Thực tiễn

Nghệ An thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

15/09/2026 09:11

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Nghệ An đã tăng cường cụ thể hóa chính sách, quản lý và kiểm soát ô nhiễm tại các khu, cụm công nghiệp. Tỉnh khuyến khích đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách còn gặp khó khăn về công nghệ xử lý chất thải, nguồn lực. Do đó, cần thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách, góp phần thực hiện hài hòa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển bền vững.

ThS ĐƯỜNG XUÂN TÙNG
Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

i.ex-cdn.com-danviet.vn-files-content-2026-06-10-_z7906203572643_3e11dea5307dfc3aa7c5223c44538748-0615.jpg
Ngư dân phường Cửa Lò (Nghệ An) ký cam kết chung tay bảo vệ môi trường biển tại Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đại dương thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, tháng 62026_Ảnh: BM

1. Mở đầu

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân, nhưng đồng thời cũng gia tăng áp lực lên tài nguyên, môi trường và hệ sinh thái. Vì vậy, thực hiện hiệu quả chính sách bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu tất yếu nhằm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Đối với Nghệ An, yêu cầu này càng cấp thiết trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển công nghiệp, đô thị hóa, khai thác tài nguyên và chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu.

Những năm qua, Nghệ An đã tăng cường hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo vệ môi trường; chú trọng kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng xanh. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chính sách vẫn còn những hạn chế trong kiểm soát ô nhiễm tại khu, cụm công nghiệp, năng lực xử lý chất thải và nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Bài viết tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2020-2025, làm rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, góp phần phát triển công nghiệp theo hướng xanh và bền vững. Nghiên cứu dựa trên phân tích, tổng hợp số liệu thứ cấp từ các báo cáo, văn bản chính sách và tài liệu liên quan, kết hợp đánh giá thực tiễn tại địa phương.

2. Nội dung

2.1. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An

Các chính sách về bảo vệ môi trường trong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Giai đoạn 2020-2025, chủ trương, chính sách bảo vệ môi trường ở Việt Nam từng bước chuyển từ kiểm soát ô nhiễm sang chủ động phòng ngừa, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy tăng trưởng xanh. Chủ trương của Đảng được thể chế hóa tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tạo nền tảng pháp lý quan trọng, yêu cầu lồng ghép bảo vệ môi trường vào quy hoạch, dự án đầu tư, phát triển khu, cụm công nghiệp và quản lý chất thải.

Nghệ An đã cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương bằng Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 02/3/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2022-2030 và Kế hoạch số 509/KH-UBND ngày 14/7/2022 của UBND tỉnh. Các nhiệm vụ tập trung vào phòng ngừa, giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm, kiểm soát và xử lý các khu vực ô nhiễm, nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc triển khai được thực hiện ở các địa phương cho thấy, chính sách bảo vệ môi trường từng bước được cụ thể hóa thành nhiệm vụ quản lý thường xuyên.

Một bước phát triển quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường ở Nghệ An là, triển khai Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Kế hoạch số 687/KH-UBND ngày 04/9/2024, gắn yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, quản lý chất thải với Quy hoạch của tỉnh; hướng tới phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Từ năm 2025, khung chính sách tiếp tục được bổ sung theo hướng thúc đẩy đầu tư xanh. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, tạo cơ sở để nhận diện, khuyến khích và huy động nguồn lực cho các dự án đáp ứng yêu cầu môi trường. Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 04/9/2025 phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030, đặt mục tiêu phát triển năng lực công nghệ, doanh nghiệp và thị trường dịch vụ môi trường, qua đó mở thêm dư địa cho các địa phương, trong đó có Nghệ An, phát triển công nghiệp môi trường gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nghị định số 235/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung chính sách khuyến công đã mở rộng đối tượng và nội dung hỗ trợ đối với cơ sở sản xuất áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, cũng như chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp. Đây là cơ sở chính sách có ý nghĩa đối với quá trình chuyển đổi công nghệ và phương thức sản xuất theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm tác động môi trường.

