Thực tiễn

Nâng cao hiệu quả xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật ở nước ta hiện nay

12/01/2026 10:54

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.1772
Tóm tắt: Bài viết đánh giá và khẳng định, những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật, đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn, chỉ ra những hạn chế và thách thức; qua đó, đề xuất các giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa văn hóa - nghệ thuật ở nước ta hiện nay.

TS LÊ VĂN LIÊM
Học viện Chính trị Khu vực III

Bữa tiệc thị giác
Sự tham gia tích cực của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như các tổ chức xã hội vào việc phát triển văn hóa - nghệ thuật đã hình thành nên mạng lưới sản phẩm và dịch vụ văn hóa nghệ thuật đa dạng, phong phú_Ảnh: Show diễn Ký ức Hội An

1.Mở đầu

Định hướng xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật được xem là quá trình nhằm thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia sáng tạo, cung cấp và phổ biến các sản phẩm văn hóa thông qua các hoạt động văn hóa. Hiệu quả của quá trình này tạo điều kiện cho văn hóa đổi mới để phát triển, thúc đẩy sự sáng tạo và đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Như vậy, xã hội hóa văn hóa - nghệ thuật thực chất là sự “vận động và tổ chức nhằm thu hút toàn xã hội, mọi lực lượng trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động sáng tạo, cung cấp và phổ biến văn hóa, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, phong phú và nâng cao dần mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa”(1).

2. Nội dung

2.1. Chủ trương, chính sách đối với công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật

Kết quả của xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật không chỉ tạo động lực kinh tế mới mà còn tạo sự chuyển đổi mang tính đột phá về tư duy quản lý văn hóa, từ hình thái độc quyền nhà nước chuyển sang quá trình huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tư nhân và cộng đồng xã hội để phát triển sáng tạo, phổ biến và thưởng thức các sản phẩm văn hóa - nghệ thuật. Sự chuyển đổi đó dẫn đến “những giá trị vật chất dần nhường chỗ cho sức mạnh mềm và bản sắc văn hóa, vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển văn hóa càng trở nên nổi bật và cần thiết hơn bao giờ hết. Họ là những người dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm và mở đường; là lực lượng tiên phong đưa văn hóa Việt ra thế giới bằng những bước đi táo bạo, sáng tạo và linh hoạt”(2).

Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong giai đoạn sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975 - 1985) dưới sự quản lý tập trung của Nhà nước, với nguồn lực chủ yếu từ ngân sách. Trọng tâm của hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất tuyên truyền về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, phản ánh đời sống lao động sản xuất,… Các tổ chức như Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam,… cùng với các nhà xuất bản như Nhà xuất bản Âm nhạc, Nhà xuất bản Văn học đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng nội dung và phân phối sản phẩm văn hóa để phục vụ cho các hoạt động văn hóa. Khái niệm “xã hội hóa” chưa xuất hiện trong bối cảnh lịch sử này nên đã có không ít khó khăn về phương thức sáng tác, phân phối, tiêu dùng. Vì thế, tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật” trong đó có lĩnh vực văn hóa của Đại hội VI của Đảng (năm 1986) được xem là bước ngoặt lịch sử, đánh dấu sự đổi mới toàn diện để văn hóa phát triển cùng với đất nước.

Chủ trương, chính sách “cởi trói” đã được khẳng định rõ trong Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Nhiều nội dung mới về: khuyến khích sự tự do sáng tạo, phá bỏ những rào cản cũ và đặc biệt mở cửa cho sự tham gia của các lực lượng xã hội đã đổi mới xu hướng phát triển của văn hóa.

Từ định hướng này, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tư nhân tham gia vào các hoạt động sản xuất nghệ thuật, biểu diễn, xuất bản,… Bước chuyển này phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm văn hóa với tư cách là một dạng hàng hóa đặc biệt được sản xuất, lưu thông và tiêu dùng thông qua thị trường. Vận động song song cùng với các tác phẩm nghệ thuật là hoạt động du lịch, văn hóa, vui chơi giải trí và nhiều hoạt động văn hóa khác cũng trở thành những dịch vụ được cung cấp từ những nhà sản xuất,tác giả sáng tạo đến với công chúng theo quy luật của thị trường.

Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới đã chủ trương “Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật, làm rõ các lĩnh vực cần xã hội hóa, lĩnh vực Nhà nước và nhân dân cùng làm, lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư bảo tồn, xây dựng và phát triển”. Kết luận 84-KL/TW ngày 21-6-2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, một lần nữa khẳng định vai trò của xã hội hóa trong việc huy động nguồn lực, kết hợp giữa quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng.

Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 5-4-2025 của Bộ Chính trị đã chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, xác định đây là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Nghị quyết nhấn mạnh: “xác định doanh nhân là người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”; “Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có ý chí khát vọng vươn lên, có đạo đức, bản lĩnh, văn hóa kinh doanh, trách nhiệm xã hội và tinh thần dân tộc sâu sắc”(3). Nội dung của chủ trương này tạo động lực để các doanh nghiệp văn hóa tư nhân có điều kiện nghiên cứu thị trường, thăm dò thị hiếu công chúng và mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực văn hóa có thể bảo đảm các yêu cầu cụ thể mà họ đặt ra.

2.2. Thực trạng xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật

Từ những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước, xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật đã phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn; nổi bật ở trong các lĩnh vực như: nghệ thuật biểu diễn, festival nghệ thuật quốc tế, xuất bản, bảo tồn di sản văn hóa… Sự ra đời của các công ty tư nhân trong lĩnh vực xuất bản như: Alpha Books, Thaihabooks, Phương Nam Book,… hay sự tham gia của khu vực tư nhân vào sản xuất phim, biểu diễn sân khấu và âm nhạc, tổ chức triển lãm,… đã tạo nên một bức tranh sống động, thay đổi mô hình hoạt động phụ thuộc vào ngân sách nhà nước như trước đây. Nhiều sản phẩm văn hóa - nghệ thuật đạt hiệu quả cao cả trên phương diện nghệ thuật lẫn thương mại. Những sản phẩm về điện ảnh như: Áo lụa Hà Đông, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Bố già, Mai, Lật mặt; về âm nhạc như: Anh trai vượt ngàn chông gai, MV Bắc Bling; hay các Lễ hội Âm nhạc quốc tế Gió Mùa, Liên hoan phim quốc tế, Festival Huế và đặc biệt là Lễ hội pháo hoa Đà Nẵng đã ghi nhận sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tạo nên sự giao thoa văn hóa trong và ngoài nước.

Từ thực tế cho thấy, những kết quả tích cực mà công tác xã hội văn hóa mang lại được thể hiện ở các góc độ sau:

Một là, về phương diện kinh tế, các ngành công nghiệp văn hóa đã có bước phát triển mới, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của đất nước

Năm 2024, ngành công nghiệp văn hóa đóng góp hơn 4% GDP(4), trong đó khối tư nhân có đóng góp mạnh mẽ ở lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh. Nhiều chương trình âm nhạc “cháy vé” với sự tham gia của hàng vạn khán giả, điển hình như chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai, Anh trai say hi. Doanh thu phòng vé điện ảnh Việt Nam tăng từ 1.800 tỷ đồng (năm 2015) lên hơn 4.700 tỷ đồng (năm 2024), trong đó có 05 phim đạt doanh thu cao nhất là: “Mai (551 tỷ đồng), Lật mặt 7: Một điều ước (482 tỷ đồng), Exhuma: Quật mộ trùng ma (212 tỷ đồng), Doraemon: Nobita và bản giao hưởng địa cầu (147,5 tỷ đồng) và Godzilla x Kong: Đế chế mới (140 tỷ đồng)”(5). Bên cạnh đó, sự xuất hiện từ “Sự nhập cuộc của những doanh nghiệp cũng như các đơn vị có khả năng tổ chức các lễ hội âm nhạc có những ngôi sao quốc tế lớn đã giúp nâng tầm vị thế của đất nước, con người Việt Nam cũng như đưa năng lực tổ chức sự kiện của Việt Nam lên tầm cao mới”(6) đã mở ra xu hướng mới cho ngành du lịch - du lịch âm nhạc.

Hai, xã hội hóa văn hóa là một bước tiến trong việc thực hiện chính sách “cởi trói”, tạo không gian để văn nghệ sĩ phát triển tiềm năng sáng tạo, xây dựng và hoàn thiện kỹ năng kinh doanh trên nhiều loại hình sản phẩm gắn với sự cạnh tranh lành mạnh từ thị trường

Xã hội hóa văn hóa đã tạo nên sự bứt phá mới. Các nghệ sĩ độc lập tham dự vào thị trường ngày càng đông đảo, tạo ra nhiều làn sóng âm nhạc mới, như: Đen Vâu, Sơn Tùng M-TP... Theo đó, “Thời kỳ nhạc số phát triển, nghệ sĩ có thể tự học, tự làm nhạc, tự thu âm, tự phát hành, tự quảng bá trên kênh truyền thông của họ...”(7). Các loại hình nghệ thuật truyền thống, như: ca trù, múa rối nước,… phát triển hơn từ sự đầu tư của các doanh nghiệp hay các tổ chức phi chính phủ. Đặc biệt, đầu tư của kinh tế tư nhân đã tạo điều kiện cho phát triển nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội việc làm trong nhiều lĩnh vực. Theo Ngân hàng Thế giới, ngành công nghiệp sáng tạo đóng góp từ 3 - 5% GDP toàn cầu và tạo ra hàng triệu việc làm(8).

Những năm qua, gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sáng tạo như VNG, FPT… đang mở ra cơ hội nghề nghiệp lớn cho giới trẻ trong các lĩnh vực sáng tạo như: truyền thông đa phương tiện, thủ công mỹ nghệ, game, thiết kế đồ họa, phim hoạt hình,… Sự phát triển đó vừa góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.

Ba, xã hội hóa nâng tầm quá trình hội nhập quốc tế trong hoạt động văn học, nghệ thuật

Nhiều doanh nghiệp tư nhân, trong xu thế phát triển mới đã đổi mới tư duy trong việc khai thông nguồn vốn, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa nên đã đưa các loại hình sản phẩm văn hóa đến gần hơn với công chúng. Các công ty như: Galaxy, BHD, Yeah1,… đã lựa chọn mô hình phát triển phù hợp nên từng bước khẳng định thương hiệu trong lĩnh vực truyền thông và điện ảnh, tạo sức lan tỏa trong quá trình tổ chức biểu diễn và giao lưu văn hóa ở nước ngoài.

Hơn nữa, “nhiều doanh nghiệp đã tự mình đứng ra kiến tạo sản phẩm văn hóa, đầu tư bài bản từ khâu nghiên cứu thị trường, xây dựng nội dung, thiết kế sản phẩm đến truyền thông và phân phối. Họ không chỉ mang lại doanh thu cho nền kinh tế mà còn góp phần lan tỏa giá trị văn hóa Việt, nâng tầm vị thế quốc gia trên bản đồ văn hóa thế giới”(9). Từ đó, xuất hiện ngày càng nhiều các hợp tác liên doanh theo nhiều hình thức với các đối tác nước ngoài có chất lượng như: các Lễ hội âm nhạc quốc tế, festival nghệ thuật quốc tế, Liên hoan phim quốc tế…

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình xã hội hóa văn hóa ở Việt Nam vẫn đối diện với nhiều hạn chế và thách thức:

Thứ nhất, sự thay đổi mang tính đột phá nhằm tác động và đem lại hiệu quả trong chủ trương xã hội hóa văn hóa của Nhà nước vẫn chưa cao. Việc tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Nhà nước giữa hai khu vực công lập và tư nhân vẫn chưa thật sự công bằng. Cơ chế đầu tư công của Nhà nước chưa phát huy rõ vai trò “dẫn dắt” cho đầu tư của tư nhân trên thị trường nên chưa tạo ra động lực cho các cá nhân, nhóm hay cộng đồng phát triển. Chính sách khuyến khích, ưu đãi, tạo điều kiện cho các thành phần xã hội tham gia đầu tư phát triển văn hóa nghệ thuật vẫn chưa đổi mới kịp thời. Sự mất cân đối trong đầu tư giữa các lĩnh vực, tạo ra “vách ngăn” giữa nghệ thuật hiện đại và nghệ thuật truyền thống.

Bên cạnh những sản phẩm âm nhạc, điện ảnh được các nhà đầu tư tư nhân đem lại nguồn thu hàng trăm tỷ đồng, thì các loại hình nghệ thuật truyền thống như: chèo, tuồng, cải lương… chưa được đầu tư thỏa đáng, không đủ kinh phí để tổ chức hoạt động. Quy mô hoạt động của nhiều đoàn nghệ thuật truyền thống bị giảm sút và có nguy cơ giải thể. Điều này cho thấy, thực chất nguồn lực đầu tư dồi dào từ quá trình xã hội hóa cho đến hiện nay vẫn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,…); ở các khu vực khác, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chất lượng. Thực trạng này không chỉ dẫn đến khoảng cách trong tiếp cận sản phẩm văn hóa ngày càng gia tăng mà còn làm cho các giá trị văn hóa truyền thống ở nhiều địa phương bị mai một do không được đầu tư thỏa đáng.

Thứ hai, lợi dụng quá trình xã hội hóa, một số nhà đầu tư tư nhân đã thương mại hóa quá mức, làm suy giảm chất lượng nghệ thuật của các sản phẩm. Các doanh nghiệp tư nhân thường chú trọng đầu tư vào những dự án có lợi nhuận tức thì, trong khi các tổ chức xã hội và cộng đồng chưa được huy động hiệu quả. Do vậy, có không ít sản phẩm xuất hiện trong đời sống văn hóa thiếu chuẩn mực, khô khan về ý tưởng và chỉ mang tính giải trí đơn thuần. Sự tràn lan của những game show truyền hình, sách ngôn tình, nhạc thị trường,… đã trở thành vấn nạn hiện nay. Sự dễ dàng tiếp nhận sản phẩm văn hóa, nghệ thuật thiếu chọn lọc; sự thờ ơ hoặc phản biện yếu kém của công chúng đã tiếp tay cho các sản phẩm phản văn hóa này có cơ hội phát triển mạnh.

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích xã hội hóa, nhưng sự chồng chéo, không đồng bộ trong nhiều khâu từ quản lý, sáng tác, quảng bá, tổ chức biểu diễn và hưởng thụ sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đã tác động không lành mạnh đến nhu cầu thưởng thức giá trị chân, thiện, mỹ đích thực trong đời sống văn hóa của toàn xã hội. Như vậy, nội dung xã hội hóa văn học, nghệ thuật bên cạnh việc mang lại những hiệu ứng tích cực trong môi trường văn hóa mới, vẫn còn nảy sinh những hạn chế cần thiết phải điều tiết cho phù hợp, tránh dẫn đến những hệ lụy lâu dài.

2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa văn hóa - nghệ thuật hiện nay

Để công tác xã hội hóa văn hóa - nghệ thuật đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, cần thực hiện các giải pháp:

Một là, Nhà nước cần có cơ chế và chế tài đủ mạnh trong kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường văn hóa - nghệ thuật, tạo sức hấp dẫn và sự thu hút của thị trường đối với các thành phần xã hội. Một mặt, cần tiến hành kiểm soát nhằm ngăn chặn thương mại hóa quá mức, nâng cao chất lượng nghệ thuật và đặc biệt xử lý vấn đề cốt lõi của thị trường văn hóa - nghệ thuật về điều tiết và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người sản xuất, phân phối hàng hóa với người tiêu dùng và bảo vệ bản quyền.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý gắn liền với các tiêu chí rõ ràng, minh bạch trong đánh giá chất lượng nội dung sản phẩm, cơ chế hậu kiểm hay xử lý các sản phẩm phản văn hóa. Xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm trên cơ sở xem xét tăng mức phạt hay công khai danh tính cá nhân, đơn vị để răn đe, góp phần ngăn chặn tái phạm.

