DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3214
Tóm tắt: Tự do cá nhân và ý chí chung của cộng đồng xã hội là vấn đề được Jean Jacques Rousseau bàn luận khá sâu sắc, đặc biệt trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội. Bài viết bàn về quan điểm của J.J.Rousseau về tự do cá nhân đặt trong mối quan hệ với ý chí chung của cộng đồng xã hội, qua đó gợi mở một số vấn đề xây dựng người công dân trong kỷ nguyên số hiện nay.
ThS LƯU THỊ THU HIỀN
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

1. Đặt vấn đề
Trong quan điểm của J.J.Rousseau, tự do cá nhân và ý chí chung của cộng đồng xã hội có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và quy định lẫn nhau. Ông đề cao ý chí chung của cộng đồng xã hội, xem ý chí chung chính là môi trường, là yếu tố cơ bản để thực hiện tự do cá nhân, đặt trong khuôn khổ của luật pháp. J.J.Rousseau đã có những lập luận mang tính nền tảng về tự do cá nhân và bước chuyển trạng thái tất yếu để hình thành xã hội mới. Ông đặt nền tảng cho một cách hiểu quan trọng: tự do công dân trong nhà nước cộng hòa không phải là sự tự do tùy tiện, mà là tự do trong khuôn khổ một cộng đồng chính trị hợp pháp, nơi quyền lực nhà nước được hình thành từ khế ước xã hội và được thể hiện bằng pháp luật. Do đó, tự do chân chính không đối lập với kỷ cương, mà được bảo đảm nhờ kỷ cương, bởi pháp luật chính là sự thể hiện ý chí chung hướng tới lợi ích chung.
Theo J.J.Rousseau, quá trình chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội là quá trình cá nhân “đặt” tự do của mình vào ý chí chung của cộng đồng xã hội. Sự “từ bỏ” một phần tự do tự nhiên không làm con người mất tự do, mà chuyển thành tự do đạo đức và tự do công dân, tức là tự do tự giác, có trách nhiệm, gắn với bình đẳng và công lý. Khi luật pháp phản ánh ý chí chung, nó vừa là giới hạn cần thiết, vừa là điều kiện để mọi người được sống an toàn, bình đẳng và được bảo vệ khỏi sự áp đặt của kẻ mạnh.
Trong quá trình chuyển đổi số, mối quan hệ giữa tự do cá nhân và ý chí chung của cộng đồng xã hội xuất hiện những sắc thái mới. Tự do cá nhân gắn với quyền riêng tư dữ liệu, quyền biểu đạt trên không gian mạng, quyền tiếp cận thông tin; còn ý chí chung liên quan đến an ninh mạng, trật tự số, chủ quyền dữ liệu và lợi ích công cộng. Vì vậy, yêu cầu kết hợp dân chủ với kỷ cương càng trở nên cấp thiết, nhằm vừa bảo đảm quyền tự do của công dân, vừa bảo vệ lợi ích chung và sự ổn định của xã hội số.
2. Nội dung
2.1. Tự do cá nhân và ý chí chung của cộng đồng xã hội trong tư tưởng của J.J. Rousseau
Trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, J.J.Rousseau đã có những lập luận mang tính nền tảng về tự do cá nhân. Ông lập luận rằng, con người từ bỏ trạng thái tự nhiên của mình, ủy quyền cho nhà nước qua khế ước xã hội thì họ đã biến chính mình sang trạng thái xã hội công dân. Ở trạng thái của xã hội công dân, con người có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, con người rời bỏ tự do tự nhiên để trở thành con người tự chủ, có đầy đủ phẩm chất và tư cách của người công dân.
J.J.Rousseau khẳng định, “con người phải tự mình định đoạt các phương tiện sinh tồn của mình, và do đó tự mình làm chủ lấy mình”(1). Ông phân tích từ mô hình xã hội thu nhỏ đầu tiên là gia đình, ở đó, con cái nhận được sự chăm lo của cha mẹ. Đồng thời, con cái luôn được “cột chặt” với bố mẹ để sống. Nhưng, khi đến tuổi trưởng thành, anh ta phải tự quyết định mọi việc liên quan đến cuộc sống của mình. Lúc này, cha và con hoàn toàn độc lập.