Trong quá trình thực hiện, Nghệ An đã tăng cường thẩm định hồ sơ môi trường, cấp phép, kiểm tra và giám sát các cơ sở sản xuất. Năm 2023, tỉnh tổ chức thẩm định 148 báo cáo đánh giá tác động môi trường, trình phê duyệt 40 báo cáo và cấp 21 giấy phép môi trường; số thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đạt 1,41 tỷ đồng. Những kết quả này cho thấy công tác quản lý môi trường đã từng bước được đưa vào quá trình xem xét, cấp phép và vận hành các dự án công nghiệp.

Kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Giai đoạn 2020-2025, công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Nghệ An, đồng thời tạo yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo vệ môi trường. Năm 2025, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 13,35%, riêng công nghiệp tăng 14,54%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 16,47%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,21%. Quy mô và cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng hiện đại, với sự gia tăng của các ngành điện tử, linh kiện, thiết bị công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ (Phùng Thành Vinh, 2026, tr.8-9).

Định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh ngày càng gắn với yêu cầu công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thân thiện với môi trường. Kế hoạch phát triển năm 2025 của tỉnh xác định ưu tiên thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng lớn; đồng thời yêu cầu sản xuất dựa trên khoa học - công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Dòng vốn đầu tư mới, nhất là FDI, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp. Nhiều dự án trong lĩnh vực điện tử, quang học, linh kiện và thiết bị công nghệ cao được triển khai tại các khu công nghiệp như VSIP, WHA và Hoàng Mai. Trong đó có các dự án lớn của Luxshare-ICT, Goertek, Sunny Optical và một số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tạo nền tảng cho quá trình hiện đại hóa sản xuất và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Cùng với mở rộng sản xuất, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong khu kinh tế, khu công nghiệp được tăng cường. Theo kết quả giám sát việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, 6/6 khu công nghiệp đang hoạt động năm 2025 đã được đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường. 5/6 khu công nghiệp đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục và truyền dữ liệu cho cơ quan quản lý để theo dõi. Đồng thời, 100% dự án đầu tư mới được phê duyệt hồ sơ, thủ tục môi trường trước khi đi vào hoạt động (baonghean.vn, 2025).

Nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu được quan tâm. Giai đoạn 2022-2024, tỉnh bố trí hơn 623 tỷ đồng, đầu tư 14 dự án về biến đổi khí hậu và 36,54 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho các hoạt động bảo vệ môi trường (Thái Quảng, 2025).

Quản lý chất thải từng bước được triển khai theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Toàn tỉnh phát sinh khoảng 1.843,58 tấn chất thải rắn sinh hoạt/ngày; tỷ lệ thu gom, xử lý đạt 97,6% ở khu vực đô thị và 85,15% ở khu vực nông thôn (Phan Thị Thúy Vinh, 2025). Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về môi trường được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và cộng đồng.

Như vậy, cùng với quá trình mở rộng quy mô công nghiệp, yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng được tích hợp vào quá trình lựa chọn dự án, cấp phép, xây dựng hạ tầng và vận hành các cơ sở sản xuất. Đây là bước chuyển từ xử lý ô nhiễm sang tăng cường phòng ngừa và kiểm soát môi trường ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa.

Một số hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở Nghệ An trên một số chỉ tiêu vẫn chưa theo kịp yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số chỉ tiêu cải thiện chậm: năm 2024, tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý triệt để đạt 88%, chỉ tăng nhẹ so với 87% năm 2022; tỷ lệ điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật được lập dự án xử lý mới đạt 44,8%; tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn chỉ 40%; tỷ lệ cơ sở y tế có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn là 88,9%. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đáp ứng yêu cầu môi trường cũng chưa ổn định, đạt 79,08% năm 2024 (Phan Thị Thúy Vinh, 2025).

Quản lý chất thải rắn vẫn là điểm nghẽn trong bảo vệ môi trường. Với lượng phát sinh khoảng 1.843,58 tấn/ngày, hệ thống phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của tỉnh chưa đồng bộ; công nghệ chôn lấp còn phổ biến, một số địa điểm tập kết chưa bảo đảm yêu cầu và việc xử lý chất thải sau phân loại còn hạn chế. Một số dự án xử lý chất thải triển khai chậm hoặc công nghệ chưa thật sự phù hợp với điều kiện địa phương. Khoảng cách về hạ tầng môi trường giữa khu công nghiệp và cụm công nghiệp cũng khá rõ: trong khi các khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tỷ lệ này tại cụm công nghiệp mới đạt 40%. Đây là vấn đề cần được quan tâm khắc phục, nhất là đối với các cơ sở sản xuất nhỏ, làng nghề và khu vực sản xuất phân tán.