Hai là, xây dựng, hoàn thiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) gắn liền với phục hồi và phát triển các nghệ thuật truyền thống. Hỗ trợ các nhà hát nghệ thuật truyền thống như: chèo, cải lương, tuồng,... hợp tác với doanh nghiệp để tổ chức các chương trình biểu diễn định kỳ, kết hợp với du lịch văn hóa nhằm giảm sự chênh lệch đầu tư giữa các lĩnh vực văn học, nghệ thuật.

Để quá trình hợp tác được lâu dài, bền vững, cần có chính sách mở, phù hợp hơn về thuế, nguồn vốn… cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư. Mặt khác, khi các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án xã hội hóa lớn, đạt nguồn thu cao, cần có quy định phù hợp để họ dành một tỷ lệ kinh phí cho công tác bảo tồn di sản văn hóa. Do đó, kết quả của hợp tác ba bên, gồm: Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng nhằm phát huy hiệu quả từ các nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình xã hội hóa văn hóa.

Ba là, hiện thực hóa chủ trương về rút ngắn khoảng cách hưởng thụ văn hóa - nghệ thuật của nhân dân giữa các vùng miền, trên cơ sở Nhà nước phân bổ nguồn lực hợp lý, xây dựng chính sách ưu tiên đầu tư xã hội hóa để các doanh nghiệp tư nhân đầu tư có hiệu quả ở các vùng nông thôn, miền núi.

Thời gian qua, đã có một số doanh nghiệp tổ chức chương trình biểu diễn lưu động hay xây dựng các thư viện cộng đồng tại các vùng sâu, vùng xa phục vụ nhân dân. Để nhân rộng và phát triển các chương trình có ý nghĩa này, cần có sự hỗ trợ về kinh phí, thuế, đất đai… tạo cơ hội cho doanh nghiệp tự tin hơn trong việc xây dựng các dự án đầu tư.

3. Kết luận

Nhận thức mới và những quan điểm phù hợp về xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật đã tạo động lực trong việc tìm kiếm những phương thức mới nhằm hiện thực hóa chủ trương quan trọng này trên thực tiễn, góp phần đem lại những kết quả tích cực và sự phát triển mới trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật. Sự tham gia tích cực của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như các tổ chức xã hội vào việc phát triển văn hóa - nghệ thuật đã hình thành nên mạng lưới sản phẩm và dịch vụ văn hóa nghệ thuật đa dạng, phong phú, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và quyền tham gia văn hóa - nghệ thuật của công dân theo đúng nghĩa là chủ thể sáng tạo văn hóa ở nước ta hiện nay.

_________________

Email tác giả: llevanliem427@gmail.com

Ngày nhận: 18-6-2025; Ngày bình duyệt: 12-7-2025; Ngày duyệt đăng: 12-12-2025.

(1) Đinh Xuân Dũng: Xã hội hóa hoạt động văn hóa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Hà Nội, 2000.

(2), (9) Bùi Hoài Sơn: Kinh tế tư nhân đối với sự phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, vanhoanghethuat.vn, ngày 23-03-2025.

(3) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 68 - NQ/TW ngày 5-4-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

(4) Xem: Quốc Tuấn: Các ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp hơn 4% GDP quốc gia, baoquangnam.vn, ngày 21-11-2024.

(5) Lan Hương: 4.700 t đồng doanh thu phòng vé: Kỷ lục mới của thị trường phim ảnh Việt Nam, tuoitre.vn, ngày 03-01-2025.

(6) Đậu Dung: Du lịch âm nhạc ở Việt Nam: Dám mơ lớn sau loạt sự kiện có tầm, tuoitre.vn, ngày 08-12-2024.

(7) Đậu Dung: Rộng đường nghệ sĩ indie, tuoitre.vn, ngày 29-10-2023.

(8) Xem: Bùi Hoài Sơn: Kinh tế tư nhân với phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, daibieunhandan.vn, ngày 21-03-2025.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nâng cao hiệu quả xã hội hóa hoạt động văn hóa - nghệ thuật ở nước ta hiện nay
    POWERED BY