Khi mở rộng ra phân tích trên bình diện toàn xã hội, ông cho rằng sự phụ thuộc kinh tế tất yếu dẫn đến phụ thuộc chính trị và đạo đức. Một người sống nhờ đặc ân, bố thí hay quyền lực của kẻ khác, dù hình thức vẫn là công dân, nhưng thực chất đã đánh mất địa vị chủ thể. Anh ta không còn được làm chủ chính mình mà phụ thuộc vào ý chí của người khác. Vì vậy, tự quyết định phương tiện sinh tồn chính là điều kiện nền tảng của tự do nhân cách. Tự do chân chính chỉ xuất hiện trong trật tự chính trị hợp pháp, nơi cá nhân vừa là người tuân thủ luật pháp, vừa là chủ thể tạo ra luật pháp, nghĩa là anh ta phải trở thành công dân tích cực của nhà nước.
Theo J.J.Rousseau, các cá nhân phải liên kết với nhau để tạo sức mạnh tập thể và điều khiển các quá trình xã hội. Không ai khác, chính họ phải là chủ nhân sáng tạo xã hội. Trong trạng thái mới, con người là chủ nhân, là người sáng tạo và quyết định sự tồn tại, phát triển xã hội. Người công dân tích cực phải hành động theo lý trí, theo luật pháp do chính mình cùng cộng đồng xây dựng.
Hai là, con người rời bỏ tự do tự nhiên để chuyển sang thành tự do trong chính trị.
Trong Bàn về khế ước xã hội, J.J.Rousseau khẳng định rằng, con người không đánh mất tự do khi bước vào xã hội chính trị, mà thực chất là chuyển hóa tự do tự nhiên sang hình thức tự do chính trị. Đây là một trong những tư tưởng cốt lõi làm nên giá trị bền vững của học thuyết khế ước xã hội.
Khi còn là con người tự nhiên, họ tự do với những hành động bản năng mạnh mẽ để sinh tồn. Đó là những con người có nhiều ham muốn, nhu cầu và lợi ích của chính mình: “trong trạng thái tự nhiên, mọi cái đều là chung cho mọi người, tôi chẳng phải làm gì cho những người mà tôi không hứa hẹn gì với họ. Tôi chỉ nhận làm cho người khác cái gì mà tôi thấy bổ ích cho tôi”(2).
Với trạng thái tự nhiên mông muội, con người chỉ có giới hạn về sức mạnh thể lực và hành động bản năng. Họ tự do, muốn làm gì thì làm. J.J.Rousseau giả định rằng: “có một lúc nào đó các trở lực gây hại cho sự sinh tồn của con người có thể lấn át sự kháng cự của từng cá nhân, lúc đó, tình trạng nguyên thuỷ sẽ không còn nữa, loài người sẽ bị tiêu diệt nếu họ không thay đổi cách sống”(3). Họ sẽ phải lựa chọn, hoặc sống trong môi trường tự nhiên mông muội kia và đối mặt với muôn vàn thử thách khó khăn, thậm chí mang tính sống còn; hoặc họ trao quyền tự nhiên của mình cho cộng đồng và nhận về “một giá trị tương đương với cái mình đã cống hiến”(4). Ở trạng thái tự nhiên, con người phụ thuộc vào sức mạnh cá nhân nên cuộc sống của họ không được bảo đảm hoàn toàn trước các vấn đề xảy ra. Người yếu bị người mạnh áp chế. Với sức mạnh thể lực cá nhân, họ tự do theo ý chí giống như những cá nhân khác. Ở đó, ai có sức mạnh, kẻ đó chiến thắng, dù tất cả những gì thiên nhiên ban tặng là công bằng như nhau. Trong giới hạn của tự do tự nhiên, con người không có sức mạnh của số đông vì nó không có quyền hợp pháp, không có tư cách công dân. Vì vậy, trong chế độ tư hữu cạnh tranh và bất bình đẳng xuất hiện, tự do tự nhiên không còn là điều kiện của hạnh phúc mà trở thành nguồn gốc của xung đột.
J.J.Rousseau đã phân tích tính tất yếu của bước chuyển trạng thái cuộc sống con người, để họ trở thành công dân thực thụ, được hưởng những quyền tự nhiên hợp pháp. Quá trình ấy có được khi các cá nhân trong cộng đồng tự nguyện chuyển quyền lực tự nhiên của mình cho cộng đồng. Họ gạt bỏ đi những ham muốn bản năng cá nhân để nhận về những giá trị lớn lao hơn. Ý chí cá nhân gặp nhau khi họ cùng hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Ý chí chung hình thành. J.J. Rousseau cho rằng, con người phải từ bỏ tự do tự nhiên để khi con người gia nhập vào ý chí chung thì “cá nhân có thể có ý chí riêng không giống hoặc trái với ý chí chung mà anh ta với tư cách công dân, cũng mang ý chí chung đó”(5) vì “Lợi ích riêng có thể nói với anh ta không như tiếng nói của lợi ích chung. Không có tập thể thì cá nhân anh ta vẫn tồn tại một cách tuyệt đối và độc lập”(6).
Theo J.J.Rousseau, tự do chính trị không phải là muốn gì làm nấy, mà là tuân theo luật pháp do chính mình cùng cộng đồng đặt ra. Ở đây, con người vừa là người tuân thủ luật, vừa là chủ thể làm ra luật. Do đó, việc tuân theo luật không còn là sự lệ thuộc, mà là biểu hiện của tự trị. Con người không bị thống trị bởi ý chí cá nhân nào, mà bởi ý chí chung – tức lợi ích chung của cộng đồng: “Tuy mất đi một vài lợi thế trong trạng thái tự nhiên, nhưng con người thu lại những lợi thế lớn hơn: năng khiếu được vận dụng và phát triển, tư tưởng mở rộng ra, tình cảm cao quý thêm, tâm hồn được nâng lên đến mức mà nếu hoàn cảnh hiện tại có hạ anh ta xuống thấp kém hơn hoàn cảnh trước kia, thì anh vẫn cứ phải cảm tạ cái thời điểm dứt anh ta ra khỏi giới động vật ngu muội và hạn chế để vĩnh viễn trở thành loài thông minh, thành một con người(7).
Quá trình gia nhập vào ý chí chung, họ gạt bỏ đi những ham muốn bản năng cá nhân để nhận về những giá trị lớn lao hơn. Ý chí cá nhân gặp nhau khi họ cùng hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Ý chí chung hình thành. “Ý chí chung chỉ tính đến lợi ích chung; ý chí của mỗi người lại nhìn vào lợi ích riêng và chỉ là tổng số những ý chí riêng lẻ. Nếu trừ đi những ý chí riêng lẻ xung khắc nhau quá quắt thì số dư sẽ là ý chí chung”(8). Do vậy, mỗi người tự hiến dâng cho mọi người chứ không cho riêng ai, thì sẽ không một thành viên nào giành được đặc quyền; mọi người thu về một giá trị tương đương với cái mình đã cống hiến; và họ có thêm lực để bảo toàn cái mà họ có. Nhưng con người không thể tạo ra lực mới, mà chỉ có thể kết hợp và điều khiển những lực sẵn có; cho nên phương pháp duy nhất để con người tự bảo vệ là họ phải kết hợp lại với nhau thành một lực lượng chung, được điều khiển bằng một động cơ chung, khiến cho mọi người đều hành động một cách hài hòa”(9).
Như vậy, trước những biến động của tự nhiên, con người cần dựa vào nhau, dựa vào sức mạnh cộng đồng để bảo đảm sự sinh tồn của chính họ. Trong quá trình ấy, một bản khế ước được ký kết để không ai phải chịu sự chi phối của người khác. Họ tự nguyện chuyển trao những lợi ích, quyền tự nhiên của họ để tạo lập nên cái chung cho tất cả mọi người. Quyền lực này thuộc về cộng đồng. Cộng đồng sẽ dùng sức mạnh ý chí chung để bảo vệ cho các cá nhân. Trong trạng thái mới, cá nhân được cộng đồng bảo vệ bằng những quy ước. Ông giải thích rằng, những quyền tự nhiên của con người khi trao cho cộng đồng thì họ “vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình”(10). Song, ý chí cá nhân luôn tồn tại dựa trên bản năng vốn có của mỗi người và đôi khi dẫn họ đến những hành động vị kỷ gây tổn hại đến cộng đồng.
Xét đến cùng, xã hội không thể để các cá nhân tự do hành động, muốn làm gì thì làm vì lợi ích. “Nếu như xã hội được lập ra vì có mâu thuẫn giữa các lợi ích riêng, thì một khi các lợi ích riêng được hài hoà, xã hội mới có thể tồn tại. Đó là do trong các lợi ích khác nhau vẫn có cái chung tạo thành mối liên hệ xã hội”(11). Chính sự hài hoà về lợi ích là cơ chế cho xã hội tồn tại. Nếu không tìm được điểm chung cho các lợi ích cá nhân thì xã hội sẽ bị phá vỡ, con người sẽ quay trở lại với trạng thái tự nhiên. “Mỗi người chúng ta tự đặt mình và quyền lực của mình dưới sự điều khiển tối cao của ý chí chung, và chúng ta tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể”(12).
Ba là, tự do của công dân phải trên cơ sở kỷ cương, trật tự và pháp luật.
J.J.Rousseau khẳng định, ý chí chung không phải sự áp đặt của một cá nhân hay một nhóm lợi ích nào khác. Các cá nhân được tự do, bình đẳng, không ai có quyền đứng trên người khác. Luật pháp sẽ quy định mọi hành vi của con người. Luật pháp là công cụ hữu hiệu để bảo vệ cho quyền công dân, bảo đảm sức mạnh của ý chí chung. Con người vừa là chủ thể sáng tạo luật pháp, vừa là người tuân thủ theo những điều luật mà mình tạo lập. Ông khẳng định, “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ, mà tuân theo quy tắc tự mình đặt ra lại là tự do”(13). Với ông, luật pháp hình thành từ chính dân chúng vì họ là những người hợp thành xã hội nên chỉ có họ mới có quyền đưa ra các quy định và xử lý các vấn đề của xã hội. “Lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới”(14). J.J.Rousseau cho rằng, khi con người chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái công dân tức là họ đặt con người trong mối ràng buộc với xã hội, với cộng đồng, rằng “mỗi người ràng buộc với tất cả vì tất cả ràng buộc với mỗi người”(15). Vì vậy, nếu trong xã hội không có pháp luật, không có trật tự, thì không thể có tự do công dân, mà chỉ có tự do bản năng dẫn tới hỗn loạn và áp bức. Pháp luật, kỷ cương ở đây phải được coi như là điều kiện để có được tự do của con người. Luật pháp, kỷ cương chính là ý chí chung trong lập luận của J.J.Rousseau, đó chính là lợi ích chung của cộng đồng. Họ thoả thuận với nhau để hướng đến lợi ích cao cả nhất và dùng sức mạnh ấy để bảo vệ cho các thành viên được tự do, bình đẳng như nhau.
Bằng khế ước xã hội, con người được là chính mình, tuân theo những quy ước mà mình đặt ra, không phụ thuộc ý chí của người khác. Xã hội mới hình thành từ ý chí chung của cộng đồng sau khi đã gạt bỏ những ý chí cá nhân riêng lẻ. Con người tạo nên cơ thể chính trị trung gian để điều hành, quản lý tất cả các quá trình xã hội. Các bộ phận, các cơ quan chuyên trách dần dần đi vào hoạt động với trách nhiệm thuộc về những cá nhân được trao quyền. Vai trò chủ thể của con người đối với bộ máy nhà nước cũng được ông phác thảo rõ nét. J.J.Rousseau giả thiết rằng, nếu như chính phủ không bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng, xâm phạm đến lợi ích cá nhân thì dân chúng có quyền bãi miễn, thay thế chính phủ, vì “Những người được ủy thác nắm quyền hành pháp không phải là ông chủ nhân dân mà chỉ là những công chức”(16).
Để bảo đảm cho tự do của công dân trở thành tự do chính trị thì bản thân mỗi con người phải là công dân có trách nhiệm, họ phải có hành vi thể hiện đạo đức, trách nhiệm của người công dân. Ông muốn nhấn mạnh về hành vi có tính đạo đức của con người với cộng đồng. Với tư cách là công dân, con người phải hành động vì cộng đồng, tôn trọng lợi ích và quyền của những cá nhân khác để có được tự do đúng nghĩa. Hành động của con người vì cộng đồng cũng chính là vì bản thân họ. Trong cộng đồng, khế ước xã hội quy định sự bình đẳng giữa các công dân; mọi người đều phải cam kết những điều kiện như nhau và được hưởng quyền ngang nhau. Ý chí chung ràng buộc các công dân, đến mức mà cơ quan quyền lực tối cao chỉ cần biết dân tộc nói chung, không cần phân biệt bất cứ một thành viên riêng lẻ nào(17).
2.2. Một số giá trị tham khảo trong xây dựng công dân tích cực của thời đại chuyển đổi số
Một là, lý luận của J.J.Rousseau đã chỉ báo rằng: tự do của một cá nhân hay một cộng đồng không thể tồn tại nếu con người không được làm chủ đời sống vật chất và quyền quyết định của chính mình.
Tự do không phải là trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của một trật tự xã hội công bằng, nơi con người vừa là người lao động độc lập, vừa là chủ thể chính trị. Họ được khai thác, tiếp cận các nguồn lực như nhau và được pháp luật bảo vệ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và kinh tế tri thức, quyền làm chủ phương tiện sinh tồn ngày nay không chỉ là đất đai, tài nguyên, nguồn lực tài chính, máy móc… mà còn là các vấn đề về tri thức, kỹ năng, khả năng lưu giữ những giá trị văn hóa cộng đồng dân tộc, khả năng tiếp cận công nghệ và cơ hội phát triển. Ở trạng thái mới, những biểu hiện của nguồn lực xã hội phong phú hơn, kéo theo tác động đến tự do của công dân cũng có những biến đổi nhất định. Giá trị truyền thống hiện hữu cho thấy, những giá trị trên không gian mạng lại có những biểu hiện riêng và khả năng tiếp cận của mỗi cá nhân cũng không giống nhau. Sự phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các cá nhân, vùng miền tác động trực tiếp đến giá trị thực tiễn của tự do mà họ nhận được. Trong bối cảnh mới, nếu cá nhân không sử dụng các nguồn lực này, sẽ có thể rơi vào vòng lệ thuộc mới, dù hình thức xã hội đã thay đổi.
Hai là, trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số và hình thành công dân số đang là đòi hỏi bức thiết của người dân. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ cao người dùng mạng xã hội trên các nền tảng khác nhau. Bối cảnh kỷ nguyên số hoá đặt người dùng trước nhiều vấn đề, đòi hỏi sự hiểu biết và ý thức trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, để xây dựng môi trường không gian mạng trong sạch và an toàn.
Trên không gian số, nếu mỗi người dân chỉ đòi hỏi ở trạng thái tự do tự nhiên - tức tự do phát ngôn, tự do hành động không giới hạn thì xã hội sẽ rơi vào hỗn loạn: tin giả lan tràn, quyền riêng tư bị xâm phạm, thế giới số, thế giới ảo sẽ lấn lướt và thao túng hành vi con người, làm tổn thương con người mạnh hơn và con người khó phục hồi hơn khi bị những tổn thương đó… Đây là thực tế mà Việt Nam và thế giới đã, đang phải chứng kiến. Những thông tin trên không gian mạng tác động rất lớn đến cuộc sống, hành vi của con người.
Thực tế, các cá nhân rất dễ bị thao túng tâm lý bởi đám đông và bị điều hướng bởi thuật toán. Không gian mạng là ảo nhưng tác động đến cuộc sống là thực. Không ít người dùng rơi vào trạng thái hoang mang bởi các bài viết, video trên mạng. Họ vô tình bị lôi cuốn bởi tâm lý đám đông và gây ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân của người khác, ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Như vậy, quyền tự do tự nhiên này sẽ làm tổn thương nghiêm trọng con người. Do vậy, cần phải có bước chuyển từ “tự do tự nhiên số” sang “tự do chính trị số”, tức là tự do số cũng phải trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức và trách nhiệm công dân số.
Con người chỉ thực sự tự do khi họ làm chủ dữ liệu của mình, hiểu và kiểm soát công nghệ, tham gia vào việc xây dựng các quy tắc chung của không gian số. Nếu không, họ chỉ là đối tượng bị quản trị, chứ không phải chủ thể của chuyển đổi số. Quan điểm của J.J.Rousseau về vấn đề này vẫn có giá trị tham khảo trong bối cảnh chuyển đổi số, đó là: Tự do của con người trong không gian số là một hình thức tự do mang tính nhân văn bao trùm xã hội rộng lớn, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà có tính toàn cầu.
Thứ ba, tự do của công dân trong thời đại chuyển đổi số không phải là tự do không giới hạn
Hiện nay, nhiều người dân, nhất là giới trẻ có nhận thức rằng, trên không gian số, họ được tự do là chính mình, tự do theo đuổi lợi ích cá nhân, xã hội. Tình trạng này diễn ra sẽ làm cho không gian số nhanh chóng rơi vào tình trạng nhiễu loạn thông tin, lan truyền tin giả, tin bịa đặt, bạo lực mạng, xâm phạm đời tư và thao túng dư luận. Khi đó, tự do của người này trở thành sự xâm phạm, làm tổn hại đến người khác. Thực trạng đó đòi hỏi Việt Nam phải ban hành một hệ thống pháp luật liên quan đến toàn bộ nền tảng số. Đặc biệt, phải nhanh chóng đưa vào cuộc sống hệ thống pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư và quyền tiếp cận thông tin công bằng. Việc lộ lọt thông tin đã và đang diễn ra, đặt người dùng trước những mối hiểm nguy khôn lường. Pháp luật về an ninh mạng, về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và về trách nhiệm trên không gian mạng, trên các nền tảng số chính là hình thức tồn tại mới của ý chí chung trong thời đại số.
Công dân số hiện nay không chỉ yêu cầu đơn thuần là người sử dụng công nghệ. Họ phải là người tham gia vào việc hình thành các quy tắc quản trị trên không gian số. Điều này đòi hỏi mỗi cá nhân phải có tri thức số, năng lực pháp lý số và đạo đức số. Khi công dân hiểu biết và tham gia xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh số, pháp luật số mới phản ánh được ý chí chung; ngược lại, nếu luật chơi số do các tập đoàn công nghệ quyết định, thì tự do công dân sẽ bị thay thế bằng sự phụ thuộc công nghệ. Nếu chỉ một bộ phận có khả năng tiếp cận tri thức, dữ liệu và công nghệ thì tự do số sẽ trở thành đặc quyền. Do đó, chuyển đổi số phải gắn với phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số hoá và bảo đảm mọi công dân đều có điều kiện tham gia đời sống số hóa với tư cách bình đẳng.
Việc chọn lọc và khai thác thông tin cần được thực hiện thận trọng hơn. Cùng với việc xây dựng, thực thi Luật An ninh mạng, nhân dân cũng luôn phải tự bảo vệ mình. Việc trang bị cho mình kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin là điều cần thiết, bên cạnh đó, việc lưu trữ, khai thác, chia sẻ thông tin cũng luôn cẩn trọng. Hành xử lý trí, văn minh chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần xây dựng không gian số an toàn, lợi ích chung và lợi ích cá nhân được bảo đảm.
Việc nhấn mạnh đến kỷ cương trong thời đại chuyển đổi số không phải là gia tăng sự kiểm soát chặt chẽ và khắc nghiệt mà mục tiêu chính là thúc đẩy sự tự giác tuân thủ các chuẩn mực chung: tôn trọng sự thật, tôn trọng quyền riêng tư, tôn trọng nhân phẩm và tôn trọng pháp luật.