Nguyên nhân của những hạn chế trên là: nguồn lực tài chính và công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế; đầu tư cho xử lý chất thải chưa đáp ứng nhu cầu; năng lực giám sát ở một số địa bàn chưa đồng đều; ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp và cơ sở sản xuất chưa cao. Bảo vệ môi trường đòi hỏi nguồn vốn lớn, hạ tầng môi trường đồng bộ, hệ thống thiết bị công nghệ phù hợp và sự phối hợp liên ngành chặt chẽ. Hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào chất lượng văn bản mà còn quyết định bởi năng lực tổ chức thực hiện, nguồn lực bảo đảm và trách nhiệm của các chủ thể thực thi.

2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định định hướng phát triển Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia, trong đó chú trọng công nghiệp công nghệ cao, hạ tầng hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu. Vấn đề đặt ra đối với Nghệ An không chỉ là tiếp tục hoàn thiện chính sách, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm nguồn lực và tăng trách nhiệm của các chủ thể, để bảo vệ môi trường được tích hợp ngay từ quy hoạch, lựa chọn dự án, đầu tư hạ tầng đến vận hành sản xuất. Theo đó, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế thực hiện chính sách và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường

Nghệ An cần tiếp tục chuyển từ tư duy xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa ô nhiễm, gắn yêu cầu môi trường ngay từ khâu quy hoạch, lựa chọn dự án, đầu tư hạ tầng và đổi mới công nghệ. Đồng thời, cần ưu tiên nguồn lực cho các cụm công nghiệp còn thiếu hệ thống xử lý nước thải, các điểm ô nhiễm tồn đọng và hoàn thiện hạ tầng quản lý chất thải. Đây là điều kiện để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng và bảo đảm phát triển bền vững.

Tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn mới, đồng thời rà soát, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước, Ban Quản lý Khu kinh tế và chủ đầu tư hạ tầng. Cần chuyển mạnh từ quản lý hành chính đơn thuần sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro; tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và xử lý thông tin môi trường giữa các cấp, ngành, các địa phương nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của chính quyền, cộng đồng, người dân. Đây là điều kiện quyết định để chính sách được thực thi thống nhất và hiệu quả.

Hai là, ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp.

Hạ tầng môi trường chưa đồng bộ là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm giảm hiệu quả thực hiện chính sách. Vì vậy, cần ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn và quan trắc môi trường, trước hết tại các cụm công nghiệp còn thiếu hệ thống xử lý tập trung. Đối với các khu, cụm công nghiệp mới, hạ tầng môi trường phải được đầu tư đồng bộ ngay từ đầu và coi là điều kiện thiết yếu để tiếp nhận dự án. Việc quy hoạch, mở rộng khu, cụm công nghiệp cần gắn với khả năng tiếp nhận và xử lý chất thải, bảo đảm không tạo thêm áp lực môi trường cho khu dân cư và hệ sinh thái.

Ba là, huy động nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn.

Hạn chế về tài chính và công nghệ khiến nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó đầu tư hệ thống xử lý và đổi mới thiết bị. Tỉnh cần đa dạng hóa nguồn vốn từ ngân sách, tín dụng xanh, đầu tư tư nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác; đồng thời có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tái sử dụng nguyên liệu. Các chính sách khuyến công, trong đó có Nghị định 235/2025/NĐ-CP, cần được khai thác hiệu quả để hỗ trợ cơ sở sản xuất áp dụng sản xuất sạch hơn, máy móc tiên tiến và công nghệ thân thiện với môi trường. Qua đó, bảo vệ môi trường không chỉ là nghĩa vụ mà trở thành động lực nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bốn là, tập trung xử lý các điểm ô nhiễm tồn đọng và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải.

Đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, điểm tồn lưu hóa chất, bãi rác và khu vực ô nhiễm kéo dài, cần xây dựng danh mục ưu tiên, xác định rõ trách nhiệm, nguồn vốn, thời hạn và công nghệ xử lý. Việc lựa chọn công nghệ phải phù hợp với đặc điểm chất thải và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, tránh đầu tư dàn trải hoặc lựa chọn công nghệ không phù hợp. Đồng thời, từng bước hoàn thiện phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn theo hướng giảm chôn lấp, tăng tái chế và tái sử dụng. Đây là giải pháp trực tiếp khắc phục tình trạng đầu tư xử lý chất thải chưa đáp ứng nhu cầu và những tồn đọng môi trường kéo dài.

Năm là, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp, cộng đồng.

Thực hiện chính sách chỉ đạt hiệu quả khi doanh nghiệp và các chủ thể liên quan nhận thức đầy đủ và tự giác tuân thủ pháp luật. Vì vậy, cần đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo hướng thiết thực, tập trung vào các quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, xả thải và quản lý chất thải. Đồng thời, kết hợp giữa hỗ trợ, hướng dẫn với thanh tra và xử lý nghiêm vi phạm; công khai mức độ tuân thủ của các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm. Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và người dân, góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi chính sách.

Sáu là, tăng cường phối hợp liên ngành và kiểm soát môi trường toàn quá trình

Việc xử lý các vấn đề môi trường có tính liên ngành, liên địa bàn, do đó cần khắc phục tình trạng phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Bảo vệ môi trường phải được tích hợp vào quy hoạch phát triển công nghiệp, thẩm định và lựa chọn dự án đầu tư, xây dựng hạ tầng và tổ chức sản xuất. Những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm cao cần được kiểm soát chặt chẽ; ngược lại, ưu tiên dự án công nghệ cao, ít phát thải, tiết kiệm tài nguyên và có khả năng tham gia kinh tế tuần hoàn. Cách tiếp cận này giúp chuyển từ xử lý ô nhiễm sau khi phát sinh sang phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm từ đầu.

3. Kết luận

Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở Nghệ An đã có những chuyển biến tích cực, nhất là trong kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, quản lý chất thải và tăng cường yêu cầu môi trường đối với hoạt động sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chưa đồng đều; hạ tầng môi trường tại một số khu, cụm công nghiệp còn thiếu, nguồn lực và công nghệ xử lý chất thải hạn chế, một số điểm ô nhiễm tồn đọng chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi năng lực giám sát và mức độ tuân thủ pháp luật còn chưa đồng đều giữa các địa bàn, doanh nghiệp.

Trong thời gian tới, trọng tâm không chỉ là hoàn thiện chính sách mà phải nâng cao hiệu quả thực thi. Nghệ An cần ưu tiên đầu tư hạ tầng môi trường, huy động nguồn lực xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và sản xuất sạch hơn; đồng thời tăng cường thanh tra, quan trắc, chia sẻ dữ liệu và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bảo vệ môi trường cần được gắn chặt với quy hoạch, lựa chọn dự án và phát triển khu, cụm công nghiệp.

Chính sách bảo vệ môi trường sẽ trở thành một bộ phận hữu cơ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế và bảo đảm phát triển bền vững của Nghệ An.

_________________

Ngày nhận bài: 27/7/2026; Ngày bình duyệt: 4/9/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026. Email tác giả: edtc.vietnam@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Tuấn Tài (2025). Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An làm việc với UBND tỉnh về giám sát chuyên đề bảo vệ môi trường. https://dbndnghean.vn.

Văn Dũng (2023). Nghệ An hướng đến công nghiệp xanh, sạch để phát triển bền vững. https://scp.gov.vn/tin-tuc.

Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2025). Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Kim Oanh (2025). Thực hiện các nội dung Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường giai đoạn 2025 - 2030 theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. https://www.nghean.gov.vn.

Thái Quảng (2025). Nghệ An tăng cường giám sát và hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường. https://doanhnghieptiepthi.vn.

Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 Quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 04/9/2025 phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (2024). Kế hoạch thực hiện Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phan Thị Thúy Vinh (2025). Triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Thực trạng và giải pháp. https://dbndnghean.vn.

Phùng Thành Vinh (2026). Tình hình kinh tế - xã hội khởi sắc, tỉnh Nghệ Annăm 2025: Khẳng định bản lĩnh và khát vọng vươn lên. Bản tin Pháp luật và đòi sống. Sở Tư pháp Nghệ An. số 1 (2-2026).

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nghệ An thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa