tiếp cận, sở hữu hoặc kiểm soát các công nghệ lõi như AI, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử… Sự cạnh tranh địa chính trị hiện nay thực chất có một phần lớn là cạnh tranh giành quyền sở hữu công nghệ chiến lược. Điều này chứng minh rằng, quyền lực mỗi quốc gia trên trường quốc tế phụ thuộc vào sở hữu khoa học - công nghệ tiên tiến và năng lực sáng tạo. Những quốc gia nắm giữ khoa học - công nghệ hiện đại, cốt lõi và năng lực sáng tạo vượt trội trở thành thế lực mới của thời đại.

Như vậy, các yếu tố cho thấy, lực lượng sản xuất mới đang tác động và tái cấu trúc quan hệ sản xuất cũng như các yếu tố liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu và hoàn thiện phương thức sản xuất mới, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của mỗi quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

2.3. Xu hướng và đặc trưng phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay, Đảng ta xác định phát triển kinh tế làm trung tâm với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đến những thành tựu phát triển vượt bậc cho đất nước. Thành tựu này khẳng định Đảng ta đã vận dụng phù hợp, sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đó là “Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ trở nên lạc hậu, kìm hãm. Mâu thuẫn giữa hai mặt này tất yếu dẫn đến việc phải cải biến quan hệ sản xuất cũ và xác lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, phù hợp với yêu cầu khách quan của lực lượng sản xuất.

Do đặc trưng, tính chất và mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, yêu cầu phải có sự tích hợp, hài hòa, không xung đột giữa tính chất phát triển của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa và giữa các thành tố cấu thành lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Do đó, Đảng ta lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện bốn thành phần kinh tế căn bản: kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong những lĩnh vực then chốt; kinh tế tập thể, mà nòng cốt là các hợp tác xã hoạt động trên cơ sở sở hữu tập thể; kinh tế tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, đây là khu vực năng động, đóng góp lớn vào tăng trưởng và tạo việc làm; kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với các doanh nghiệp có vốn góp từ nước ngoài, hiện là một động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu, chuyển giao khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.

Giải quyết yêu cầu về tích hợp, hài hòa, không xung đột giữa tính chất phát triển của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa chính là giải quyết yêu cầu này giữa kinh tế nhà nước và ba thành phần kinh tế còn lại trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Muốn vậy phải giải quyết vấn đề cốt lõi về mối quan hệ giữa phương thức sản xuất mới và quan hệ sản xuất phù hợp trong giai phát triển mới.

Cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển lực lượng sản xuất mới tất yếu yêu cầu biến đổi quan hệ sản xuất. Nhằm đạt được mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, cần giải quyết tối ưu quan hệ sản xuất mới, là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất một cách hài hòa, có sự cộng tác giữa các thành phần kinh tế hiện nay, đặc biệt là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế còn lại của nền kinh tế quốc dân.

2.4. Những yêu cầu bảo đảm phát triển lực lượng sản xuất mới của đất nước trong giai đoạn mới

Xác lập và phát triển các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi của Việt Nam trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các vấn đề toàn cầu luôn nảy sinh phức tạp, đòi hỏi mỗi quốc gia phải lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp. Việt Nam xác định rõ quan điểm “tự chủ chiến lược” để đạt được mục tiêu phát triển đề ra. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Việt Nam cần lựa chọn chiến lược phát triển lực lượng sản xuất mới dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ của ngành, lĩnh vực cốt lõi nào để phù hợp với bối cảnh của đất nước; phá vỡ thế phụ thuộc vào khoa học - công nghệ nước ngoài, giữ vững độc lập, tự chủ.

Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều lợi thế nhưng cũng không ít khó khăn, hạn chế. Mặt mạnh là vị trí và vị thế địa chính trị; nhân lực có khả năng thích ứng nhanh với khoa học - công nghệ hiện đại; hệ sinh thái khởi nghiệp tăng trưởng mạnh. Đặc biệt, đường lối lãnh đạo của Đảng ta về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia rất quyết liệt và tập trung. Hạn chế chủ yếu nằm ở nền tảng khoa học - công nghệ cốt lõi còn yếu, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) thấp, thiếu nhân lực trình độ cao và phụ thuộc lớn vào công nghệ nhập khẩu. Tuy vậy, cơ hội rất lớn khi ba yếu tố trụ cột phát triển tương lai của thế giới là trí tuệ nhân tạo tổng hợp, thương mại điện toán lượng tử, năng lượng và vật liệu thông minh đều là lĩnh vực mà Việt Nam có thể “đi tắt, đón đầu”, tận dụng làn sóng đầu tư quốc tế và nhu cầu chuyển đổi xanh để kiến tạo và phát triển ba yếu tố này. Thách thức nằm ở cạnh tranh toàn cầu khốc liệt, nguy cơ tụt hậu và thiếu vốn cho nghiên cứu cơ bản, phát triển và chuyển giao công nghệ cốt lõi. Vì vậy, Việt Nam cần tập trung phát triển mạnh, chuyên sâu vào ba trụ cột khoa học - công nghệ cốt lõi này để tạo lợi thế chiến lược và nâng cao vị thế quốc gia trong 20 năm tới. Cụ thể:

Thứ nhất, phát triển khoa học - công nghệ về năng lượng Hydro xanh và vật liệu lượng tử

Công nghệ năng lượng Hydro xanh đang mở ra cơ hội chiến lược để Việt Nam bứt phá trong 20 - 30 năm tới. Đây là hướng đi chủ đạo của chuyển dịch năng lượng toàn cầu, phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và là nền tảng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia của Việt Nam. Việt Nam sở hữu lợi thế tự nhiên với trữ lượng nước biển vô hạn, tạo nguyên liệu đầu vào là H2O để sản xuất Hydro xanh; đó là điện mặt trời dồi dào, điện gió ngoài khơi quy mô lớn và đường bờ biển dài, giúp tạo ra nguồn điện sạch và đủ lớn cần thiết để sản xuất Hydro xanh với chi phí ngày càng cạnh tranh. Hydro xanh còn có khả năng tích hợp với các công nghệ chiến lược như lưu trữ năng lượng, amoniac xanh, thép xanh, nhiên liệu hàng hải, hàng không và hệ thống pin nhiên liệu, từ đó hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới và giá trị gia tăng cao. Đồng thời, Việt Nam có cơ hội trở thành nguồn cung Hydro xanh cho Nhật Bản, Hàn Quốc và EU... Vì vậy, Hydro xanh là lựa chọn tối ưu để nâng cấp nền kinh tế và khẳng định vị thế năng lượng tương lai của Việt Nam.

Ngành vật liệu lượng tử là lĩnh vực then chốt mở ra kỷ nguyên công nghệ mới với ứng dụng sâu rộng trong điện tử, y sinh, năng lượng và viễn thông. Việt Nam có ưu thế về nguồn nhân lực trẻ, năng động cùng các trung tâm nghiên cứu phát triển đang từng bước hình thành. Vật liệu lượng tử cho phép chế tạo thiết bị siêu dẫn, cảm biến cực nhạy và chất bán dẫn thế hệ mới, giúp nâng cao năng lực công nghệ trong các ngành công nghiệp trọng điểm như sản xuất chíp bán dẫn, hàng không, vũ trụ, y sinh...Cơ hội phát triển ngành này còn nằm ở khả năng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các cường quốc nghiên cứu lượng tử. Tập trung phát triển khoa học - công nghệ vật liệu lượng tử sẽ giúp Việt Nam gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu, tạo bước đột phá về khoa học - công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong tương lai gần.

Thứ hai, phát triển phát triển khoa học - công nghệ về thương mại điện toán lượng tử

Thương mại điện toán lượng tử là lĩnh vực mang tính đột phá, khai thác sức mạnh xử lý vượt trội của máy tính lượng tử để giải quyết các bài toán phức tạp trong kinh doanh và công nghiệp. Việt Nam có lợi thế về nguồn nhân lực am hiểu công nghệ thông tin và sự phát triển nhanh của hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ cao. Việc phát triển thương mại điện toán lượng tử giúp nâng cao năng lực tối ưu hóa chuỗi cung ứng, tăng cường bảo mật thông tin và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nhiều ngành kinh tế. Cơ hội lớn đến từ việc thu hút đầu tư quốc tế, hợp tác chuyển giao công nghệ và tận dụng xu hướng toàn cầu về điện toán lượng tử thương mại. Đầu tư vào lĩnh vực này không chỉ giúp Việt Nam gia nhập chuỗi giá trị công nghệ cao mà còn tạo bước đệm quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số. Vì vậy, phát triển khoa học - công nghệ về thương mại điện toán lượng tử là hướng đi chiến lược cần được ưu tiên.

Thứ ba, phát triển khoa học - công nghệ về trí tuệ nhân tạo tổng hợp

Trí tuệ nhân tạo tổng hợp (AGI) là bước tiến vượt bậc, hướng tới hệ thống máy móc có khả năng hiểu, học hỏi và giải quyết vấn đề đa dạng, tương tự như con người. Việt Nam sở hữu nguồn nhân lực công nghệ năng động cùng sự phát triển nhanh của cộng đồng nghiên cứu AI, tạo nền tảng vững chắc để đón đầu công nghệ này. Đặc biệt, AGI được phát triển nhờ tích hợp công nghệ lượng tử, tạo nên sự cộng hưởng và hội tụ công nghệ đột phá mà Việt Nam cần tận dụng để phát triển. Việc đầu tư vào AGI sẽ giúp tăng cường năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong y tế, giáo dục, sản xuất và dịch vụ... Cơ hội đến từ thu hút đầu tư quốc tế, hợp tác nghiên cứu toàn cầu và ứng dụng trong chuyển đổi số quốc gia. Mặc dù có những thách thức về kỹ thuật nhưng phát triển khoa học - công nghệ về AGI sẽ nâng cao vị thế công nghệ của Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và hội nhập sâu rộng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Xác lập quan hệ sở hữu, vai trò chủ đạo và kiến tạo của thành phần kinh tế nhà nước trong phát triển các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi của Việt Nam trong giai đoạn mới

Trong quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữa các thành phần kinh tế quốc dân cần được điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất mới ở nước ta trong giai đoạn mới. Kinh tế nhà nước cần trở thành chủ sở hữu các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi của đất nước trong giai đoạn mới. Trong điều kiện phát triển mới của đất nước, ba thành phần kinh tế còn lại của nước ta rất khó đảm nhiệm vai trò chủ thể phát triển các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi; bởi lẽ, một phần do nguồn lực chưa đủ lớn, một phần mục tiêu phát triển của các thành phần này hướng vào lợi ích của tư nhân, nhóm, một giai tầng trong xã hội chứ không hướng vào mục tiêu phi lợi nhuận, phục vụ giá trị công, chưa đủ sức bảo đảm lợi ích trên phạm vi rộng của toàn xã hội, quốc gia, dân tộc.

Xác lập vai trò chủ sở hữu các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi của kinh tế nhà nước nhằm tạo ra điểm cân bằng và tương thuộc giữa các thành phần kinh tế, tạo ra tính ổn định vĩ mô của nền kinh tế quốc dân; vừa là điểm tựa, trụ đỡ đối với các thành phần kinh tế còn lại khi khủng hoảng xã hội, vừa là môi trường kiến tạo phát triển các thành phần kinh tế còn lại trong điều kiện xã hội ổn định. Khi kinh tế nhà nước là chủ sở hữu các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi sẽ tạo nền tảng cho Nhà nước tự chủ về khoa học - công nghệ cốt lõi, tạo tiền đề và nền tảng vững chắc để thực hiện “tự chủ chiến lược” trong giai đoạn phát triển mới.

Vấn đề đặt ra là, xác lập quyền chủ sở hữu các ngành khoa học - công nghệ cốt lõi của thành phần kinh tế nhà nước bằng cách nào để bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước. Điều này yêu cầu chủ thể kinh tế nhà nước phải phát triển các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất với các chủ thể của các thành phần kinh tế còn lại dựa trên nguyên tắc cộng tác hài hòa, chia sẻ lợi ích và thông qua phương thức đối tác công tư (PPP) để cùng sở hữu, triển khai phát triển các lợi ích chung. Để đủ sức hấp dẫn và thu hút các tập đoàn khoa học - công nghệ hàng đầu trong nước, thế giới tham gia hợp tác PPP với kinh tế nhà nước thì cần đa dạng cách thức trao đổi giá trị giữa các đối tác liên quan. Kinh tế nhà nước cần xác lập các nguồn lực, giá trị hợp tác đa dạng, tích hợp, tổng hợp như: vị thế địa chính trị, thể chế ổn định và hiện đại, nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn tài chính, nguồn dữ liệu số, thông tin và chính sách ưu đãi của quốc gia... Các nguồn lực và giá trị này cần phải được tích hợp, cộng hưởng để nâng giá trị nội địa trên khu vực và toàn cầu, cần vận dụng để trao đổi, bảo lãnh chéo, bảo đảm hợp tác PPP an toàn, hiệu quả, chất lượng đối với tất cả các thành phần, đối tác kinh tế liên quan.

Tăng cường vai trò nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ cốt lõi cho các doanh nghiệp nhà nước

Trong các loại hình hoạt động của kinh tế nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước là trung tâm cho sự phát triển kinh tế, do đó, các doanh nghiệp này cần xác lập vai trò là chủ sở hữu khoa học - công nghệ cốt lõi của quốc gia. Những năm qua, các doanh nghiệp này chủ yếu tập trung thực hiện vai trò chuyển giao, ứng dụng công nghệ mà chưa tập trung vào vai trò nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ, đặc biệt là còn khoảng cách rất xa để nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ cốt lõi; thiếu cố kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ. Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,5% - 0,7% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (khoảng 2,3% GDP)(16) Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ tuy có gia tăng về số lượng, nhưng thiếu hụt nhà khoa học đầu ngành có khả năng dẫn dắt và tạo ra hướng nghiên cứu mới để triển khai nhiệm vụ quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế...Chất lượng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ trong doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có trình độ đại học (đạt 75%), trong khi tỷ lệ có trình độ tiến sĩ chỉ chiếm 1%(17).

Do đó, trong thời gian tới cần tái cấu trúc chức năng, tăng cường vai trò nghiên cứu, sáng tạo khoa học - công nghệ của các doanh nghiệp nhà nước để phát triển tối ưu khoa học - công nghệ cốt lõi đã đề cập. Hình thành các tổ chức nghiên cứu, học tập và đổi mới sáng tạo liên tục trong các doanh nghiệp này để có khả năng liên tục đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ cốt lõi, vừa tạo thế chủ động, vừa có thể hợp tác với các đối tác trên toàn cầu.

Cần xác lập và hoàn thiện chức năng, vai trò “kiến tạo” cho doanh nghiệp nhà nước để phát triển tối ưu hệ sinh thái khoa học - công nghệ của quốc gia dựa trên quyền sở hữu khoa học - công nghệ cốt lõi. Theo đó, cần kiến tạo phương thức cộng tác giữa doanh nghiệp nhà nước với các thành phần, đối tác kinh tế trong nước và quốc tế, gắn với cơ chế, chính sách mở, phù hợp với pháp lý của các quốc gia và quốc tế để thu hút đầu tư cho khoa học - công nghệ. Ngoài chức năng, vai trò “chủ đạo”, doanh nghiệp nhà nước cần xác lập thêm vai trò “bảo trợ rủi ro” cho hệ sinh thái khoa học - công nghệ quốc gia. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ đại diện cho Nhà nước đứng ra bảo trợ, bảo lãnh về nguồn lực cho các dự án lớn, hợp tác PPP về khoa học - công nghệ với các đối tác liên quan trong nước và quốc tế, đặc biệt là các tập đoàn khoa học - công nghệ hàng đầu thế giới. Nếu thỏa mãn yêu cầu này, các tập đoàn này sẽ đánh giá sự an toàn, hạn chế rủi ro và quyết định hợp tác, đầu tư khoa học - công nghệ cốt lõi và tiên tiến tại Việt Nam.

Để thực thi tốt vai trò nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ cốt lõi của các doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu then chốt là phải có đội ngũ nhân sự chất lượng cao. Do đó, công tác thu hút, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này là quan trọng và cấp bách. Muốn vậy, các doanh nghiệp nhà nước phải có chính sách đặc thù, thu hút nhân sự chất lượng cao không chỉ là người Việt Nam mà còn là công dân toàn cầu. Cần có cơ chế, chính sách sử dụng nhân sự hấp dẫn, kiến tạo môi trường làm việc, cộng tác, chia sẻ để tương tác tri thức và kỹ năng về khoa học - công nghệ cốt lõi giữa chuyên gia Việt Nam và quốc tế. Để đột phá trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học - công nghệ cốt lõi, doanh nghiệp nhà nước cần hình thành các dự án hợp tác đầu tư phát triển khoa học - công nghệ với các đối tác công nghệ hàng đầu thế giới, vận hành tại Việt Nam hoặc ngay trên đất nước của đối tác. Điều này sẽ góp phần rút ngắn thời gian đào tạo, bồi dưỡng, thực hành và giúp cho đội ngũ chuyên gia Việt Nam từng bước nắm trọn tri thức khoa học - công nghệ cốt lõi trong thời gian ngắn nhất, tạo tiền đề để đội ngũ này tự chủ khoa học - công nghệ cốt lõi và hình thành nền tảng để đổi mới sáng tạo liên tục về khoa học - công nghệ cốt lõi.

3. Kết luận

Xu hướng và điểm hội tụ khoa học - công nghệ toàn cầu là hạt nhân và động lực phát triển của mọi quốc gia hiện đại. Việc nhận diện rõ các trụ cột công nghệ cốt lõi giúp Việt Nam định hướng chiến lược phát triển một cách linh hoạt, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc thù quốc gia. Thông qua đó, Việt Nam có thể xác định đúng mục tiêu, tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh, từ đó nâng cao năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới, sáng tạo, phát triển lực lượng sản xuất mới. Đây là nền tảng, động lực then chốt phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

_________________

Ngày nhận bài: 3-12-2025; Ngày bình duyệt: 15-01-2026;

Ngày duyệt đăng: 20-01-2026.

Email: tuanedu01@gmail.com

(1) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tập trung phát triển lực lượng sản xuất mới. https://vjst.vn.

(2), (3), (8) Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương khóa XIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr 17, 19, 23. https://lyluanchinhtri.vn.

(4) Tập Cận Bình: Phát triển các loại hình lực lượng sản xuất mới là yêu cầu tất yếu và là trọng tâm quan trọng để thúc đẩy phát triển chất lượng cao. https://www.gov.cn.

(5) Trần Huệ Linh, Tào Văn Chiêu: Những đóng góp mang tính sáng tạo trong các luận điểm quan trọng của Tập Cận Bình về phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới. DOI: 10.15918/j.jbitss1009-3370.2024.0674.

(6), (7), (9) Tôn Tình, Hoàng Triết Di: Logic lý luận và con đường hiện thực hóa phát triển kinh tế chất lượng cao được thúc đẩy bởi lực lượng sản xuất kiểu mới. DOI: 10.12677/mm.2024.148239.

(10) Wang, H., et al: Scientific discovery in the age of artificial intelligence. Nature, 620, 123 - 138. https://doi.org/10.1038/s41586-023-06221-2.

(11) Herman, D., et al: Quantum computing for finance. Nature Reviews Physics, 5, 450 - 465. https://doi.org/10.1038/s42254-023-00603-1.

(12) Peral-García, D., Cruz-Benito, J., & García-Peñalvo, F. J. (2024): Systematic literature review: Quantum machine learning and its applications. Computer Science Review, 51, 100619. https://doi.org/10.1016/j.cosrev.2024.100619.

(13) Clinton, L., et al. (2024): Towards near-term quantum simulation of materials. Nature Communications, 15, 211. https://doi.org/10.1038/s41467-023-43479-6.

(14) Bolón-Canedo, V., Alonso-Betanzos, A., & García, M. (2024): A review of green artificial intelligence: Towards a more sustainable future. Neurocomputing, 599, 128096. https://doi.org/10.1016/j.neucom.2024.128096.

(15) Loạt tỷ phú mới ‘ra đời’, AI 'vẽ' lại bản đồ tài sản toàn cầu. https://vietnamfinance.vn.

16. Thái Thanh Quý: Báo cáo tóm tắt tình hình, kết quả thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thời gian qua; quán triệt triển khai tinh thần và nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phát phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, ngày 13-1-2025.

17. Phạm Quang Chính và Phạm Thị Thanh Bình: Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ: Kinh nghiệm của một số quốc gia khu vực Đông Bắc Á, https://www.tapchicongsan.org.vn.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Lực lượng sản xuất mới và yêu cầu đặt ra đối với công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn mới
    POWERED BY