Việc nhấn mạnh đến kỷ cương trong thời đại chuyển đổi số không phải là gia tăng sự kiểm soát chặt chẽ và khắc nghiệt mà mục tiêu chính là thúc đẩy sự tự giác tuân thủ các chuẩn mực chung: tôn trọng sự thật, tôn trọng quyền riêng tư, tôn trọng nhân phẩm và tôn trọng pháp luật. Khi mỗi công dân tự giác hành động trong khuôn khổ, xã hội số sẽ vận hành ổn định mà không cần đến sự cưỡng chế thường xuyên. Xã hội hiện nay đòi hỏi sự tôn trọng nhân quyền cao. Chuyển đổi số không được biến con người thành đối tượng bị giám sát, bị phân loại và bị điều khiển bởi chính những ứng dụng của chuyển đổi số. Điều đó đòi hỏi nhà nước phải quản trị công nghệ bằng pháp luật và công dân phải giám sát quyền lực công nghệ bằng trách nhiệm xã hội.
3. Kết luận
J.J.Rousseau là nhà triết học nhân văn có ảnh hưởng sâu rộng, nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, đặc biệt từ những người chú ý đến các vấn đề về con người, công dân và nhà nước. Trong tư tưởng của ông, khái niệm “ý chí chung” giữ vị trí trung tâm, được coi như nguyên lý tối thượng để bảo đảm tính chính danh của quyền lực chính trị và định hướng cho việc tổ chức đời sống cộng đồng. Trên nền tảng đó, J.J.Rousseau chủ trương xây dựng mô hình nhà nước cộng hòa, trong đó nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực, có quyền tham gia quyết định các vấn đề chung, đồng thời được bảo đảm điều kiện để tự do phát triển và thể hiện năng lực của chính mình.
Điểm đặc sắc trong quan niệm của J.J.Rousseau là ông không tách rời tự do cá nhân khỏi trật tự chung của cộng đồng. Tự do, theo nghĩa đúng đắn, không phải là sự tùy tiện, mà là khả năng sống và hành động theo những chuẩn mực hợp lý do chính cộng đồng chính trị hợp pháp đặt ra. Khi luật pháp phản ánh đúng ý chí chung, nó vừa là giới hạn cần thiết để ngăn ngừa sự áp đặt của kẻ mạnh, vừa là cơ chế bảo vệ bình đẳng và công lý, giúp mỗi cá nhân được thừa nhận, được tôn trọng và được bảo đảm quyền lợi chính đáng. Vì vậy, xã hội dân chủ, theo tinh thần J.J.Rousseau, phải đồng thời là xã hội kỷ cương, nơi các chuẩn mực chung được xây dựng minh bạch, được tôn trọng và thực hiện một cách tự giác.
Trong bối cảnh xã hội phát triển mạnh mẽ và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, tự do cá nhân ngày càng được coi trọng với những nội dung mới, như quyền tiếp cận thông tin, quyền biểu đạt trên không gian mạng, quyền riêng tư và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đồng thời, ý chí chung cũng biểu hiện đa dạng hơn thông qua các yêu cầu về an ninh mạng, đạo đức số, trách nhiệm công dân số, chủ quyền dữ liệu và lợi ích công cộng. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa tự do cá nhân và ý chí chung trở nên phong phú, đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và điều chỉnh hài hòa bằng thể chế, pháp luật và văn hóa.
Từ góc độ đó, quan điểm của J.J.Rousseau về tự do cá nhân và ý chí chung của cộng đồng mở ra những gợi ý quan trọng cho việc xây dựng hình ảnh người công dân trong kỷ nguyên số: biết làm chủ bản thân, tôn trọng pháp luật, có năng lực số, có trách nhiệm xã hội, và biết dung hòa quyền lợi cá nhân với lợi ích cộng đồng. Đây là cơ sở góp phần củng cố nền dân chủ đi đôi với kỷ cương, tạo động lực cho phát triển đất nước nhanh và bền vững trong điều kiện mới.
_________________
Ngày nhận bài: 15-01-2026; Ngày bình duyệt: 22-01-2026; Ngày duyệt đăng: 22-01-2026.
Email tác giả: hienluu1412@gmail.com
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17) Jean Jacques Rousseau: Bàn về khế ước xã hội, (Hoàng Thanh Đạm dịch), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006, tr.53, 95, 66, 67, 72, 72, 73, 84, 66, 66 - 67, 79, 68, 74, 100, 89, 187, 89.